1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn kinh tế luật ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô trường hải

69 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu sản xuất thì các doanh nghiệpsản xuất và lắp ráp ô tô trong nước phải nhập khẩu khá nhiều về thiết bị, phụ tùng.Hơn thế nữa, việc mở rộng quy mô ngày càng lớn của Trườ

Trang 1

Tỷ giá hối đoái là công cụ có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đốingoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệquốc gia Sự biến động tỷ giá hối đoái tác động nhiều tới hoạt động kinh tế của mỗinước, trong đó có hoạt động xuất khẩu Trong xu thế hội nhập toàn cầu, giao lưu buônbán với các quốc gia khác vô cùng cần thiết, nhận thức được điều này, trong quá trình

thực tập tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải, em chọn đề tài “Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần ô tô Trường Hải.” làm đề

tài khóa luận của mình

Khóa luận của em tập trung làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, khóa luận đã đánh giá tổng quan về tình hình biến động tỷ giá hối đoái

và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái trong giai đoạn từ 2012-2015, tổng quan

về ngành ô tô Việt Nam

Thứ hai, thông qua dữ liệu của công ty mà em đã thu thập được và đưa ra cácphân tích rõ hơn về ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh của công

ty cổ phần ô tô Trường Hải

Thứ ba, thông qua các phân tích và đánh giá về sự ảnh hưởng của biến động tỷgiá hối đoái đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải khóa luận

đã đưa ra được các đề xuất nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạtđộng kinh doanh trong thời gian tiếp theo

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2

3 Xác lập và tuyên bố đề tài 3

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu của khóa luận 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến TGHĐ và hoạt động kinh doanh 7

1.2 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và hoạt động kinh doanh 14

1.2.1 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái 14

1.2.2 Một số lý thuyết về hoạt động kinh doanh 20

1.3 Nội dung và nguyên lý phân tích ảnh hưởng của TGHĐ đến hoạt kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 36

1.3.1 Ảnh hưởn của TGHĐ đến chi phí sản xuất lắp ráp ô tô 36

1.3.2 Ảnh hưởn của TGHĐ đến doanh thu của hoạt kinh doanh của doanh nghiệp. 37

1.3.3 Ảnh hưởng của TGHĐ đến lợi nhuận của hoạt động kinh doanh 38

1.3.4 Các giải pháp công ty thực hiện nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 40

ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI 40

2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 40

Trang 3

2.1.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến biến động

TGHĐ trong thời gian qua 40

2.1.2 Tổng quan về ngành ô tô và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngành ô tô 43

2.2 Phân tích thực trạng về ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 48

2.2.1 Tổng quan tình hình hoạt động của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 48

2.2.2 Thực trạng ảnh hưởng của TGHĐ và biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 49

2.3 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 55

CHƯƠNG 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI 58

3.1 Định hướng nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất nhập khẩu của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 58

3.1.1 Dự báo về sự biến động của tỷ giá hối đoái trong thời gian tới 58

3.1.2 Kế hoạch kinh doanh và định hướng kinh doanh của công ty 59

3.2 Các đề xuất đối với công ty nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu 60

3.3 Các kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu của công ty 62

3.3.1.Kiến nghị với cơ quan quản lý vĩ mô: 62

3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng 63

3.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 65

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2012 - 2015 48

Bảng 2.2: Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2012-2015 49

Bảng 2.3 : Tốc độ tăng doanh thu và chi phí 2012-2015 52

Bảng 2.4: ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá quy đổi ngoại tệ 53

Bảng 2.5: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại của Việt Nam từ một số thị trường chính trong 7 tháng, giai đoạn 2012-2015 54

Bảng 3.1: Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 59

Biều đồ 1:Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại theo quý giai đoạn 2012-2015 40

Biểu đồ 2: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại theo quý giai đoạn 2012-2015 44

Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện quan hệ chi phí và tỷ giá hối đoái 47

Biểu đồ 4: Biểu đồ thể hiện quan hệ chi phí và tỷ giá hối đoái 50

Biểu đồ 5: thể hiện quan hệ giữa tỷ giá và doanh thu 51

Biểu đồ 6: biểu đồ thể hiện quan hệ giữa tỷ giá và lợi nhuận 52

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình lớn mạnh không ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệkinh tế quốc tế là lịch sử phát triển của tỷ giá hối đoái và vai trò của nó Cũng nhưvai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá có tác động quan trọng tớinhững biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế mỗi quốc gia nóiriêng Nó có thể thay đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốctế

Tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng củamỗi quốc gia, cho nên nó là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong nềnkinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế đang phát triển, đang từng bước hòa nhập vàonền kinh tế thế giới như Việt Nam Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến xuấtnhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, màcòn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng Trong thời gian gần đây, tỷgiá liên tục biến động, đồng Việt Nam liên tục bị mất giá gây ảnh hưởng xấu đếntình hình phát triển kinh tế Do vậy vấn đề tỷ giá đã trở thành vấn đề nóng và mốiquan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt đối với các nhà nhập khẩu nói chung vàcông ty cổ phần ô tô Trường Hải nói riêng

Việt Nam được đánh giá là một quốc gia tiêu dùng ô tô khá lớn trong khu vực.Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nhu cầu về xe tải là vô cùng lớn.Nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tạo nên một nềnsản xuất công nghiệp và hiện đại Để đáp ứng nhu cầu sản xuất thì các doanh nghiệpsản xuất và lắp ráp ô tô trong nước phải nhập khẩu khá nhiều về thiết bị, phụ tùng.Hơn thế nữa, việc mở rộng quy mô ngày càng lớn của Trường Hải cũng đòi hỏi mộtnguồn đầu vào vô cùng lớn được nhập khẩu từ các quốc gia do đó việc giao dịch và

sử dụng ngoại tệ là vô cùng cần thiết, sự biến động của tỷ giá hối đoái không thểkhông ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, trực tiếp tác động tới chiphí, doanh thu và lợi nhuận của công ty Do đó việc nghiên cứu và phân tích vàđánh giá những ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến hoạt động kinh doanh của công

Trang 6

để đưa ra những dự báo và giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động tỷ giátới hoạt động kinh doanh của công ty

Xác lập đề tài

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của TGHĐ đếnhoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải”, em đã thu thập và tìmhiểu một số công trình nghiên cứu về TGHĐ dưới các góc độ khác nhau:

1 Cao Thị Ngọc “Ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến kinh doanh nhập khẩumặt hàng thực phẩm tại công ty cổ phần thực phẩm Thiên Vương” Luận văn tốtnghiệp, khoa kinh doanh quốc tế, trường Đại Học Thương Mại, năm 2011 Luậnvăn đã đưa ra các ván đề cơ bản về chính sách tỷ giá hối đoái, thực trạng của chínhsách tỷ giá hối đoái đến hoạt động nhập khẩu của công ty, dự đoán xu hướng biếnđộng của tỷ giá hối đoái và đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của

tỷ giá hối đoái đến hoạt động nhập khẩu của công ty

2 Nguyễn Minh Dương “Giải pháp điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam”,luận văn Thạc Sỹ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 Luận văn

đã đưa ra các dự báo và giải pháp đề xuất nhằm hạn chế tác động xấu của chínhsách TGHĐ giai đoạn 2006-2009

3 PGS.TS Nguyễn Thị Quy “Phân tích ảnh hưởng của chính sách TGHĐ đốivới xuất khẩu Việt Nam”, công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, năm 2008 Côngtrình đã đề cập đến tình hình xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2008, nghiêncứu xem chính sách TGHĐ đã tác động đến hoạt động xuất khẩu này như thế nào

4 TS Lê Quốc Lý “ TGHĐ- những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ởViệt Nam”, NXB Thống Kê Hà Nội, năm 2004 Tác giả đã đưa ra những lý luận cơbản về TGHĐ, phân tích và đánh giá việc điều hành TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn2000-2004

5 PGS.TS Nguyễn Thị Quy “ Biến động tỷ giá ngoại tệ”, NXB Khoa Học XãHội, năm 2005 Tác giả đã phân tích tình hình biến động của tỷ giá ngoại tệ, trong

đó tập trung phân tích biến động của tỷ giá VND/USD

6 Nguyễn Thị Hoa “Một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của TGHĐ đếnxuất khẩu mặt hàng dệt kim sang thị trường Mỹ và Nhật của công ty TNHH dệt

Trang 7

Vĩnh Phúc”, luận văn tốt nghiệp, khoa Kinh Tế, trường Đại học Thương mại, năm

2010 Luận văn đã xây dựng được hệ thống lý thuyết về chính sách TGHĐ, các yếu

tố môi trường vi mô, vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng dệt kimcủa công ty TNHH dệt Vĩnh Phúc

Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được các vấn đề cơ bản về TGHĐ,các chính sách TGHĐ, tác động của chính sách TGHĐ đến hoạt động kinh doanh,xuất nhập khẩu, đồng thời đưa ra các kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm hạnchế ảnh hưởng của TGHĐ, cách thức để đưa ra chiến lược, kế hoạch để dự báo về

sự biến động của tỷ giá hối đoái và cách phòng ngừa Nhưng các công trình nghiêncứu trên chỉ tập trung nghiên cứu vào những ảnh hưởng của chính sách TGHĐ màchưa nghiên cứu những ảnh hưởng của biến động TGHĐ Mặt khác, phạm vi thờigian của các công trình nghiên cứu này chủ yếu là trong giai đoạn trước năm 2010.Trên thực tế, TGHĐ từ năm 2010 đến nay đã có nhiều thay đổi lớn Chính vì vậy,

đề tài “Ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh của công

ty cổ phần ô tô Trường Hải” mà em đã chọn làm đề tài khóa luận của mình luônđảm bảo tính mới và không giống với bất cứ đề tài nào trước đó

3 Xác lập và tuyên bố đề tài

TGHĐ là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng, đặc biệttrong bối cảnh kinh tế hiện nay Tỷ giá biến động từng ngày, từng giờ và chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố: cung cầu ngoại hối, lãi suất, lạm phát, cán cân thanhtoán… Sự biến động của TGHĐ tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu nóichung mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói riêng

Xuất phát từ những lý do thực tế trên và ý nghĩa của việc nghiên cứu biếnđộng tỷ giá hối đoái, qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải, em

đã quyết định lựa chọn đề tài của mình là: “Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạtđộng kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải”

Đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

• Tình hình biến động TGHĐ của Việt Nam trong thời gian vừa qua

• Tác động của TGHĐ tới hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tôTrường Hải

Trang 8

• Một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động tỷ giá đã được ápdụng ở công ty cổ phần ô tô Trường Hải và hiệu quả của những giải pháp đó.

• Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đếnhoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu: công ty cổ phần ô tô Trường Hải và ảnh hưởng củabiến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của công ty

• Đối tượng khảo sát: mặt hàng ô tô của công ty cổ phần ô tô Trường Hải

4.2 Các mục tiêu nghiên cứu

• Về phía doanh nghiệp

Việc nghiên cứu các lý luận và thực tiễn về biến động TGHĐ và những ảnhhưởng của TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp các doanhnghiệp né tránh, khắc phục, đồng thời tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế ở mứcthấp nhất các tác đông tiêu cực mà chúng gây ra cho hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp

• Về phía Nhà nước

Thông qua việc nghiên cứu các lý luận về TGHĐ cùng với thực tiễn biến độngTGHĐ ở Việt Nam, Nhà nước có một vài mục tiêu sau:

- Ổn định nền kinh tế vĩ mô

- Chủ động trong nền kinh tế nước quốc gia, kiểm soát đồng tiền nội tệ

- Định ra hướng đi đúng đắn và phù hợp cho các doanh nghiệp, góp phần thúcđẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững

- Duy trì sản lượng và tạo công ăn việc làm

- Ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát

- Điều chỉnh chính sách tỷ giá cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tếnước ta nhằm ổn định cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế

• Đối với cá nhân người nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số kiến thức về tỷ giá và chính sách tỷ giá

- Ứng dụng lý thuyết để phân tích ảnh hưởng của TGHĐ đến hoạt động kinhdoanh sản xuất và lắp ráp ô tô, liên hệ trực tiếp tới công ty cổ phần ô tô Trường Hải,

Trang 9

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tỷ giá đến hoạtđộng kinh doanh mặt hàng này.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

- Nguồn dữ liệu trong công ty: các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinhdoanh, kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu chi phí của công ty trong 4 năm gần đây

từ phòng Kế toán-tài chính

- Nguồn dữ liệu bên ngoài công ty: gồm các ấn phẩm, tạp chí kinh tế nói vềcác chính sách tỷ giá, biến động tỷ giá, các website, sách chuyên ngành liên quanđến tỷ giá và chính sách tỷ giá

5.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

Qua phương pháp thu thập dữ liệu ở trên, các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đãđược thu thập xong và chuyển sang quá trình phân tích dữ liệu gồm:

- Phương pháp phân tích thống kê: được dùng để phân tích các dữ liệu đã thuthập được Còn đối với báo cáo tài chính của công ty, phải có quá trình phân táchcác số liệu cần dùng ra riêng với các số liệu không dùng đến

- Phương pháp phân tích tổng hợp: dùng các số liệu đã thu thập được để phântích Các phân tích đưa ra phải là các phân tích tổng hợp để có thể đưa ra các kếtluận một cách chính xác nhất

- Phương pháp dự báo: qua việc phân tích biến động của tỷ giá trong nhữngnăm gần đây, có thể đưa ra các dự báo cho sự biến động này trong các năm tới

Trang 10

Ngoài ra, em còn sử dụng phương pháp biểu đồ, phương pháp đồ thị để phântích.

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, phụ lục, khóa luận bao gồm 3 chương:

• Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tỷ giá hối đoái và phân tích ảnh hưởngcủa TGHĐ đến hoạt động kinh doanh

Chương này tập trung vào nghiên cứu những lý luận cơ bản về TGHĐ, nhữngnhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ, các chế độ TGHĐ, các công cụ của chính sáchTGHĐ…đồng thời phân tích nội dung và nguyên lý giải quyết vấn đề ảnh hưởngcủa biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần ô tô TrườngHải

• Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động kinhdoanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải

Chương này tập trung nghiên cứu tổng quan tình hình biến động tỷ giá, tìnhhình hoạt động của công ty, ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến sự ảnh hưởngcủa biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh ô tô của công ty sản xuất và lắp ráp

ô tô, thực trạng về ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động kinh doanh củacông ty cổ phần ô tô Trường Hải, từ đó đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiêncứu

• Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến độngTGHĐ đến hoạt kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải

Chương này đưa ra định hướng nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến độngTGHĐ đến hoạt kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải, các đề xuất vàkiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của TGHĐ đến hoạt động kinh doanh của công

ty sản xuất và lắp ráp ô tô và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT

ĐỘNG KINH DOANH.

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến TGHĐ và hoạt động kinh doanh

Khái niệm TGHĐ

Theo quan điểm của kinh tế học, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền

tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác Hay tỷ giá hối đoái còn đượcngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ Riêng ở

Mỹ và ở Anh, thuật ngữ này được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vịngoại tệ cần thiết để mua một đồng Đô-la hoặc một đồng bảng Anh (Trang 203,Sách Kinh tế vĩ mô, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo)

er = en ×pn / pfTrong đó: pn là chỉ số giá trong nước

pf là chỉ số giá nước ngoài

Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày13/12/2005, tại khoản 9, điều 4: “TGHĐ của đồng tiền Việt Nam là giá của mộtđồng đơn vị nước ngoài tính bằng đơn vị tiề tệ của Việt Nam”

Theo giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính, năm 2002, trang 238: “Thực chất của TGHĐ là tương quan giữa sức mua giữa các đồng tiền có thể chuyểnđổi được cho nhau”

Như vậy, có thể hiểu TGHĐ là mối quan hệ so sánh giữa các đồng tiền vớinhau, đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vịtiền tệ của nước khác Vì vậy bản chất của TGHĐ là một loại giá cả nhưng là giá cả

Trang 12

Ở Việt Nam, TGHĐ đồng Việt Nam do Ngân hàng Ngoại thương công bốtheo thông lệ quốc tế: số đơn vị tiền đồng Việt Nam cần thiết để mua một đơn vịtiền nước ngoài

Tỷ giá hối đoái còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ giữa hai tiền tệ là tỷ giá

mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng đượccoi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác Ví dụ,một tỷ giá hối đoái liên ngân hàng của yên Nhật (JPY, ¥) với đô la Hoa Kỳ (US$) là

91 có nghĩa là 91 Yên sẽ được trao đổi cho mỗi 1 USD hoặc 1 USD sẽ được traođổi cho mỗi 91 Yên Gọi là giá cả vì Tỷ giá hối đoái được xác định trong thị trườngngoại hối

Khái niệm thị trường ngoại hối:

Các nước khác nhau sẽ sử dụng các loại tiền khác nhau hay các phương thứcthanh toán khác nhau nên khi các nước mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, muốnmua một sản phẩm của một quốc gia bất kì cần có đồng tiền của quốc gia đó, thì cần

có một nơi để trao đổi tiền giữa các nước với nhau, đó chính là thị trường ngoại hối.Thị trường ngoại hối ( Forex, FX hoặc thị trường tiền tệ) là một thị trường phitập trung toàn cầu cho việc trao đổi các loại tiền Những người tham gia chính trongthị trường này là các ngân hàng quốc tế lớn Các trung tâm tài chính khắp thế giớigiữ chức năng như các neo của trao đổi giữa một loạt các loại người mua và ngườibán khác nhau Thị trường ngoại hối hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế bằng cáchcho phép chuyển đổi tiền tệ Trong một nghiệp vụ ngoại hối thông thường, một bênmua một lượng của một loại tiền tệ này bằng cách trả một lượng của một loại tiền tệkhác Thị trường ngoại hối hiện đại hình bắt đầu hình thành trong thập niên 1970sau ba thập kỷ của những hạn chế chính phủ đối với các nghiệp vụ ngoại hối

Thị trường ngoại hối là nơi thực hiện việc trao đổi mua bán ngoại hối trong đóchủ yếu là ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị bằng ngoại tệ

Như vậy, thị trường ngoại hối là thị trường quốc tế, trong đó đồng tiền củaquốc gia này có thể đổi lấy đồng tiền của quốc gia khác

Khái niệm chính sách tỷ giá:

Chính sách tỷ giá là một hệ thống các công cụ dùng để tác động cung-cầungoại tệ trên thị trường, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá nhằm đạt được các mục tiêu

Trang 13

cần thiết Hay chính sách TGHĐ là một thể thống nhất những định hướng và giảipháp của Nhà nước đảm bảo ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối nhằm đạt đượcnhững mục tiêu kinh tế-xã hội đã dự định Về cơ bản, chính sách TGHĐ tập trungchú trọng vào hai vấn đề: vấn đề lựa chọn TGHĐ (cơ chế vận động TGHĐ) và vấn

đề điều chỉnh TGHĐ

Chính sách tỷ giá có vị trí rất quan trọng trong công cụ điều tiết kinh tế củamột quốc gia, là một bộ phận hữu cơ của chính sách tiền tệ, không thể tách rời khỏichính sách ổn định tiền tệ Khi thực hiện tốt chính sách điều hành tỷ giá sẽ góp phầnđiều hành tốt các chính sách khác Chính sách tỷ giá có tác dụng tăng sức cạnhtranh của hàng hóa nội địa trên thị trường quốc tế cũng như bảo vệ ngành, lĩnh vựccần thiết trong nước Ngoài ra, chính sách tỷ giá còn góp phần tác động đến nhữngdòng chảy ngoại tệ vào mỗi quốc gia

Khái niệm hoạt động kinh doanh

Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụluôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sảnphẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để đượcnhư vậy thì các chủ thế tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh

- Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện phương thức kết quả cụthể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tếnhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường

Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:

+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh

là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp

+Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệmật thiết với nhau, đó là quan hệ các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, vớikhách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước Các mối quan hệ này giúp chocác chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mìnhngày càng phát triển

+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định chocông việc kinh doanh, không có vốn thì không thể hoạt động kinh doanh Chủ thể

Trang 14

+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận vì thế một doanhnghiệp hay cá nhân được gọi là kinh doanh hiệu quả khi lợi nhuận đem về càng cao.

- Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh

Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt độngtrong nền kinh tế, với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêuhoạt động khác nhau Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng

có các mục tiêu khác nhau Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường ở nước tahiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ( doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn ) đều

có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này mọidoanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triểndoanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xâydựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hóa cáchoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách cóhiệu quả

Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị trên, cácdoanh nghiệp phải luôn kiểm tra ,đánh giá tính hiệu quả của chúng Muốn kiểm trađánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng nhưtừng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thểkhông thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh

đó Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sảnxuất kinh doanh) là gì ? Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sảnxuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là

gì Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệuquả kinh tế :

+ Theo P Samerelson và W Nordhaus thì : "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xãhội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sảnlượng hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sảnxuất của nó" Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệuquả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lựcsản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả

Trang 15

cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng vàkhông thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.

+ Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ

lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ

đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham giavào quy trình kinh tế

+ Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữakết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểmnày là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằng cáchlấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh"Đây là quan điểmđược nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế củacác qúa trình kinh tế

+ Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế

Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vịgiá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan hệ tỷ lệgiữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào(giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tínhchất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ratrong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi làtính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người

ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tínhbằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính lànăng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tínhbằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí

Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và

sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quátrình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đểđạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh đượctính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả

Trang 16

các doanh nghiệp như sau : hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn vàcác yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quảsản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêucủa doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sảnxuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giátính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần :Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất làmối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tốđầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan hệ so sánh ở đây

có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối

Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là :

H = K - C H : Là hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ hai

- Phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp : Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng cácnguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định Các mục tiêu xã hộithường là : Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xãhội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mức sống, đảm

Trang 17

bảo vệ sinh môi trường Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụngcác nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trên phạm vi toàn bộnền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi từng vùng, từng khu vực của nền kinhtế.

Khái niệm về xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên

cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đốivới một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia

Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi hànghoá giữa các nước Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi thì các quốcgia đều quan tâm và mở rộng hoạt động này Và hiện nay, xuất nhập khẩu là hoạtđộng phổ biến cần thiết đang được sự hỗ trợ từ phía chính phủ

Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuấthiện rất lâu đời và ngày càng phát triển Tuy hình thức cơ bản là trao đổi hàng hoá

và dịch vụ giữa các nước nhưng hiện nay nó đã được biểu hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từxuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hoá phục vụ sản xuất, từ máymóc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao Tất cả các hoạt động trao đổi đóđều nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích cho các quốc gia

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gianlẫn điều kiện thời gian Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàngnăm, có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốcgia khác nhau

Khái niệm nhập khẩu

Ngược lại với xuất khẩu, nhập khẩu trong lý luận thương mại quốc tế là việcquốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói các khác, đây chính làviệc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trongnước

Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quátrình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tác trao đổi ngang giá lấy

Trang 18

tiện tệ là môi giới Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thốngcác quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày30/7/1993 của Bộ Thương Mại định nghĩa: “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn

bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ cóliên quan trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài Mục tiêu hoạt động kinh doanhnhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹthuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất laođộng, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hóa, vật tư trên thịtrường nội địa

1.2 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và hoạt động kinh doanh

1.2.1 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái

a Vai trò của TGHĐ

Thứ nhất, tỷ giá là đại lượng xác định quan hệ về mặt giá trị, so sánh sứcmua giữa các đồng tiền với nhau, hình thành nên tỷ giá trao đổi giữa các đồng tiềnkhác nhau với nhau để thuận tiện cho các giao dịch quốc tế

Thứ hai, tỷ giá có tác động to lớn đến thương mại quốc tế, xuất nhập khẩuhàng hóa, dịch vụ của một nước

Thứ ba, tỷ giá có tác động đến khía cạnh khác của nền kinh tế như: mặt bằnggiá cả trong nước, lạm phát, công ăn, việc làm, thất nghiệp…Do vậy, chính phủ củacác nước phải lợi dụng tác động này để điều tiết nền kinh tế

b Các chế độ tỷ giá hối đoái

Chế độ TGHĐ là các loại hình tỷ giá được các quốc gia lựa chọn và sử dụng,bao gồm các loại cơ bản sau: chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi tự do, chế

độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước

Chế độ tỷ giá cố định

Là chế độ trong đó tỷ giá được quyết định bởi Ngân hàng trung ương, Ngânhàng trung ương công bố mức tỷ giá chính thức và cam kết duy trì khả năng chuyểnđổi đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố dù cung cầungoại tệ trên thị trường ngoại tệ có thay đổi Khi có sự biến động thị trường, muốn

Trang 19

duy trì tỷ giá đã ấn định thì Ngân hàng trung ương phải điều hòa lượng ngoại tệ trênthị trường ngoại hối để đảm bảo cân bằng cung cầu.

Tỷ giá cố định là tỷ giá được giữ không đổi hoặc chỉ được phép dao độngtrong một phạm vi rất hẹp Nếu tỷ giá bắt đầu dao động quá nhiều thì chính phủ cóthể can thiệp để duy trì TGHĐ trong vòng giới hạn của phạm vi này Chế độ TGHĐ

cố định là một cơ chế TGHĐ được Nhà nước công bố sẽ duy trì không thay đổi tỷgiá giữa đồng nội tệ với một đồng ngoại tệ nào đó

Mục đích của việc giữ TGHĐ cố định là phải giữ tỷ giá ổn định để kiềm chếlạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của người dân vào đồng tiền nội địa.Đặc điểm của chế độ TGHĐ cố định: Nhà nước cam kết sẽ duy trì TGHĐ ởmức cố định nào đó bằng cách nếu cung trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cốđịnh thì Nhà nước đảm bảo mua hết số dư cung ngoại tệ Nếu cung trên thị trườngnhỏ hơn cầu ở mức tỷ giá cố định thì Nhà nước đảm bảo cung cấp một lượng ngoại

tệ bằng chính lượng cầu dư Nhà nước sẽ thực hiện việc mua bán lượng dư cung hay

dư cầu đó với tư cách là người mua bán cuối cùng, người điều phối Điều kiện đểthực hiện là phải có sự can thiệp của Chính phủ

Ưu điểm của tỷ giá cố định là đảm bảo sự ổn định của tỷ giá trong một thờigian dài, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, buộc các chính phủ phải hoạch định

và thực thi các chính sách vĩ mô, thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránhcác xung đột về mục tiêu chính sách và những biến động tỷ giá

Tuy nhiên, tỷ giá cố định sẽ không phản ánh đúng tỷ giá thị trường do vậyphát sinh tình trạng tỷ giá ngầm Khi tỷ giá cố định sẽ bị ảnh hưởng rất lớn của đầu

cơ, nó có thể dẫn đến phá vỡ sự ổn định của tiền tệ, ổn định kinh tế và thị trườngngoại hối Chính sách tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ,khiến cho Ngân hàng trung ương gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cungứng Đặc biệt nó có thể làm cho quốc gia rơi vào tình trạng nhập khẩu lạm phátkhông mong muốn Tóm lại, tỷ giá cố định chỉ phù hợp trong một thời gian nào đó.Hiện nay, rất ít quốc gia sử dụng cơ chế này

Trang 20

Chế độ tỷ giá thả nổi tự do

Là chế độ trong đó TGHĐ được hoàn toàn dựa trên tương quan cung cầu giữacác đồng tiền trên thị trường ngoại hối mà không cần đến bất kỳ sự can thiệp nàocủa NHTW

Đặc điểm của chế độ tỷ giá thả nổi tự do: TGHĐ được xác định và thay đổihoàn toàn tùy thuộc vào tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường Nhà nước hoàntoàn không có bất cứ một tuyên bố, một cam kết nào điều hành và chỉ đạo tỷ giá,không có bất cứ sự can thiệp trực tiếp nào vào thị trường ngoại tệ Khi xảy ra nhữngbiến động về cung cầu của các đồng tiền thì các đồng tiền sẽ có xu hướng tăng hoặcgiảm giá một cách tự động Chế độ này được áp dụng với những nước có thị trườngngoại hối tương đối hoàn chỉnh

Ưu điểm của chế độ này là đảm bảo cán cân thanh toán, đảm bảo chính sáchtiền tệ, làm cho nền kinh tế trở nên độc lập, góp phần ổn định kinh tế, đầu tư tưnhân, ổn định thị trường Chế độ này được nhiều các nước tư bản áp dụng như Mỹ,Anh…

Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái thả nổi tự do luôn biến động, không ổn định, biên

độ dao động lớn và phụ thuộc vào cung cầu ngoại hối nên sẽ rất khó cho công tác

dự đoán và đưa ra các kế hoạch cho doanh nghiệp Mặt khác, chế độ này làm mấtkhả năng của Chính phủ trong việc vận hành chính sách tiền tệ nội địa

Chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước

Về cơ bản tỷ giá do thị trường quyết định nhưng có sự can thiệp của Nhà nướcvào những lúc cần thiết để tránh những cơn sốt về tỷ giá, hạn chế sự biến động Tỷgiá được xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình quan hệ cung cầutrên thị trường

NHTW tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệpvào thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá có sự biến độngmạnh vượt mức cho phép Nếu tình hình kinh tế có những sự thay đổi lớn thì mứcTGHĐ, biên độ dao động cho phép được Nhà nước xác định và công bố lại

Chế độ tỷ giá này đã tận dụng và kết hợp những ưu điểm và hạn chế đượcnhững nhược điểm của hai chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi tự do thôngqua sự thay đổi linh hoạt, ứng phó với biến động thị trường Chế độ tỷ giá linh hoạt

Trang 21

được nhiều quốc gia áp dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có ViệtNam.

c Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái

TGHĐ chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các nhân tố cơ bản sau:

Cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sựbiến động của TGHĐ Cung cầu ngoại tệ lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khácnhau trong đó có cán cân thanh toán Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thểdẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại Sự cân bằng củacán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn cung và cầu ngoại tệ cấuthành nên cán cân thanh toán quốc tế Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định,nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng, do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toánhàng nhập khẩu tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thìcác hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồncung ngoại tệ giảm đi Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnhtrong ngắn hạn, việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao

Tỷ giá lạm phát tương đối

Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian Haylạm phát là hiện tượng xảy ra khi mức giá chung của hàng hóa tăng liên tục và kéodài trong một thời gian nhất định

Trang 22

Trong một quốc gia, khi lạm phát tăng sẽ làm cho sức mua của đồng nội tệgiảm đi Theo thuyết ngang bằng sức mua thì tỷ giá giữa hai đồng tiền được xácđịnh như sau:

- Cân bằng tuyệt đối:

Tỷ giá hối đoái = Mức giá trong nước/ Mức giá nước ngoài

- Cân bằng tương đối:

TGHĐ tại thời điểm t

= TGHĐ tại thời điểm (1-t) × mức giá trong nước/ mức giá nước ngoài

Như vậy, theo thuyết cân bằng sức mua thì đồng tiền của nước có mức lạmphát cao sẽ giảm giá so với đồng tiền của nước có mức lạm phát thấp hơn Lạm phátcàng cao càng kéo dài đồng tiền nội tệ càng mất giá, sức mua của nó càng giảmnhanh, dẫn sức mua đối ngoại của nó cũng giảm và điều đó làm cho TGHĐ tănglên Vì vậy, có thể thấy rằng, tỷ giá lạm phát chỉ ảnh hưởng đến tỷ giá trong dài hạn,còn trong ngắn hạn thì việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá lạm phát đến tỷ giá làkhông đáng tin cậy

Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế

Mức độ tăng hoặc giảm GDP thực tế của một nước so với các nước khác trongđiều kiện các nhân tố khác không thay đổi, sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hànghóa, dịch vụ xuất khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán cho hàngnhập khẩu tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến cung cầu về ngoại tệ vàdẫn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài giảmxuống hoặc tăng lên

Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Khi chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng đến chỉ số

về tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội chi ngân sách tất cả đều gây ảnh hưởngđến sự thay đổi TGHĐ ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự biến động của cácyếu tố kể trên

Nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại tệ

Nếu nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại tệ tăng thì làm cho giá của ngoại tệ đó sẽtăng lên, điều đó làm cho TGHĐ sẽ giảm xuống Ngược lại, khi nhu cầu đầu cơ tíchtrữ ngoại tệ giảm sẽ làm cho giá của ngoại tệ đó giảm, dẫn đến TGHĐ tăng

Trang 23

d Tỷ giá giữa VNĐ và USD

Công ty TNHH may Đồng Tâm chỉ sử dụng tỷ giá VND/USD để thực hiện cácgiao dịch Do đó, đây là tỷ giá mà tác giả tập trung nghiên cứu

Sự hình thành cung – cầu về USD

Cung của USD bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo rathu nhập từ USD Cung USD có thể được hình thành qua các nguồn cung sau:

- Thứ nhất, người nước ngoài muốn mua hàng hóa và dịch vụ của VIệt Nam,

họ cần phải có VND để mua hàng hóa dịch vụ Do vậy, mỗi người mua nước ngoàicần bán tiền nước họ và mua tiền VND để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ mà

họ mua

- Thứ hai, người nước ngoài mua cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản ở Việt

Nam, điều này cần chuyển ngoại tệ cụ thể là đồng USD thành VND, làm cho cungUSD trên thị trường tăng, cầu về VND tăng lên làm cho cân bằng trên thị trườngngoại hối thay đổi

- Thứ ba, các nguồn cung USD khác: vốn vay ODA, FDI, kiều hối, xuất khẩu.

Cầu về USD bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế theo chiều ngược lại so vớicung về USD Nó biểu thị những giao dịch trong tài khoản vãng lai và vốn liên quanđến việc thanh toán ngoại tệ cho các đối tác nước ngoài Cầu USD được hinh thành

do nhu cầu hàng hóa hay tài sản của nước ngoài của công dân và công ty Việt Nam

sẽ phải cung ứng đồng VND để chuyển đổi sang đồng USD

Nguyên nhân dẫn đễn sự biến động của tỷ giá giữa VND và USD

Cán cân thương mại: Khi nhập khẩu tăng làm cho đường cung về USD tănglên và dịch chuyển sang phải, dẫn đến tỷ giá e giảm xuống và ngược lại Khi nhậpkhẩu tăng lên làm cho đường cầu về USD tăng lên và dịch chuyển sang phải, dẫnđễn tỷ giá e tăng lên và ngược lại

- Dòng vận động của vốn: Nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới,

thì sẽ có một dòng tư bản đi ra, làm cho đường cung về USD tăng lên và dẫn đến tỷgiá e giảm xuống Khi lãi suất trong nước cao hơn lãi suất thế giới, sẽ có một luồng

tư bản đi vào và cầu về USD tăng lên làm cho tỷ giá e tăng lên

- Tỷ lệ lạm phát tương đối: Khi lạm phát ở Việt Nam lớn hơn lạm phát ở Mỹ

Trang 24

- Nhu cầu đầu tư tích trữ ngoại tệ: Nếu nhu cầu đầu cơ USD tăng sẽ làm cho

giá USD tăng lên và tỷ giá e giảm xuống Khi nhu cầu đầu tư USD giảm sẽ làm chogiá của USD giảm xuống và tỷ giá e tăng lên

1.2.2 Một số lý thuyết về hoạt động kinh doanh

a Vai trò của hoạt động kinh doanh

+ Hoạt động kinh doanh giúp cho quá trình trao đổi diễn ra liên tục, quá trìnhlưu thông diễn ra thông suốt, giúp cho hàng hóa được chuyển từ người có hàng đếnngười cần hàng

+ Thúc đẩy quá trình sản xuất, hoạt động kinh doanh hiệu quả làm tăng doanhthu, lợi nhuận, thu nhập của người sản xuất kinh doanh tăng làm phát triển nhiềunhu cầu hơn, tạo thành quy trình khép kín

b Vai trò của hiệu quả hoạt động kinh doanh

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh: Khi tiến hành bất kỳ một hoạt độngsản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng cácnguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu

mà doanh nghiệp đề ra Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanhnghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn

bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở

sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp Để thực hiện mục tiêu tối đa hoálợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiềuphương pháp, nhiều công cụ khác nhau Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trongcác công cụ hữu hiệu nhất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị củamình Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những chophép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt

ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnhhưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa rađược các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăngkết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh

Trang 25

doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụngtổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sửdụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàndoanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Do vậy xét trênphương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vaitrò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tíchnhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất

để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tếnhư là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện Vì đối với các nhà quản trị khi nóiđến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của

nó Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiệnnhiệm vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh

- Phân loại hiệu quả kinh doanh

Tùy theo phạm vi, kết quả đạt được và chi phí bỏ ra mà có các phạm trù hiệuquả khác nhau như : hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuấttrong quá trình kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hiệu quảtrực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả của ngành hoặchiệu quả của nền kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế xã hội Từ đó ta có thể phân ra

2 loại : hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội

+ Hiệu qủa kinh tế của doanh nghiệp

Khi nói tới doanh nghiệp người ta thường quan tâm nhất, đó là hiệu quả kinh

tế của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đềuvới động cơ kinh tế để kiếm lợi nhuận

+Hiệu quả kinh tế tổng hợp

Hiệu quả kinh tế tổng hợp là phạm trù kinh tế biểu hiện tập của sự phát triểnkinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trìnhtái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh tế tổng hợp là thước đo hết sức quan trọng của sự tăng trưởngkinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh

Trang 26

Hiệu quả kinh tế của từng yếu tố

Hiệu quả kinh tế từng là yếu tố, là sự thể hiện trình độ và khả năng sử dụngcác yếu tố đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó là thước đoquan trọng của sự tăng trưởng từng yếu tố và cùng với hiệu quả kinh tế tổng hợplàm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh tế - xã hội

Hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệu quả mà doanh nghiệp đem lại cho xã hội vànền kinh tế quốc dân Nó thể hiện qua việc tăng thu ngân sách cho Nhà nước, tạothêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người lao động

và tái phân phối lợi tức xã hội

Tóm lại trong quản lý, quá trình kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế đượcbiểu hiện ở các loại khác nhau Việ phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác địnhcác chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế và xác định những biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh tế

c Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp

- Các nhân tố bên ngoài

+ Môi trường pháp lý

"Môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình , quy phạm kỹthuật sản xuất Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đểu tác động trựctiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp" Giáo trình Quảntrị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, GS.TS Ngô Đình Giao NXBKhoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1997, trang422

Đó là các quy định của nhà nước về những thủ tục, vấn đề có liên quan đếnphạm vi hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi tham giavào môi trường kinh doanh cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và chấp hành đúng theonhững quy định đó

Môi trường pháp lý tạo môi trường hoạt động, một môi trường pháp lý lànhmạnh sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động SXKDcủa mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng chú trọng đếncác thành viên khác trong xã hội, quan tâm đến các mục tiêu khác ngoài mục tiêu

Trang 27

lợi nhuận Ngoài ra các chính sách liên quan đến các hình thức thuế, cách tính, thuthuế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

Môi trường pháp lý tạo sự bình đẳng của mọi loại hình kinh doanh, mọi doanhnghiệp có quyền và nghĩa vụ như nhau trong phạm vi hoạt động của mình Trongnền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập không thể tránh khỏi hiện tượng nhữngdoanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh sẽ thâu tóm những doanh nghiệp nhỏ Nhànước đứng ra bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp “yếu thế ” có thể duy trì hoạtđộng SXKD của mình và điều chỉnh các lĩnh vực sản xuất cho phù hợp với cơ chế,đường lối kinh tế chung cho toàn xã hội

Tính công bằng và nghiêm minh của luật pháp ở bất kỳ mức độ nào đều cóảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Nếu môi trường kinhdoanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật thì hiệu quả tổng thể sẽ lớn hơn,ngược lại, nhiều doanh nghiệp sẽ tiến hành những hoạt động kinh doanh bất chính,sản xuất hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, vi phạm các quy định về bảo

vệ môi trường làm hại tới xã hội

Môi trường chính trị, văn hoá- xã hội

Hình thức, thể chế đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước quyết định cácchính sách, đường lối kinh tế chung, từ đó quyết định các lĩnh vực, loại hình hoạtđộng SXKD của các doanh nghiệp Môi trường chính trị ổn định sẽ có tác dụng thuhút các hình thức đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết tạo thêm được nguồn vốnlớn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động SXKD của mình Ngược lại nếu môitrường chính trị rối ren, thiếu ổn định thì không những hoạt động hợp tác SXKD vớicác doanh nghiệp nước ngoài hầu như là không có mà ngay hoạt động SXKD củadoanh nghiệp ở trong nước cũng gặp nhiều bất ổn

Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tụctập quán, trình độ, lối sống của người dân Đây là những yếu tố rất gần gũi và cóảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp Doanhnghiệp chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp vớinhu cầu, thị hiếu khách hàng, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến hành hoạtđộng sản xuất Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường văn hoá- xã

Trang 28

Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế là một nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quảSXKD của doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách kinh tế củaChính phủ, tốc độ tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hàng năm của nềnkinh tế, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương mại luôn là các nhân tố tácđộng trực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động trực tiếp đến kết quả

va hiệu quả hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp

Đoạn này được tóm tắt từ Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, GS.TS Ngô Đình Giao NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1997, trang 424

Là tiền đề để Nhà nước xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sáchtài chính, các chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp, chính sách ưu đãi các hoạtđộng đầu tư ảnh hưởng rất cụ thể đến kế hoạch SXKD và kết quả SXKD của mỗidoanh nghiệp

Ngoài ra, tình hình kinh doanh hay sự xuất hiện thêm của các đối thủ cạnhtranh cũng buộc doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh của mình.Một môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển,cùng hướng tới mục tiêu hiệu quả SXKD của mình Tạo điều kiện để các cơ quanquản lý kinh tế nhà nước làm tốt công tác dự báo điều tiết đúng đắn các hoạt động

và có các chính sách mang lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp

Môi trường thông tin

Trong nền kinh tế thị trường cuộc cách mạng về thông tin đang diễn ra mạnh

mẽ bên cạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Để làm bất kỳ một khâu nào củaquá trình SXKD cần phải có thông tin, vì thông tin bao trùm lên các lĩnh vực, thôngtin để điều tra khai thác thị trường cho ra một sản phẩm mới, thông tin về kỹ thuậtsản xuất, thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thông tin về các đối thủ cạnhtranh, thông tin về kinh nghiệm thành công hay nguyên nhân thất bại của các doanhnghiệp đi trước Doanh nghiệp muốn hoạt động SXKD của mình có hiệu quả thìphải có một hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác Ngày nay thông tin đượccoi là đối tượng kinh doanh, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế thông tin hoá

Trang 29

Biết khai thác và sử dụng thông tin một cách hợp lý thì việc thành công trongkinh doanh là rất cao, đem lại thắng lợi trong cạnh tranh, giúp doanh nghiệp xácđịnh phương hướng kinh doanh tận dụng được thời cơ hợp lý mang lại kết quả kinhdoanh thắng lợi

Môi trường quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay thì môi trường quốc tế cósức ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Các xu hướng,chính sách bảo hộ hay mở cửa, sự ổn định hay biến động về chính trị, những cuộcbạo động, khủng bố, những khủng hoảng về tài chính, tiền tệ, thái độ hợp tác làm ăncủa các quốc gia, nhu cầu và xu thế sử dụng hàng hoá có liên quan đến hoạt độngcủa doanh nghiệp đều có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, không chỉ với những doanh nghiệp Môi trường quốc tế ổn định là cơ sở đểcác doanh nghiệp tiến hành nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của mình

- Các nhân tố bên trong

Ngoài các nhân tố vĩ mô với sự ảnh hưởng như đã nói ở trên, hiệu quả hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp được quyết định bởi các nhân tố bên trong doanhnghiệp, đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanhnghiệp

Nhân tố quản trị doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức

Hoạt động SXKD của doanh nghiệp được chỉ đạo bởi bộ máy quản trị củadoanh nghiệp Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp từ quyết định mặt hàng kinhdoanh, kế hoạch sản xuất, quá trình sản xuất,huy động nhân sự, kế hoạch, chiếnlược tiêu thụ sản phẩm, các kế hoạch mở rộng thị trường, các công việc kiểm tra,đành giá và điều chỉnh các quá trình trên, các biện pháp cạnh tranh, các nghĩa vụvới nhà nước Vậy sự thành công hay thất bại trong SXKD của toàn bộ doanhnghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều hành của bộ máy quản trị

Bộ máy quản trị hợp lý, xây dựng một kế hoạch SXKD khoa học phù hợp vớitình hình thực tế của doanh nghiệp, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể giữa cácthành viên trong bộ máy quản trị, năng động nhanh nhạy nắm bắt thị trường, tiếpcận thị trường bằng những chiến lược hợp lý, kịp thời nắm bắt thời cơ, yếu tố quan

Trang 30

trọng là bộ máy quản trị bao gồm những con người tâm huyết với hoạt động củacông ty sẽ đảm bảo cho các hoạt động SXKD của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.Doanh nghiệp là một tổng thể, hoạt động như một xã hội thu nhỏ trong đó cóđầy đủ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và cũng có cơ cấu tổ chức nhất định Cơcấu tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.

Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các phòng ban, các chức vụ trong doanh nghiệp,

sự sắp xếp này nếu hợp lý, khoa học, các thế mạnh của từng bộ phận và của từng cánhân được phát huy tối đa thì hiệu quả công việc là lớn nhất, khi đó không khí làmviệc hiệu quả bao trùm cả doanh nghiệp Không phải bất lỳ một doanh nghiệp nàocũng có cơ cấu tổ chức hợp lý và phát huy hiệu quả ngay, việc này cần đến một bộmáy quản trị có trình độ và khả năng kinh doanh, thành công trong cơ cấu tổ chức làthành công bước đầu trong kế hoạch kinh doanh

Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bất hợp lý, có sự chồng chéo

về chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, các bộ phận hoạt động kém hiệu quả, khôngkhí làm việc căng thẳng cạnh tranh không lành mạnh, tinh thần trách nhiệm và ýthức xây dựng tổ chức bị hạn chế thì kết quả hoạt động SXKD sẽ không cao

Nhân tố lao động và vốn

Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợpcác yếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệphoạt động có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề laođộng Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm bảo trình độ và tay nghề củangười lao động Có như vậy thì kế hoạch sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt độngSXKD mới thực hiện được CPH Có thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần đểtiến hành hoạt động SXKD và công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ đểdoanh nghiệp tiến hành hoạt động SXKD có hiệu quả cao

Trong quá trình SXKD lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể có nhữngsáng tạo khoa học và có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệuquả SXKD Lực lượng lao động tạo ra những sản phẩm (dịch vụ) có kiểu dáng vàtính năng mới đáp ứng thị hiếu thị trường làm tăng lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụđược của doanh nghiệp, tăng doanh thu làm cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh

Trang 31

Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất laođộng, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vậtliệu nên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động SXKD Ngày nay hàm lượngkhoa học kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao độngphải có một trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này phần nàocũng nói lên tầm quan trọng của nhân tố lao động.

Bên cạnh nhân tố lao động của doanh nghiệp thì vốn cũng là một đầu vào cóvai trò quyết định đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Doanh nghiệp cókhả năng tài chính không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì hoạt độngSXKD ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị tiếp thucông nghệ sản xuất hiện đại hơn nhằm làm giảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi,khả năng tài chính còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tính chủ độngkhai thác và sử dụng tối ưu đầu vào

Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ thuật Doanh nghiệp phải biết luôn tự làm mới mình bằng cách tự vận động và đổimới, du nhập những tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại liên quan đến lĩnh vực sảnxuất của doanh nghiệp mình Vấn đề này đóng một vai trò hết sức quan trọng vớihiệu quả hoạt động SXKD vì nó ảnh hưởng lớn đến vấn đề năng suất lao động vàchất lượng sản phẩm Sản phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật lớn mới có chỗđứng trong thị trường và được mọi người tin dùng so với những sản phẩm dịch vụcùng loại khác

Kiến thức khoa học kỹ thuật phải áp dụng đúng thời điểm, đúng quy trình đểtận dụng hết những lợi thế vốn có của nó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ haytăng năng suất lao động đưa sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế trwn thị trường nângcao hiệu quả kinh doanh

Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu của doanhnghiệp

Đây cũng là bộ phận đóng vai trò quan trọng đối với kết quả hoạt động SXKD

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những yếu tố nền tảng cơ sở thìnguyên liệu đóng vai trò quyết định, có nó thì hoạt động SXKD mới được tiến hành

Trang 32

Kế hoạch SXKD có thực hiện thắng lợi được hay không phần lớn phụ thuộcvào nguồn nguyên liệu có được đảm bảo hay không.

Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD

Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD là biểu hiện mặt chất lượngcủa các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vậtliệu, thiết bị máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng củamọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận

Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD chúng ta có thể dựa vàoviệc phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả

Đoạn này được tóm tắt từ Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp trong cácdoanh nghiệp, GS.TS Ngô Đình Giao NXB Khoa học kỹ thuât, Hà Nội- 1997,trang 409

+ Kết quả của hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được saumột quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp.Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cânđong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chấtlượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm củakhách hàng về chất lượng sản phẩm Chất lượng bao giờ cũng là mục tiêu của doanhnghiệp

+ Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã sử dụng cảhai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (cả trong lýthuyết và thực tế thì hai đại lượng này có thể được xác định bằng đơn vị giá trị hayhiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó khăn hơn vì trạng thái hay đơn

vị tính của đầu vào và đầu ra là khác nhau còn sử dụng đơn vị giá trị sẽ luôn đưađược các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị Trong thực tế người ta sử dụnghiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất cũng cónhững trường hợp sử dụng nó như là một công cụ để đo lường khả năng đạt đếnmục tiêu đã đặt ra

Trang 33

d Vai trò của xuất khẩu

Đối với một nền kinh tế

- Xuất khẩu đã tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoáđất nước Công nghiệp hoá với những bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắcphục tình trạng nghèo nàn lạc hậu Tuy nhiên, công nghiệp hoá đòi hỏi phải có sốlưọng lớn vốn để nhập khẩu những máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến

- Xuất khẩu đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩysản xuất phát triển Dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệpphù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới là tất yếu đối với tất cả cácnước kém phát triển

- Xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đờisống nhân dân Tác động của xuất khẩu ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộcsống Sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc, tạo

ra thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng đápứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân

- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta trên

cơ sở vì lợi ích của các bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nước với quá trìnhphân công lao động quốc tế Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trongchính sách kinh tế đối ngoại của nước ta với các nước trên thế giới vì mục tiêu dângiàu nước mạnh

Như vậy, có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết giải quyếtnhững vấn đề thiết yếu của nền kinh tế Điều này nói lên tính khách quan của việctăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế

Đối với một doanh nghiệp

Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia và tiếpcận vào thị trường thế giới Nếu thành công đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mởrộng thị trường và khả năng sản xuất của mình

Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong

và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng

Trang 34

Sản xuất hàng hoá xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao độngvào làm việc tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệuphục vụ cho sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào mộtmôi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòihỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạgiá thành sản phẩm Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

Các nhân tố tác động đến xuất khẩu

Các công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô:

Trong lĩnh vực xuất khẩu những công cụ, chính sách chủ yếu thường được nhànước sử dụng để điều tiết, quản lý các hoạt động này là:

- Thuế quan

Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàngxuất khẩu so với mức giá quốc tế nên đem lại bất lợi cho các nhà sản xuất kinhdoanh xuất khẩu vì nó sẽ làm tăng giá thành xuất khẩu, làm giảm sức cạnh tranh củahàng hoá xuất khẩu Do đó với mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hầu hết các mặthàng thuộc diện khuyến khích xuất khẩu đều có thuế xuất rất thấp hoặc bằng không

- Các công cụ phi thuế quan

Hạn ngạch được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một

mặt hàng hoặc một nhóm mặt

hàng được phép xuất khẩu sang một thị trường nhất định trong một thời giannhất định thông qua hình thức cấp giấy phép Mục đích của việc sử dụng công cụhạn ngạch xuất khẩu là nhằm quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả

và điều chỉnh các loại hàng hoá xuất khẩu Hơn thế nữa có thể bảo hộ nền sản xuấttrong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh toán

Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Các quốc gia đặt ra những tiêu chuẩn về

chất lượng hàng hoá hay về các thông số kỹ thuật quy định cho hàng hoá xuất khẩuhay nhập khẩu

Giấy phép xuất khẩu: Nhà nước cấp giấy phép xuất khẩu cho các doanh

nghiệp ránh việc xuất khẩu lung tung…

Ngày đăng: 03/02/2020, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w