Bài giảng trình bày các nội dung chính về khái niệm ngân sách nhà nước, phân loại theo nội dung kinh tế, phân loại theo tổ chức hành chính, Cân đối ngân sách nhà nước,... Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC &
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1
TS TRẦN NGỌC HOÀNG LHU
Trang 21.1 Khái niệm NSNN
Ngân sách là một khái niệm chung để chỉ NS
của các hộ gia đình, các doanh nghiệp và ngân
sách của khu vực chính phủ
Trong thực tiễn, thuật ngữ NS thường được hiểu
là một bản ước tính về số tiền được sử dụng và
kế hoạch sử dụng số tiền đó cho một công việc
của một chủ thể Nếu chủ thể đó là Nhà nước,
thì được gọi là ngân sách chính phủ hay NSNN
Tuy nhiên, khác với ngân sách của các hộ gia
đình, doanh nghiệp, NSNN, là một phạm trù kinh
I NSNN
Trang 3Thuật ngữ ngân sách của khu vực Chính phủ và
các thông lệ ngân sách hiện đại ngày nay, có
nguồn gốc từ những thay đổi về vai trò kinh tế
của ngân sách và quyền lực của Quốc hội
trong chế độ quân chủ Cùng với sự phát triển
của các nền dân chủ, Quốc hội nhân danh quốc
gia hay nhân dân đã dần dành được quyền kiểm
soát về chính trị thông qua việc chấp thuận thuế
hay cho phép các khoản chi
Trang 41.1 Khái niệm NSNN
Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của thuật ngữ
ngân sách gắn với vai trò kiểm soát ngân sách
của Quốc hội, NSNN thường được định nghĩa
theo nghĩa hẹp: “là một tài liệu trong đó chính
phủ trình bày các khoản thu và chi phí được dự
thảo cho năm tới và đòi hỏi phải có sự chấp
thuận của cơ quan lập pháp trước khi thực hiện”
Quan điểm này được chấp nhận rộng rãi trên
toàn cầu bởi một số tổ chức chuyên nghiên cứu
về ngân sách chính phủ
I NSNN
Trang 51.1 Khái niệm NSNN
- Theo OECD, ngân sách bao gồm tất cả các
khoản chi tiêu và các khoản thu của Chính phủ,
được trình lên cơ quan lập pháp xem xét, phê
duyệt trước khi bắt đầu một năm ngân sách mới
- Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế của Anh
(DFID), ngân sách là một tài liệu, được phê duyệt
bởi Quốc hội, trao cho Chính phủ quyền thực
thực hiện các khoản thu, vay nợ, và thực hiện
các khoản chi để thực hiện các mục tiêu nhất
định
Trang 61.1 Khái niệm NSNN
Khi vai trò can thiệp của Nhà nước trong các lĩnh vực KT-XH được mở rộng đã dẫn đến những thay đổi trong quan niệm về NS theo nghĩa rộng hơn: “Quốc hội có quyền kiểm soát và phê duyệt NS và sử dụng NS như một công cụ để đảm bảo trách nhiệm của chính phủ trong việc sử dụng nguồn lực; NS là một công cụ của Chính phủ để vận hành các chính sách Phạm vi của
NS phụ thuộc vào phạm vi hoạt động của Chính phủ , bao gồm cả các khoản thu và chi” Theo quan niệm này, NSNN có thể hiểu là tài liệu phản ánh các khoản thu, chi mà cơ quan hành pháp dự thảo và được cơ quan quyền lực nhà nước quyết định;
I NSNN
Trang 7Từ các quan niệm trên có thể khái niệm về NSNN theo các góc nhìn khác nhau:
Theo góc độ kinh tế , NSNN là một công cụ chính sách kinh tế của quốc gia, được sử dụng để đạt các mục tiêu: Kỷ luật tài khóa, phân bổ nguồn lực theo thứ tự ưu tiên, và sử dụng nguồn lực hiệu quả;
Theo góc độ chính trị , NSNN được trình cho cơ quan quyền lực nhà nước để đảm bảo các đại biểu dân cử được giám sát, phê duyệt các quyết định về thu và chi ngân sách;
Trang 81.1 Khái niệm NSNN
Khái niệm về NSNN theo các góc nhìn khác
nhau:
Theo góc độ luật pháp, NSNN về hình thức là
một văn bản pháp luật được phê duyệt bởi cơ
quan quyền lực nhà nước, giới hạn các quyền
mà cơ quan hành pháp được phép thực hiện;
Theo góc độ quản lý, NSNN là căn cứ để quản lý
tài chính trong các đơn vị sử dụng NS, cho biết
số tiền đơn vị được phép chi, các nhiệm vụ chi và
kế hoạch thực hiện, NS phân bổ cho đơn vị.
I NSNN
Trang 91.1 Khái niệm NSNN
Ở Việt Nam, từ điển tiếng Việt thông dụng định
nghĩa: “Ngân sách: tổng số thu và chi của một
đơn vị trong một thời gian nhất định”
Còn Luật NSNN năm 2015, cũng đưa ra khái
niệm: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của
Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một
khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Trang 101.2 Phân loại NSNN
1.2.1 Khái niệm và mục đích phân loại NSNN
Phân loại NSNN là sự sắp xếp có hệ thống các nội dung thu, chi NS của Chính phủ theo các tiêu thức nhất định
Hệ thống phân loại NSNN là một công cụ quan trọng trong quản lý NSNN, vì nó quyết định cách thức mà NS được ghi lại, trình bày và báo cáo.
NSNN được phân loại theo các cách khác nhau Mỗi cách phân loại được sử dụng để đáp ứng một mục đích
sử dụng cụ thể như: trình bày NS với cơ quan lập pháp; kiểm soát việc thực hiện NS, kế toán các hoạt động tài chính của Chính phủ; báo cáo NS và giải trình về các hoạt động tài chính của Chính phủ.
I NSNN
Trang 111.2.1 Khái niệm và mục đích phân loại NSNN
Một hệ thống phân loại NS tốt là cần thiết để quản lý tốt hơn các nguồn lực ( gắn kết giữa các mục tiêu chiến lược và phân bổ ngân sách ), đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý NSNN
Yêu cầu của hệ thống phân loại NS tốt là nó phải cung cấp thông tin rõ ràng cho tất cả các giai đoạn của chu trình NSNN (chuẩn bị và quyết định NS; chấp hành NS; kiểm toán và đánh giá) bằng cách phân loại hoạt động tài chính theo bản chất kinh tế và các tiêu chí cần thiết khác cho việc quản lý hoặc phân tích ngân sách.
Trang 121.2 Phân loại NSNN
1.2.2 Các tiêu thức phân loại NSNN
(i) Phân loại theo chức năng của Chính phủ (COFOG)
Mục tiêu chính của việc phân loại này là làm rõ mục đích KTXH của các khoản phân bổ NS theo các chức năng khác nhau của Chính phủ Việc phân loại theo chức năng
là quan trọng trong việc phân tích sự phân bố nguồn lực giữa các ngành và chỉ ra những lĩnh vực chính có sự tham gia chính phủ trong việc cung cấp các dịch vụ công Cách phân loại này còn giúp đánh giá các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ cụ thể của nhà nước trong từng thời kỳ
Phân loại theo chức năng của chính phủ, được LHQ phát hành trong hướng dẫn sử dụng Hệ thống Tài khoản quốc
I NSNN
Trang 1301 Các dịch vụ công nói chung
011 Hoạt động của các cơ quan lập pháp và hành
Trang 141.2.2 Các tiêu thức phân loại NSNN
(ii) Phân loại theo nội dung kinh tế:
Phân loại theo nội dung kinh tế xác định các loại hình thu
nhập và chi phí theo các hoạt động kinh tế của khu vực
chính phủ nói chung Cách phân loại kinh tế được sử
dụng để phân tích tác động của ngân sách đối với các
chính sách tài chính vĩ mô.
I NSNN
Trang 151.2.2 Các tiêu thức phân loại NSNN
(ii) Phân loại theo nội dung kinh tế:
Theo GFS của Chính phủ, thu và chi NS của chính phủ được phân loại theo nội dung kinh tế sau:
Về thu NS: liệt kê chủ yếu theo tính chất động viên các nguồn thu, bao gồm: (1) Các loại thuế, phí, lệ phí; (2) Các khoản đóng góp xã hội; (3) Tài trợ, (4) Các khoản thu khác
Về chi ngân sách: liệt kê ra các loại chi phát sinh cho những hoạt động cung cấp các dịch vụ công do Chính phủ trực tiếp thực hiện (những khoản thù lao cho người lao động, sử dụng hàng hóa và dịch vụ, tiêu dùng TSCĐ) hoặc Chính phủ mua chúng từ bên thứ ba để phân phối, hoặc hỗ trợ cho các
hộ gia đình để họ tự mua hàng hóa và dịch vụ trực tiếp (các
Trang 16(ii)Phân loại theo nội dung kinh tế
Phân loại về chi tiêu bao gồm:
(1) Thù lao cho người lao động , trong đó bao gồm các khoản
tiền lương và tiền công, BHXH
(2) Chi phí sử dụng hàng hóa dịch vụ: Phản ảnh giá trị hàng
hóa và dịch vụ được sử dụng, chứ không được mua sắm
(3) Chi tiêu dùng TSCĐ : Là phần giảm giá trị của TSCĐ do một
đơn vị thuộc chính phủ sở hữu và sử dụng.
(4) Chi lãi vay là khoản phải trả theo lãi suất cho những khoản
vay của các đơn vị thuộc chính phủ;
(5) Trợ cấp là các khoản thanh toán thường xuyên không hoàn
lại mà chính phủ thực hiện cho các doanh nghiệp
(6) Tài trợ là những khoản chuyển giao hoặc đầu tư không bắt
buộc từ đơn vị chính phủ này cho đơn vị chính phủ khác
(7) Chi phúc lợi xã hội là các khoản chuyển giao nhằm bảo trợ
Phân loại
NSNN
Trang 172.1 Thù lao cho người lao động
211 Tiền công và lương
2111 Tiền công bằng tiền mặt
2112 Tiền công bằng hiện vật
212 Các khoản đóng góp xã hội
2121 Các khoản đóng góp thực
2122 Các khoản đóng góp danh nghĩa
Trang 18(ii)Phân loại theo nội dung kinh tế
Ngoài ra ở nhiều quốc gia, trong phân loại chi
tiêu theo nội dung kinh tế theo nghĩa rộng hay
còn gọi theo tính chất phát sinh , các khoản chi
thường được phân loại theo các nhóm:
- Chi hoạt động,
- Chi đầu tư phát triển,
- Chi cho vay
- Tham gia góp vốn của chính phủ.
Phân loại
NSNN
Trang 19- Chi hoạt động hay chi thường xuyên:
Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn
thường dưới một năm Nhìn chung, đây là các
khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản
lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên
của Nhà nước trong các lĩnh vực như: Quốc
phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế,
văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học
công nghệ…
Trang 20(ii)Phân loại theo nội dung kinh tế
Các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm: Chi đầu tư
XDCB các công trình kết cấu hạ tầng KTXH không có
khả năng thu hồi vốn như: Các công trình giao thông,
điện lực, bưu chính viễn thông, các công trình văn
hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng…; đầu tư hỗ
trợ vốn cho các DN, các quỹ và đầu tư vào tài sản;
góp vốn cổ phần liên doanh vào các DN cần thiết
phải có sự tham gia của Nhà nước; chi cho các
chương trình mục tiêu quốc gia, dự án của nhà
nước
Chi đầu tư phát triển là những khoản chi có thời hạn
tác động dài thường trên một năm, hình thành nên
Phân loại
NSNN
Trang 21(iii) Phân loại theo đối tượng (hay hạng mục chi tiêu)
Việc phân loại theo đối tượng (hay hạng mục chi tiêu) chủ yếu được sử dụng trong trình bày chi tiết các phương tiện đầu vào cho các hoạt động cung ứng dịch vụ công Ngân sách được trình bày theo đối tượng cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào nhằm xác định nguồn gốc, cơ sở pháp
lý, mức độ chi tiêu của các hạng mục như: chi tiêu nhân
sự, chi phí đi lại, in ấn… Cách phân loại này không phản ánh mối quan hệ giữa chi phí thực hiện và kết quả thu được, không cung cấp thông tin về việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được phân bổ Tuy nhiên, việc phân loại này cho biết cách thức để thực hiện một khoản chi tiêu và
Trang 221.2.2 Các tiêu thức phân loại NSNN
(iv) Phân loại theo tổ chức hành chính :
Phân loại theo tổ chức hành chính là một cách thức phân loại cung cấp dữ liệu về các hoạt động thu và chi ngân sách theo các tổ chức thuộc khu vực công Phân loại ngân sách theo tổ chức quản lý hành chính nhằm xác định rõ trách nhiệm trong quản lý thu, chi NSNN, bao gồm cả trách nhiệm thu, chi được phân cấp và trách nhiệm giải trình Theo cách phân loại này, thu, chi ngân sách được trình bày chi tiết cho từng bộ, hoặc đơn vị trực thuộc Phân loại ngân sách theo quản lý hành chính phụ thuộc vào cách thức tổ
I NSNN
Trang 23Hộp 2.3 Ví dụ về phân loại theo tổ chức hành chính
Trang 241.2.2 Các tiêu thức phân loại NSNN
(v) Phân loại ngân sách theo chương trình:
Một chương trình là một tập hợp các hoạt động có cùng một mục tiêu và tổng thể nguồn lực được phân
bổ để thực hiện chương trình đó Một ngân sách phân loại theo chương trình sẽ trình bày các mục tiêu chính sách của chính phủ và cách thức làm thế nào những chính sách này sẽ được thực hiện Nó cũng là căn cứ
để phân bổ các nguồn lực tài chính và xác định mức trần ngân sách cho mỗi chương trình, mỗi hoạt động
để thực hiện chương trình cũng như trách nhiệm thực hiện của một cơ quan hay tổ chức (thường là một Bộ).
I NSNN
Trang 252.1 Nguyên tắc 1 tài liệu NS duy nhất
Nguyên tắc này được hiểu là tất cả các khoản thu, chi của Nhà nước đều phải được phản ánh đầy đủ,
rõ ràng trong cùng một thời gian, trong cùng một văn bản tổng hợp được cơ quan lập pháp quyết định
Nguyên tắc này yêu cầu : NSNN phải tổng hợp được toàn bộ các hoạc động thu và chi của nhà nước, không loại trừ bất cứ một hoạt động nào và được tập hợp trong một dự toán NS duy nhất trình cơ quan lập pháp xem xét Không cho phép sự tồn tại của nhiều tài liệu NS và các khoản thu, chi của Nhà nước được thực hiện ngoài NS.
NSNN
Trang 262.1 Nguyên tắc 1 tài liệu NS duy nhất
Nguyên tắc một văn kiện ngân sách duy nhất có lý
do chính trị đó là: để đảm bảo quyền của cơ quan lập pháp trong quyết định NS một cách toàn diện trên cơ sở đó phân bổ nguồn lực một cách công bằng, hiệu quả Mặt khác, việc tôn trọng nguyên tắc này cho phép biết được một cách rõ ràng tình trạng cân bằng hay thâm hụt NS và tính toán được một cách chính xác mức thâm hụt NS để có biện pháp
xử lý phù hợp.
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 272.1 Nguyên tắc 1 tài liệu NS duy nhất
Nguyên tắc một văn kiện ngân sách duy nhất có lý
do chính trị đó là: để đảm bảo quyền của cơ quan lập pháp trong quyết định NS một cách toàn diện trên cơ sở đó phân bổ nguồn lực một cách công bằng, hiệu quả Mặt khác, việc tôn trọng nguyên tắc này cho phép biết được một cách rõ ràng tình trạng cân bằng hay thâm hụt NS và tính toán được một cách chính xác mức thâm hụt NS để có biện pháp
xử lý phù hợp.
NSNN
Trang 282.2 Nguyên tắc ngân sách tổng thể
Nguyên tắc NS tổng thể được hiểu là tất cả các khoản thu được tập hợp vào một quỹ duy nhất để tài trợ chung cho các khoản chi.
Nguyên tắc này đặt ra hai yêu cầu:
Thứ nhất , tất cả các khoản thu và các khoản chi phải được ghi vào NS một cách riêng biệt, theo số tiền đầy đủ của nó, không được bù trừ giữa thu và chi.
Thứ hai , không phân bổ riêng một khoản thu để trang trải cho một khoản chi nhất định
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 292.3 Nguyên tắc niên độ của NS
NSNN
Trang 302.3 Nguyên tắc niên độ của NS
Nguyên tắc niên độ được hiểu là dự toán NS được cơ quan có thẩm quyền quyết định chỉ có hiệu lực trong thời hạn một năm
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu: trong quyết định NS, các khoản thu, chi NSNN chỉ được quyết định trong từng năm; trong chấp hành NS, Chính phủ phải sử dụng trong năm những khoản kinh phí đã được cấp.
Mặc dù trên thực tế có ngoại lệ cho phép các điều chỉnh dự toán trong năm NS (ngoại lệ thời kỳ dưới 1 năm) hoặc chuyển nguồn kinh phí từ năm trước sang năm sau (thời kỳ trên 1 năm) hay nhiều nước đã xây
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 312.3 Nguyên tắc niên độ của NS
- Thời hạn niên độ theo năm là không quá dài để cho phép hoạt động kiểm tra của cơ quan lập pháp đối với việc thực hiện NS đạt hiệu quả Cơ quan lập pháp có thể đánh giá và điều chỉnh kịp thời NS đã phân bổ vào niên độ tiếp theo.
- Do những khó khăn trong việc thực hiện dự toán khi nguồn thu diễn biến và ảnh hưởng bởi mức độ phát triển của nền kinh tế nên buộc phải xem xét lại các mức độ thu, chi theo niên độ, để có thể đảm bảo được cân đối trong chấp hành NS ở niên độ tiếp theo
NSNN
Trang 322.4 Nguyên tắc chuyên dùng của NS
Nguyên tắc chuyên dùng của NS là các khoản chi phải được phân bổ và sử dụng cho đối tượng và mục đích nhất định đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ chi tiêu NS phải được chi tiết theo các đối tượng và mục đích cụ thể; các khoản chi chỉ có thể được cam kết và chuẩn chi theo đúng đối tượng và mục đích đã được ghi trong dự toán NS đã phê duyệt và trong phạm vi kinh phí được cấp để đảm bảo tính chuyên dùng và sự cân đối tài chính.
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 332.4 Nguyên tắc chuyên dùng của NS
Trên thực tế việc áp dụng nguyên tắc này có thể thay đổi tùy theo yêu cầu quản lý NSNN của các quốc gia
và có những khác biệt giữa các quốc gia thực hiện phương thức quản lý NS theo đầu vào với các quốc gia chuyển sang quản lý ngân sách theo kết quả song
về cơ bản nguyên tắc này hiện vẫn được các quốc gia
sử dụng Điều đó nhằm bảo đảm thực thi quyền giám sát sử dụng NS của các cơ quan dân cử đối với cơ quan hành pháp trong việc sử dụng tiền thuế theo các mục tiêu mà người dân mong muốn
NSNN
Trang 342.5 Nguyên tắc cân đối ngân sách
Cân đối NSNN đề cập đến sự cân bằng giữa thu và chi NSNN, trong đó bao gồm mối quan hệ cân bằng giữa tổng thu và tổng chi NSNN, và sự hài hòa giữa cơ cấu các khoản thu, chi NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý tài chính công trong từng thời kỳ.
Trên góc độ pháp lý, nguyên tắc này cho rằng NSNN được quyết định bởi cơ quan lập pháp phải có sự cân bằng Nhưng trên góc độ kinh tế, nguyên tắc này có thể được hiểu là các cam kết chi NS phải được cân đối bằng các khoản thu và các nguồn tài chính khác như các khoản vay Yêu cầu của nguyên tắc này là ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài hòa, hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 352.5 Nguyên tắc cân đối ngân sách
Nguyên tắc cân đối NSNN trong Luật NSNN năm 2015 của Việt Nam được quy định dựa trên tính cân đối theo
cơ cấu giữa thu và chi NSNN
Theo đó, bội chi NSNN bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP cấp tỉnh; tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi NS
Vay bù đắp bội chi NSNN chỉ được sử dụng cho đầu
NSNN
Trang 362.6 Nguyên tắc hiệu năng
Đây là nguyên tắc quản lý NSNN gắn với kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các khoản chi tiêu.
Nguyên tắc này yêu cầu các cơ quan hành pháp khi nộp dự thảo NS cho cơ quan lập pháp phải trình bày các thông tin về kết quả đã thực hiện và kết quả dự kiến về sử dụng NS Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh đến việc đánh giá, đo lường kết quả
Kiểm toán nhà nước cũng tập trung nhiều hơn vào loại hình kiểm toán hoạt động Kết quả thực hiện NS sẽ được đánh giá và báo cáo trước công chúng trên ba
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 372.6 Nguyên tắc hiệu năng
Yêu cầu phải tuân thủ tốt nguyên tắc này, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp như hiện nay, Chính phủ đang đứng trước một thách thức không nhỏ, đó là với nguồn lực ít hơn nhưng người dân đòi hỏi Chính phủ phải làm được nhiều việc hơn
và phải báo cáo kết quả đã đạt được trước công chúng Để làm được điều này, khu vực công phải từ
bỏ cách quản lý NS truyền thống chú trọng quản lý đầu vào và hoạt động để chuyển trọng tâm quản lý theo kết quả hoạt động Các Bộ, ngành và đơn vị sử dụng NS trong phạm vi trần NS đã được cơ quan lập pháp
NSNN
Trang 382.7 Nguyên tắc minh bạch
Nguyên tắc này được hiểu là cung cấp thông tin về NSNN một cách rõ ràng, toàn diện, đáng tin cậy, dễ hiểu và kịp thời về cơ cấu và các chức năng của chính phủ, các mục tiêu của chính sách NS, các báo cáo và các dự báo về tình hình thực hiện và kết quả thực hiện NSNN.
Việc Nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trước dân về huy động và sử dụng các nguồn thu hay không phụ thuộc nhiều vào tính minh bạch của ngân sách Năm
1998, IMF đã tập hợp quy tắc chung về tính minh bạch
về tài chính công và quản lý NSNN để các nước
II Nguyên
tắc QL
NSNN
Trang 392.7 Nguyên tắc minh bạch
Thứ nhất: Xác định rõ về vai trò và trách nhiệm
Thẩm quyền của các cơ quan hành pháp, lập pháp và
tư pháp về ngân sách cần được phân định rõ.
Cần có một khuôn khổ luật pháp, hành chính rõ ràng
và công khai về quản lý tài khóa: Huy động, cam kết
và sử dụng các quỹ công nên được điều chỉnh toàn diện bằng một văn bản luật, các quy định và những thủ tục hành chính rõ ràng và công khai; luật pháp và các quy định liên quan đến thuế và phí cũng như quyền hạn hành chính trong việc thực thi các quy định này
NSNN
Trang 402.7 Nguyên tắc minh bạch
Thứ hai: Công khai thông tin cho công chúng.
Công chúng cần phải được thông tin đầy đủ về các hoạt động tài khóa mà chính phủ đã, đang và sẽ thực hiện: Những tài liệu NS công khai cho công chúng cần bao gồm tất cả các hoạt động NS và ngoài NS; thông tin về thu, chi ngân sách năm hiện hành phải được công bố kèm với thông tin thu, chi ngân sách cho hai năm tiếp theo; mức nợ và cơ cấu nợ của chính quyền trung ương.
Cần có cam kết về việc cung cấp kịp thời các thông tin tài khóa: Việc công bố thông tin tài khóa là nghĩa vụ
II Nguyên
tắc QL
NSNN