Nội dung cuốn sách Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền kinh tế thị trường; thực trạng, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo cuốn sách qua phần 2 sau đây.
Trang 1Tuy nhiên cán bộ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề
đều là kiêm nhiệm, một sô' cán bộ trực tiếp quản lý các dự án chủ
yếu thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành trực tiếp các dự án là
chính Hiện nay, nhiệm vụ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề rất lớn, nhất là nhiệm vụ nghiên cứu hoạch định chiến lược
đầu tư; chính sách đầu tư; thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư,
đòi hỏi phải tăng cường cán bộ và nâng cao trình độ cán bộ
QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề
III ĐÁNH GIÁ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NUỚC VỀ ĐAU t ư
PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ
1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Thứ nhất, thực hiện mục tiêu cơ bản của quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nẹhê
- Đã đầu tư mở rộng quy mô, đa dạng hoá loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo: Trong những năm gần đây, số các
loại hình cơ sở dạy nghề tăng nhanh chóng, đến năm 2006
trường dạy nghề tăng 1,7 lần so với năm 2000, trung tâm dạy
nghề tăng gấp gần 6 lần so với năm 2000, xóa tình trạng “trắng
trường dạy nghề” tại các tỉnh, thành phố Đặc biệt đã hình thành
trường cao đẳng nghề để đào tạo lao động chất lượng cao cho
phát triển nguồn nhân lực Mở rộng loại hình cơ sở dạy nghề tư (hục, năm 2006 số trung tâm dạy nghề tư thục tăng 7,2 lần so với
năm 2000 Đầu tư xây dựng hộ thống các trường sư phạm kỹ thuật, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; chương trình, giáo trình được cải tiến, đổi mới và được đầu tư biên soạn; chất lượng đào tạo nghề bước đầu đã được cải thiện
Trang 2- Huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, thực hiện định hướng đầu tư, giữ vững vai trò nòng cốt của Nhà nước trong đầu tư phát triển đào tạo nghề: Thực hiện xã hội hóa đào tạo
nghề, các cấp chính quyền có sự thay đổi nhận thức về vai trò đầu tư phát triển đào tạo nghề, đã đề râ cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư'cho đào tạo nghề.Thực hiện mục tiêu tăng nhanh nguồn vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, tổng số vốn đầu tư từ năm 1999 đến nay tăng lên nhanh chóng, hàng năm tăng trên 40%
Vai trò của Nhà nước trong việc tạo động lực đầu tư phát triển đào tạo nghề có sự thay đổi theo hướng tích cực cả về quy
mô và cơ cấu Nguồn vốn từ Nhà nước cấp cho đào tạo nghề từ năm 1999 đến nay tăng đáng kể, trung bình năm sau cao hơn năm trước 20%, giữ vững tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước
chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư, thực tế đạt 58,9 % tổng nguồn
vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề
Đổi mới hoạt động đầu tư, nhất là các nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn từ nước ngoài Tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên, xây dựng nội dung chương trình, biên soạn giáo trình tài liệu, khắc phục được tình trạng trước đó chủ yếu chi thường xuyên Tỷ trọng chi chương trình mục tiêu, chi đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng chi ngân sách cho đào tạo nghề chiếm trên 50%
- Từng bước thực hiện công bằng trong đầu tư phát triển đào tạo nghề: Đầu tư được thực hiện công bằng hơn Khắc phục được
tình trạng nhiều tỉnh không có trường dạy nghề Chú trọng đào tạo nghề cho đối tượng là nông dân, bộ đội xuất ngũ, vùng sâu,
Trang 3vùng xa Hình thành các quỹ khuyến học, ngân hàng chính sách cho học sinh vay ưu đãi Thực hiện ưu tiên tuyển sinh, miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội cho các đối tượng chính sách.
Thứ hai, dã chủ động, tích cực xây dựng chiến lược định hướng, quy hoạch, k ế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề
Trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề đã chú ý đến chiến lược phát triển đào tạo nghề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chiến lược thu hút các nguồn vốn đầu tư, thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề là chủ trương chiến lược lâu dài, chú ý đến định hướng un tiên đầu
tư, hiệu quả đầu tư Đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề đã thực hiện quy hoạch tổng thể trên phạm vi cả nước, đồng thời các tỉnh, thành phố có quy hoạch riêng cho địa phương dựa trên chiến lược và quy hoạch quốc gia Trong quy hoạch đã chú ý đến quy hoạch hệ thống cơ sở dạy nghề, nguồn vốn đầu tư, đất đai ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dạy nghề
Thứ ba, bước đầu hoàn thiện chính sách, pháp luật vê đầu tư phát triển đào tạo nghê
Từ năm 1998 đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về đào tạo nghề được tích cực nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Đã ban hành các văn bản pháp luật để tạo cơ sở pháp lý thu hút đầu
tư, hướng dẫn quản lý các hoạt động đầu tư, đặc biệt là quản lý nguồn vốn đầu tư từ NSNN Những chính sách, pháp luật khuyến khích đầu tư phát triển đào tạo nghề mang tính đột phá trong giai đoạn này là:
Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề, trong đó đã có một số điểu khoản quy định về đầu tư cho đào tạo nghề
Trang 4Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Lao động và Luật Giáo dục vể dạy nghề, trong đó vấn đề đầu tư cho đào tạo nghề dược ưu tiên, nhằm phát triển đào tạo nghề, khắc phục sự hụt hẫng, thiếu trầm trọng đội ngũ công nhân lành nghề hiện nay.
Về đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động đào tạo nghề, đã ban hành 3 nghị quyết, quyết định của Chính phủ tạo điều kiện cho hàng loạt các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, các cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp ra đòri, đã tận dụng và khai thác được năng lực của các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống dạy nghề
Nghị định của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đom vị sự nghiệp công lập đã tạo cơ chế phát huy sáng tạo của cơ sở
Nghị định về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Thông tư hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dạy nghề là những quy định mang tính pháp
lý đầu tiên, quan trọng về thu hút đầu tư cho đào tạo nghề, mở ra những hoạt động mới về thu hút nguồn lực từ nước ngoài
Thứ tư, thực hiện các biện pháp thu hút và sử dụng hiệu quá các nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề
Mở rộng các hoạt động thu hút đầu tư như tuyên truyền, hội thảo, ban hành và phổ biến, hướng dẫn văn bản về chính sách, pháp luật về đầu tư
Việc thực hiện các hoạt động đầu tư đã đảm bảo đầy đủ các thủ tục, hồ sơ, chấp hành đúng quy trình, quy phạm Quản lý chặt chẽ quy trình lập và thẩm định dự án đầu tư Tổ chức đấu thầu, chỉ định thầu, lập và thẩm định, phê duyệt quyết toán theo quy định Thực hiện được mục tiêu, tiến độ đầu tư
Trang 5Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
Đã kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư, thu, chi tài chính, bước đầu giúp cho lãnh đạo quản lý các hoạt động đầu tư sát với mục tiêu, định hướng đề ra Chú ý kiểm tra hoạt động đầu tư ngay từ khi lập dự án, đề án mở cơ sở dạy nghề mới hoặc các hoạt động đầu tư từ NSNN
Thứ sáu, bộ máy tổ chức và cán bộ quản lý nhà nước vê quản lý đầu tư đã được kiện toàn lại
Chính phủ đã thành lập lại Tổng cục Dạy nghề, tách QLNN
từ một bộ phận của một vụ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành Tổng cục Dạy nghề Hệ thống QLNN về dạy nghề từ trung ương đến địa phương đang được củng cố, sắp xếp lại, hình thành các phòng Dạy nghề trực thuộc các sở Lao động - Thương binh và
Xã hội Bộ máy QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề được kiện toàn và có sự phân cấp quản lý Cán bộ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề được tăng cường, nâng cao trình độ và đầu tư phương tiện làm việc
Nguyên nhàn của những kết quả trén là:
Thứ nhất, nhận thức mới và đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhân dân về đầu tư phát triển đào tạo nghề: Đảng, Nhà nước đã
đánh giá cao vai trò to lớn của đào tạo nghề trong thời kỳ chuyển sang nền KTTT, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Nhất là từ khi Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (Khoá VIII) đã khẳng định vai trò của đào tạo nghể trong việc phát triển kinh tế
- xã hội, tạo ra sự chuyển biến về nhận thức tích cực của các cấp,
Trang 6các ngành và của toàn xã hội đối với đào tạo nghề, qua đó tàng cường đầu tư, tạo tiền đề thuận lợi cho đào tạo nghề phát triển
Thứ hơi, một sô' chủ trương đúng hướng đã làm thay đổi dầu
tư phát triển đào tạo nghề: Chủ trương gắn đào tạo với sản xuất,
với việc làm, các doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo, mở nhiều ìớp dạy nghề tại xưởng, tại nhà v.v làm cho hệ thống dạy nghề phát triển đa dạng, phong phú, huy động được nguồn lực trực tiếp tại doanh nghiệp như: kinh phí, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, dội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, gắn học lý thuyết với thực hành
và giải quyết việc làm
Chủ trương đa dạng hoá loại hình đào tạo, nghề đào tạo, phương thức đào tạo và chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề được khởi xướng từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới được duy trì,
mở rộng và đẩy mạnh hơn, đã huy động được nhiều nguồn lực đầu tư cho phát triển đào tạo nghề
Thứ ba, tập trung hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề, trong đó có quản lý nhà nước vê đầu tư phát triển đào tạo nghê: Việc tái lập Tổng cục Dạy nghề, các phòng Dạy nghề giúp
cho hệ thống quản lý đào tạo nghề được củng cố, tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, phát triển hệ thống dạy nghể Việc ban hành Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề và một số văn bản dưới luật, nhất là những vàn bản quy định riêng cho đào tạo nghé
đã tậo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho đầu tư phát triển đào tạo nghé
Thứ tư, sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho đầu
tư phát triển đào tạo nghê: Nền kinh tế thị trường, cùng với nó là
những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế trong những năm qua làm tiền đề quan trọng để NSNN ngày càng tãng, có điều kiện để
Trang 7đầu tư cho đào tạo nghề Đồng thời kinh tế tăng trưởng tạo việc làm cho người lao động và khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề Tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 tăng 7,51%, dự kiến 2006 - 2010 tang 7,5% - 8%, thu ngân sách vượt dự kiến, 5 năm 2000 - 2005 tạo được 7,5 triệu việc làm cho người lao động [46, tr.56,76] Đây là động lực trực tiếp thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư cho đào tạo nghề.
Thứ năm, sự viện trợ của nước ngoài: Sự viện trợ của các
nước và tổ chức quốc tế cho đào tạo nghề (viện trợ không hoàn lại chiếm 9% tổng vốn đầu tư) đã tạo động lực cho đào tạo nghể phát triển Các nguồn vốn viện trợ đều có dự án rõ ràng, đầu tư
có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, nhất là các dự án đầu tư cơ sở dạy nghề đạt chuẩn, dự án đầu tư cho biên soạn giáo trình, tài liệu đã đem lại hiệu quả tích cực Các dự án được đánh giá, thẩm định, quản lý chặt chẽ, là nguồn vốn đầu tư có hiệu quả cao
2 Những hạn chê và nguyên nhân
Thứ nhất, cơ cấu đầu tư phát triển đào tạo nghê chưa hợp lý, thiếu tập trung.
Mặc dù đầu tư phát triển đào tạo nghề những năm gần đây tăng lên nhanh chóng, thu hút được các thành phần kinh tế và người học đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhưng vốn đầu tư còn chưa hiệu quả Đó là: Đầu tư thiếu tập trung, còn dàn trải và cơ cấu chưa hợp lý; nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, vẫn áp dụng cơ chế cấp phát; nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước huy động chưa tương xứng điểu kiện xã hội; cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, nhất là đầu tư còn quá chênh lệch giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn; chưa điều chỉnh mạnh
Trang 8phân bổ vốn đầu tư theo hướng cầu, tức là chỉ đầu tư đà( tạo những nghề xã hội cần.
Thứ hai, về xây diùig chiến lược định hướng, quy hoạct, kê hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề
Trong điều kiện nước ta chuyển sang nền KTTT có sự ;uản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiệi hội nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế Nền kinh tế đang tíd cực chuyển sang nền KTTT, cho đến nay các nước ASEAN đã :ông nhận Việt Nam có nền KTTT đầy đủ Nhưng quá trình đổi mới QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề chưa theo kịp xã hộ hóa đào tạo nghề Còn một số tồn tại chủ yếu sau:
Chiến lược định hướng chưa xác định rõ mô hình đà< tạo nghề trong KTTT làm căn cứ cho định hướng đầu tư, chưa tio sự cạnh tranh cần thiết, nhất là cạnh tranh về quy mô, chất lrợng dịch vụ đào tạo, chi phí đào tạo và sự cạnh tranh cần thiết :hác
để tăng đầu tư phát triển đào tạo nghề Chưa có chiến lược lịnh hướng đầu tư vào dịch vụ đào tạo nghề vì mục đích lợi nhuậi và không vì mục đích lợi nhuận
Chưa có những chiến lược, tầm nhìn dài hạn trên 20 lăm Trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nịành, địa phương chưa rõ chiến lược đầu tư phát triển đào tạo rghề Chiến lược định hướng đầu tư NSNN phát triển đào tạo nghểmới
đề ra ưu tiên đầu tư vào công trình trọng điểm, cho vùng khó khăn v.v , nhưng chưa định hướng rõ đầu tư trong gian ioạn nào, ngành nghề gì, đối tượng nào, chiếm tỷ lệ bao nhiêu tong ngân sách, trong đầu tư cho giáo dục, và ngay trong đầu tưohát triển đào tạo nghề, bằng ngân sách trung ương hay ngân sáci địa phương, tỷ lệ giữa ngân sách trung ương hay ngân sách địa phiơng
Trang 9Đặc biệt định hướng đầu tư NSNN phát triển đào tạo nghề cần phải chiếm trên 50% hay dưới 50% hay chỉ cần giữ vị trí quan trọng trong tổng sô' vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề.
Việc quy hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề ở tầm quốc gia mới chỉ đưa ra số vốn cần có, cơ cấu nguồn vốn, nhưng chưa đưa ra quy hoạch cụ thể cho tỉnh, ngành cần đầu tư bao nhiêu, đáu tư vào loại hình trường, lớp nào, nguồn vốn lấy từ đâu, từng giai đoạn cụ thể Đặc biệt các địa phương khi quy hoạch được duyệt, thường do địa phương tự xây dựng, chưa được phản biện, thẩm định của Tổng cục Dạy nghề dẫn đến chưa đảm bảo tính quy hoạch tổng thể
Kế hoạch xây dựng còn chậm, thường cuối kỳ kế hoạch mới được xây dựng và duyệt kế hoạch kỳ sau Trong kế hoạch, chưa
có nhiệm vụ cụ thể cho địa phương, ngành, dẫn đến tính kế hoạch và khả năng thực thi không cao
Thứ ba, vê chính sách, pháp luật đầu tư phát triển đào tạo nghề
Chính sách, pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa tạo ra
sự chuyển biến căn bản vể đầu tư phát triển đào tạo nghề
Việc ban hành các văn bản pháp quy dưới luật chưa kịp thời, dẫn đến nhiều chủ trương tuy đã được đưa ra, nhưng thiếu chính sách và cơ sở pháp lý, gây khó khăn trở ngại lớn trong việc triển khai thực hiện Ví dụ như Luật Dạy nghề, sau nhiều năm tổ chức đào tạo mới ban hành, nhưng hiện nay chưa hoàn thiện các nghị định, thông tư hướng dẫn
Một số văn bản pháp luật đã cũ, không còn phù hợp, nhưng chưa được sửa đổi (như những quy định về thu học phí, định mức chi phí cho một suất đào tạo), một số văn bản mới ban hành còn mang tính tạm thời
Trang 10Một số văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư chưa có chế tài thực hiện rõ ràng, ví dụ như tình hình báo cáo tài chính của các
cơ sở dạy nghề, nhất là các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, chưa thực hiện đúng quy định, nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để yêu cầu thực hiện
Một số văn bản pháp luật đối với đầu tư phát triển đào tạo nghề còn sử dụng các văn bản chung vể đầu tư, chưa được cụ thể trong lĩnh vực đào tạo nghề Phần nhiều văn bản pháp luật đối với đầu tư phát triển đào tạo nghề còn quy định mang tính định hướng, hoặc các quy định khung, các nguyên tắc cơ bản, chưa thể hiện được tính rõ ràng cụ thể, ví dụ như được ưu tiên, khuyến khích đầu tư cụ thể thế nào, giảm bao nhiêu phần trăm thuế, ưu tiên cấp hoặc cho thuê đất thế nào và đặc biệt là thủ tục để được hưởng các quyền lợi ấy Hoạt động đầu tư cho đào tạo nghề là hoạt động đầu tư đặc thù, khác với đầu tư vào các hoạt động kinh
tế đơn thuần, có tác động trực tiếp đến người học và xã hội, dễ gây hậu quả nghiêm trọng, khó bồi hoàn, nhưng thực tế, đối với đầu tư trong nước, chưa ban hành quy định (thông tư) hướng dẫn hoạt động đầu tư, đối với đầu tư nước ngoài, đã có thông tư nhưng chưa quy định trách nhiệm chính, toàn diện, cụ thể của cơ quan quản lý cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài khi đi vào hoạt động
Hệ thống các chính sách, pháp luật chưa tạo ra sự chuyển biến căn bản về đầu tư phát triển đào tạo nghể Cụ thể như:
- Chưa tạo ra cơ chế khuyến khích các cở sở dạy nghề cạnh tranh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhất là chuyển các cơ sở dạy nghề sang loại hình “dịch vụ đào tạo”,
mô hình dạy nghể vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận
Trang 11- Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở theo quy định hiện nay mới chỉ được tự chủ về nhân sự, hạch toán thu chi, chưa được trao quyền tự chủ về chỉ tiêu tuyển sinh, tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đầu ra, điều đó dẫn đến các
cơ sở dạy nghề còn quản lý theo kiểu bao cấp
- Ngân sách nhà nước căn cứ vào chỉ tiêu đào tạo được duyột chứ không căn cứ vào số lượng đào tạo thực tế, số lượng sinh viên tốt nghiệp Ngân sách hỗ trợ cho đào tạo nghề ở các cơ sở dạy nghề ngoài công lập chưa được đặt ra, trong khi đào tạo nghề ngoài công lập đóng góp to lớn cho đào tạo nghề (chiếm khoảng 1/3 vể quy mô đào tạo) NSNN cấp cho cơ sở dạy nghề công lập chưa chuyển theo hướng Nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu đào tạo để tạo ra sự cạnh tranh ngay giữa các cơ sở công lập với nhau
và giữa công lập và ngoài công lập
- Chính sách xây dụng đội ngũ giáo viên chưa rõ ràng, chưa có chiến lược xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu tăng tốc và nâng cao chất lượng dạy nghề Điều đó dẫn đến đội ngũ giáo viên còn thiếu trầm trọng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu
- Chính sách cho các cơ sở dạy nghề ngoài công lập vay tín dụng ưu đãi chưa thực sự khuyến khích, thủ tục vay quá chặt, mức vay không nhiều, nhất là lãi suất vay còn cao, cho nên hạn chế vay vốn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trong khi hoạt động đào tạo nghề thu hồi vốn chậm
- Cấp đất cho các cở sở dạy nghề còn thực hiộn theo cơ chế quản lý cũ Việc bố trí đất để xây dựng cở sở dạy nghề ít được quan tâm trong quy hoạch, thường có diện tích nhỏ, vị trí không thuận lợi cho việc học tập, sinh hoạt, thực tập Đối với các trường
Trang 12dạy nghề cổng lập được Nhà nước giao quyền sử dụng, không phải thuê đất, giá trị sử dụng đất đai thường không tính vào giá trị tài sản, do đó việc tính hiệu quả đầu tư cho đào tạo nghề tại các trường công lập chưa tính đả nguồn lực Cơ chế cấp đất xây dựng cơ sở dạy nghề còn phân biệt giữa công lập và ngoài công lập Cơ sở dạy nghề công lập được cấp đất ở vị trí thuận lợi, diện tích lớn, được cấp ngân sách hàng năm, trong khi các cơ sở dạy nghề ngoài cồng lập phải tự láy thu bù chi, không được cấp NSNN, được cấp hoặc thuê đất ở vị trí không thuận lợi, diện tích quá nhỏ.
- Quy định thu và sử dụng học phí trong các cở sở dạy nghề công lập còn cứng, đến nay đã tám năm không được sửa đổi, mức quy định học phí của học sinh học nghề quá thấp, số lượng học sinh được miễn, giảm học phí giữa các trường không đều nhau
- Cấp học bổng chính sách, trợ cấp xã hội chỉ được thực hiện tại các trường công lập, còn học sinh học nghề ỏ các trường ngoài công lập không được thực hiện
- Định mức chi cho đào tạo nghề được xây dựng từ năm
1989, đến nay đã lạc hậu nhưng chưa xây dựng lại
- Nguồn vốn tự có của cơ sở dạy nghé còn nhỏ, mới chỉ đạt khoảng 3%, dẫn đến khó khăn, nhất là cho cơ sở dạy nghề khi chuyển sang cơ chế tự chủ về tài chính, theo mô hình dịch vụ đào tạo, tự hạch toán, tự cân đối thu chi
Thứ tư, vé các biện pháp huy dộng các nguồn vòn đầu tư phát triển đào tạo nghề
Hiện nay, phong trào học nghề của các tầng lớp xã hội chưa mạnh, chưa thường xuyên, sâu rộng, nhưng những biện pháp tuyên truyền chủ yếu giao cho các đoàn thể, chưa thực sự là
Trang 13nhiệm vụ của chính quyền các cấp Đặc biệt chưa tuyên truyền định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghể cho học sinh phổ thông Những thông tin về đào tạo nghề cho học sinh, lao động nông thôn và công nhân trực tiếp sản xuất còn thiếu.
Môi trường pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, quy định còn quá chung, chủ yếu là các nguyên tắc, chưa thực sự thu hút các nguồn vốn đầu tư từ người học và các tổ chức, cá nhân trong xã hội Trách nhiệm xã hội chưa cao trong việc đầu tư phát triển đào tạo nghề, người sử dụng lao động chưa tự giác làm hết trách nhiệm với xã hội trong việc đào tạo nghề
Quá trình xã hội hóa đầu tư phát triển đào tạo nghề còn chậm so với tiềm năng, mức độ phát triển xã hội hóa chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở thành phố, vùng Đồng bằng sông Hồng
và Dông Nam Bộ, kinh phí đầu tư chủ yếu từ NSNN Nhà nước vẫn sử dụng chính sách bao cấp qua chế độ phí thấp cho tất cả mọi người, tức là cấp ngân sách cho cơ sở dạy nghề công lập và tại cơ sở này, người giàu cũng được cấp kinh phí (cấp theo chỉ tiêu đào tạo)
Việc huy động vốn từ nước ngoài chủ yếu là các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn vay ODA, chưa thực sự
có sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài mở các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho xã hội
Thứ nám, việc tổ chức, điêu hành thiếu cương quyết, công tác kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên
Trong việc thực hiện quy hoạch, sắp xếp các cơ sở dạy nghề còn chỉ đạo chưa cương quyết, dẫn đến các cơ sở dạy nghề được hình thành còn mang tính tự phát, mất cân đối giữa các vùng, miền, làm giảm hiệu quả đầu tư, gây lãng phí chi phí xã hội
Trang 14Đầu tư còn mang nặng bao cấp, vẫn thực hiện cơ chế “xin, cho” trong phân bổ NSNN, nên địa phương, ngành xin được kinh phí từ ngân sách dù ít hay nhiều đểu thành lập trường hoặc trung tâm dạy nghề Từ đó dẫn đến việc đầu tư còn dàn trải, manh múa, kém hiệu quả, quy mô đào tạo nhỏ bé.
Công việc kiểm toán không đủ lực lượng để thực hiện kiểm toán hàng năm đối với các cơ sở dạy nghề, chủ yếu tập trung kiểm toán cơ sở dạy nghề lớn, hoặc các dự án lớn Công tác kiểm định chất lượng và thông tin chất lượng các cơ sở dạy nghề chưa được quan tâm đúng mức Công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chủ yếu kiểm tra, giám sát nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước, việc thực hiện “hậu kiểm” chưa được thực hiện Chế độ thông tin, báo cáo và công khai hóa hoạt động đầu tư thực hiện chưa nghiêm túc, đặc biệt là các cơ sở dạy nghề ngoài công lập
Thứ sáu, về hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư phát triển dào tạo nghề
Bộ máy tổ chức, cán bộ QLNN về đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề thiếu ổn định, chức năng, nhiệm vụ chưa
rõ ràng Chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan QLNN về đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương còn bị chồng chéo, nhiều chỗ không rõ ràng, nhất là mối quan hộ giữa ngành và lãnh thổ trong việc quản lý nhân sự, ngân sách đào tạo Đặc biệt chưa hình thành được hệ thống phàn cấp quản lý hợp lý - yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự hoạt động có hiệu quả cho từng cơ quan, đơn vị và cá nhân thực hiên Mặt khác, ở nhiều bộ, ngành trung ương và địa phương sự phối hợp về thông tin chưa kịp thời, phối hợp quản lý và chỉ đạo còn rời rạc, dẫn đến kém hiệu quả
Ở Trung ương, cơ chế phối hợp trong quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên giữa Bộ Kế hoạch và
Trang 15Đầu tư với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Tổng cục Dạy nghề) chưa được xây dựng và thực hiện có hiệu quả, dẫn đến ảnh hưởng lớn đến chiến lược, kế hoạch đầu tư, thực hiện cân đối trong đầu tư và đầu tư có trọng điểm.
Hệ thống các cơ quan QLNN về đào tạo nghề tại địa phương không đủ lực lượng và kinh nghiệm chuyên sâu về quản lý đầu tư Kinh phí từ ngân sách địa phương cấp cho đào tạo nghề chịu sự quản lý trực tiếp của uỷ ban nhân dân cùng cấp, nên hình thành hai nguồn vốn ngân sách (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương) cấp cho một cơ sở dạy nghề, nếu không có sự phối hợp tốt giữa cơ quan QLNN ở trung ương với
cơ quan QLNN ở địa phương sẽ dẫn đến chồng chéo, phá vỡ quy hoạch
Việc thành lập Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thuận lợi cho gắn đào tạo với thực hiện chính sách xã hội, việc làm với người lao động, gắn thông tin thị trường lao động với thị trường đào tạo nghề, nhưng khó khăn trong thống nhất QLNN về đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay tồn tại nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo nghé, ngay cả các trường dạy nghề cũng thực hiện đào tạo nghề bậc cao, đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề, như vậy một cơ sở đào tạo chịu quản lý nhà nước của hai
bộ và khi đẩu tư thì khó phân biệt giữa đầu tư cho cấp học nào, thực hiện quy định về đầu tư của bộ nào (thực hiện quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), nhất là việc nghiên cứu thực hiện liên thông giữa các cấp đào tạo
Trang 16Nguyên nhân hạn chế: Nguyên nhân chủ quan, trực tiếp
dẫn đến hạn chế quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề là:
Thứ nhất, môi trườììg đấu tư phát triển đào tạo nghề chưa thực sự hấp dần nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước
Đối với các doanh nghiệp, mục tiêu hàng* đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, đầu tư cho đào tạo nghề chưa trở thành dịch
vụ thu lợi nhuận cao nên các doanh nghiệp chưa thiết tha với đầu
tư xây dựng trường, lớp dạy nghề Do thị trường lao động cung lớn hơn cầu, số lao động thất nghiệp năm 2006 chiếm 5,15% lực lượng lao động, hơn nữa, quy mô lao động trung bình một doanh nghiệp quá nhỏ khoảng 50 lao động [4, tr.9], doanh nghiệp không phải hoàn vốn đào tạo cho cơ sở dạy nghề, nên các doanh nghiệp chỉ tuyển lao động đã có nghề, không muốn đầu tư cho đào tạo nghề phục vụ yêu cầu nhân lực của doanh nghiệp Hiện nay có một số doanh nghiệp tham gia đào tạo nhưng thường là doanh nghiệp lớn
Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động cũng từ NSNN là chính, nên đầu tư cho phát triển đào tạo nghề cũng dựa trên nguồn kinh phí Nhà nước cấp phát, chỉ khác là NSNN giao cho các tổ chức chính trị - xã hội đào tạo nghề cho phù hợp với đối tượng vận động, phát huy cơ sở vật chất sẵn có và đội ngũ cán bộ quản lý, mạng lưới hoạt động của các tổ chức đó
Đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, chủ yếu nguồn vốn đầu tư là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay theo dạng ODA (đây là khoản đầu tư có giới hạn), còn hình thức doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp thì môi trường chưa thực sự hấp dẫn
Trang 17Đối với người học, đẩu tư cho đào tạo nghề không phải là hướng ưu tiên của các gia đình và bản thân người học.
Thứ hai, cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư phát triển đào tạo nghề chậm đổi mới
Đầu tư phát triển đào tạo nghề trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT là vấn đề mới đang tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn chỉnh Thực chất khi bàn về đổi mới đầu tư cho giáo dục nói chung, đào tạo nghề nói riêng mới được bàn luận nhiều từ năm 1996 đến nay Những vấn đề mới về mô hình đào tạo nghề tròng nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trong thời gian nghiên cứu Lĩnh vực đầu tư cho đào tạo nghề là lĩnh vực đầu tư có đặc thù riêng,
nó khác với đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác, nó có tác động đến nhiều đối tượng trong xã hội cho nên rất cần thận trọng trong từng bước đi
Tuy nhiên, về chủ quan, mặc dù nền kinh tế đã có sự chuyển biến mạnh mẽ sang cơ chế thị trường, nhưng cơ chế, chính sách đầu tư phát triển đào tạo nghề vẫn còn tư duy và tổ chức thực hiện theo thói quen bao cấp, về cơ bản đào tạo nghề vẫn theo “hướng cung”, tức là thiếu dự báo về thị trường đào tạo nghề, việc học nghề còn theo ý thích chủ quan, việc dạy nghề vẫn có điều kiộn như thế nào thì dạy thê' đó, dẫn đến chưa đáp ứng yêu cầu thị trưcmg lao động, nhất nhu cầu lao động có chất lượng cao
Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở dạy nghề mới dừng lại ở việc trao quyền tự chủ về tài chính, nhân sự, còn nhiều vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm về chỉ tiêu đào tạo, chất lượng đào tạo chưa được thực hiện
Trang 18Nhiều vấn đề về lý luận phát triển đào tạo nghề trong giai đoạn mới chưa quan tâm đúng mức, nhất là chuyển đổi sang cơ chế “dịch vụ đào tạo”, hay cơ chê “thị trường đào tạo nghề" có
sự quản lý của Nhà nước
Hàng loạt các chính sách chậm sửa đổi, bổ sung và cần ban hành mới Trong các vãn bản pháp luật chưa quy định một cách
cụ thể, thiết thực và có tính hấp dản, rõ ràng, minh bạch như: Chính sách đầu tư từ NSNN; chính sách phân luồng trong hộ thống giáo dục quốc dân và liên thông giữa các cấp dạy nghề; chính sách đầu tư cho đào tạo nghề; chính sách sử dụng lao động qua đào tạo; chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề; chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cho đào tạo nghề
Thứ ba, quá trình tổ chức, điều hành còn thiếu cư(Jng quyết
Việc triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch còn chậm, nhất là triển khai đầu tư xây dựng các trường chất lượng cao, trường trọng điểm, trung tâm dạy nghề cấp huyện và cho các vùng nông thôn, vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên Hiện nay,
về cơ bản pháp luật đã đưa ra được các khung pháp lý, các nguyên tắc cần thiết để điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhưng trong quá trình điều hành chưa kiên quyết, dẫn đến đầu tư còn manh mún, dàn trải, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, nhất là mất cân đối về đầu tư giữa các vùng, giữa khu vực thành thị và khu vực nồng thôn
Thứ tư, hệ thống tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu
Từ năm 1998 đến nay, cơ quan QLNN về đào tạo nghề được củng cố lại, nhưng đội ngũ cán bộ còn quá mỏng, khó khăn
Trang 19cho việc nghiên cứu xày dựng hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện các nội dung về quản lý đầu tư phát triển đào tạo nghề trong tình hình mới Chưa xây dựng được trung tâm thông tin đủ mạnh để giúp cập nhật thông tin, xử lý thông tin và đưa ra dự báo khoa học về thị trường đào tạo nghề, thị trường lao động làm căn cứ cho hoạt động quản lý đầu tư phát triển đào tạo nghề.
Cán bộ QLNN từ trung ương tới địa phương và cán bộ quản
lý của cơ sở dạy nghề chưa am hiểu nhiểu về quản lý hoạt động đầu tư Đa phần là những cán bộ chính sách, cán bộ quản lý giáo dục, tỷ lệ cán bộ có trình độ vừa có kiến thức quản lý giáo dục, vừa quản lý kinh tế ít, nhất là tại địa phương
Trang 20Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam Sự cạnh tranh giữa các quốc gia về kinh tế - thương mại, kỹ thuật - công nghệ ngày càng quyết liệt; lựi thế cạnh tranh thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao.
Sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, sự chuyển biến từ nền kinh
tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức đã đặt ra yêu cầu mới về
Trang 21chất lượng và cơ cấu lao động trong hoạt động kinh tế Quan niệm “học để làm” vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của
là dịch vụ đào tạo mang tính thương mại Các dịch vụ đào tạo đã mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ lao động trong nền kinh
tế thị trường, coi đào tạo nghề là hàng hoá đặc biệt có sứ mạng cao quý đối với con người, nhưng nó chịu chi phối của kinh tế thị trường và sự quản lý của Nhà nước Các dịch vụ đào tạo này đã được hình thành từ nhiều năm, được sự khuyến khích của Chính phủ, đã đầu tư, nâng cao chất lượng, thực hiện cơ chế cạnh tranh, nhất là cạnh tranh để thu hút người học Nhiều cơ sở dạy nghề của các nước phát triển, các nước trong khu vực đã đạt chuẩn quốc tế, đang là mô hình mẫu, có đủ năng lực cạnh tranh trong thị trường đào tạo quốc tế, và đây là những đối thủ cạnh tranh với
cơ sở dạy nghề trong nước khi Việt Nam mở cửa dịch vụ đào tạo
Dối với bôi cảnh trong nước có nhiều yếu tô' tác động đến đào tạo nghề, đó là:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định sớm đưa nước ta ra khỏi nước kém phát triển, để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
Trang 22đại, tiếp tục coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề.
Đảng và Chính phủ ngày càng quan tâm và chú trọng đầu tư cho đào tạo nghề, xã hội ngày càng quan tâm đến việc học nghề Luật Dạy nghề ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho đào tạo nghề phát triển nhanh và bền vững
Kinh tế của Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng ở mức cao, tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, tạo cơ hội cho đào tạo nghề phát triển, nhưng cũng đòi hỏi đào tạo nghề phải có bước chuyển biến mạnh mẽ để đáp ứng được đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đặc biệt là sự chuyển dịch
cơ cấu lao động ở vùng nông thôn Với việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ, kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới với trình độ cao, đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ tương ứng
Sự phát triển không đồng đều giữa các ngành, vùng, địa phương; mật độ dân số, nguồn nhân lực và tốc độ đô thị hoá khác nhau giữa các vùng đòi hỏi mạng lưới cơ sở dạy nghề cũng phải được xây dựng, phát triển và phân bố phù hợp, thích ứng với đặc điểm, điều kiện của từng ngành, từng địa bàn
Trong cơ cấu nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật chiếm một tỷ trọng lớn, để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân kỹ thuật, thực hiện giảm tỷ lệ lao động phổ thông, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo
Trang 23Hiện nay, Việt Nam đang tích cực xây dựng nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang tích cực chủ động hội nhập, trong đó có hội nhập về giáo dục và đào tạo, mà nhiều năm còn “đóng cửa” Xu hướng hiện đại hoá, đại chúng hoá, đa dạng hoá, thị trường hoá và quốc tế hoá đào tạo đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi Việt Nam cần chủ động, nỗ lực tham gia vào thị trường đào tạo Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO,
là thành viên của WTO, Việt Nam phải thực hiện các cam kết mở cửa dịch vụ đào tạo, tham gia vào tiến trình quốc tế hoá dịch vụ đào tạo, cần tiếp tục sửa đổi, ban hành mới hệ thống pháp luật,
cơ chế chính sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó chấp nhận cơ chế thì trường trong đào tạo nghề
Đối với đào tạo nghể, hiện nay đang tích cực triển khai thực hiện Luật Giáo dục năm 2005, Luật Dạy nghề năm 2006, theo
đó, dạy nghề không chỉ đào tạo trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề mà đào tạo ở trình độ cao đẳng nghề, liên thông đào tạo kỹ
sư thực hành
Bối cảnh mới, vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với sự nghiệp dạy nghề, đồng thời cần có nhiều thay dổi về cơ chế, chính sách, tổ chức và phương thức hoạt động
2 Định hướng phát triển đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề
Trong chiến lược phát triển đào tạo nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đào tạo nghề phải đạt được các mục tiêu chủ yếu: Tăng nhanh quy mô, mở rộng ngành, nghề đào tạo,
tổ chức đào tạo đa dạng, linh hoạt, liên thông nhằm tạo đà cho đào tạo nghề phát triển Đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa đào tạo đại
Trang 24học, cao đẳng trở lên so với đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề Hình thành mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa các ngành, các vùng, các địa phương, giữa thành thị và nông thôn, đồng thời xây dựng một số
cơ sở dạy nghề trọng điểm Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo, tập trung đào tạo nghề trình độ cao, đạt trình độ tiên tiến của khu vực, có những ngành nghề đạt trình độ tiên tiến của thế giới, có đủ sức cạnh tranh với các cơ sở dạy nghề nước ngoài Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, của công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập thị trường lao động quốc tế Nâng cao hiệu quả đào tạo, chuyển đào tạo nghể từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động, thực hiện công bằng trong đào tạo nghề Ngoài ra, theo tác giả cần xây dựng mô hình đào tạo nghề cho phù hợp với cơ chế thị trường đào tạo có sự quản lý của Nhà nước, tức là Việt Nam cũng có thị trường đào tạo nghể
Để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đào tạo nghề, phương hướng phát triển đào tạo nghề theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra là: Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới [46, tr.96]
Thực hiện chủ trương trên, đòi hỏi dạy nghề phải được đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, bảo đảm hợp lý về cơ cấu ngành nghề,
Trang 25trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề, gấn đào tạo với
sử dụng, đào tạo với giải quyết việc làm, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Định hướng phát triển đào tạo nghê như sau:
1 Phát triển đào tạo nghề là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trong phát triển nguồn nhân lực cho nền KTTT hiện nay Phát triển đào tạo nghề gắn liền chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, đào tạo nghề là quốc sách hàng đầu Có chiến lược đào tạo nghề trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá Từng bước xây dựng các dịch vụ đào tạo, một loại dịch vụ đặc biệt hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, có khả năng thực hiện dịch vụ đào tạo cho lao động trong nước, cho lao động xuất khẩu và hướng tới dịch vụ đào tạo cho lao động khu vực
2 Phát triển đào tạo nghề theo hướng cầu của thị trường lao động, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng địa phương và nhu cầu việc làm của người lao động
3 Phát triển đào tạo nghề theo hướng đa dạng hoá cơ sở dạy nghề, ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, phương thức đào tạo; đảm bảo cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu trình độ đào tạo hợp lý, phù hợp với cơ cấu ngành, nghề; cơ cấu trình độ lao động; cơ cấu vùng, miền, khu vực
4 Phát triển đào tạo nghề theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá một cách toàn diện, đồng bộ, từ mục tiêu, nội dung chương
Trang 26trình, phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá kết quả học
tập, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề;
đồng thời có sự lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, tiếp thu có chọn lọc
kinh nghiệm tiên tiến của các nước, tạo bước đột phá trong đào
tạo nghề
5 Phát triển đào tạo nghề theo hướng xã hội hóa, tạo điếu
kiện thuận lợi về cơ chế chính sách để các tổ chức, cá nhân, nhất
là các doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh
doanh tham gia phát triển đào tạo nghề; đồng thời phải bảo đảm
công bằng về cơ hội học nghề cho mọi người
6 Phát triển đào tạo nghề hội nhập khu vực, quốc tế, hình
thành các cơ sở dạy nghề có chất lượng để cạnh tranh với các
cơ sở dạy nghể nước ngoài khi Việt Nam mở cửa dịch vụ đào
tạo nghề
7 Một số chỉ tiêu định hướng phát triển đào tạo nghề đến
năm 2010 và 2020 như sau:
- Về chỉ tiêu đào tạo nghề: Năm 2010 đào tạo nghề giúp
khắc phục cơ bản sự thiếu hụt lao động trình độ cao, tức là cân
bằng cung cầu về thị trường lao động trình độ cao, phấn đấu đạt
trên 40% lao động qua đào tạo trong tổng số lao động xã hội
(Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra chỉ tiêu là
40%, theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển
khai kế hoạch dạy nghề giai đoạn 2007-2010 là 50%), trong đó
tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 32% tổng sô' lao động được
đào tạo Phấn đấu bình quân giai đoạn 2007 - 2010 hàng năm
đào tạo cho 1,5 - 2 triệu người, trong đó trình độ trung cấp nghề,
cao đẳng nghề chiếm khoảng 25-30%, 80% số người qua đào tạo
nghể có việc làm sau khi tốt nghiệp [4, tr.29] Giai đoạn 2011 - 2020,
Trang 27quy mô dạy nghề chính quy hàng năm duy trì bằng mức năm
2010, tăng quy mô dạy nghề ngắn hạn để đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 55% vào năm 2020 [88, tr.9]
- Vê phát triển cơ sở dạy nghê: Đến năm 2010 cả nước có
270 trường trung cấp nghề, 90 trường cao đẳng nghề (có 50 trường đạt chuẩn, 3 trường tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực), 700 trung tâm dạy nghề, mỗi quận, huyện có ít nhất 1
trung tàm dạy nghề [4, tr.29-30] Dự kiến đến năm 2020 có 20 trường đại học nghề, 300 trường cao đẳng nghề (trong đó 30 trường tiếp cận trình độ tiên tiến khu vực và quốc tế), 330 trường trung cấp nghề, 1000 trung tâm dạy nghề Phát triển cơ sở dạy nghề ngoài công lập, đảm bảo đến năm 2010 có ít nhất 60% là
cơ sở dạy nghề ngoài công lập [88, tr.9]
-V ẻ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản ỉỷ dạy nghề: Đến năm
2010, tỷ lộ giáo viên/học sinh là 1/20; 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo; 5% giáo viên trong các trường trung cấp nghề
và 15% giáo viên trong các trường cao đẳng nghề có trình độ sau đại học Có 10% số cán bộ quản lý dạy nghề ở các cấp, 30% hiệu trưởng trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, giám đốc (rung tâm dạy nghề được qua lớp đào tạo nghiệp vụ quản lý dạy nghề theo hướng chuẩn hoá Đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu để thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư và Quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010 Dự kiến đến năm 2020, tỷ lệ giáo viên/học sinh là 1/15; 10% giáo viên các trường trung cấp nghề, 30% giáo viên các trường cao đẳng nghề
và 40% giáo viên các trường đại học nghề có trình độ sau đại
Trang 28học Có 100% số cán bộ quản lý dạy nghề các cấp được đào tạo nghiộp vụ quản lý về dạy nghề [88, tr.9].
Định hướng đầu tu phát triển đào tạo nghé như sau:
1 Đầu tư cho đào tạo nghề là đầu tư phát triển Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách cho giáo dục (trong đó có đào tạo nghề), đảm bảo chi ngân sách cho giáo dục hàng năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước Nhà nước ưu tiên đầu
tư đất đai xây dựng các cơ sở dạy nghề, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển đào tạo nghề
2 Đầu tư từ NSNN đảm bảo giữ vai trò định hướng phát triển đào tạo nghề, phù hợp với phát triển KTTT có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước không bao cấp cho đào tạo nghề, nhưng Nhà nước
sử dụng nguồn lực tài chính của mình để đầu tư vào cơ sở dạy nghề trọng điểm, đầu tư vào những hoạt động đào tạo cần thiết mà
tư nhân hoặc các tổ chức ngoài nhà nước không muốn đầu tư hoặc đầu tư không có hiệu quả, ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, đào tạo đội ngũ giáo viên Nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính của mình để hỗ trợ đào tạo giáo viên, nghiên cứu nội dung chương trình, giáo trình cho các loại hình cơ
sở dạy nghề
3 Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển đào tạo nghể Từng bước nâng cao tỷ lệ đầu tư ngoài NSNN cho đào tạo nghề, coi nguồn vốn ngoài ngân sách là nguồn vốn quan trọng, nguồn vốn cơ bản trong chiến lược đầu tư phát triển đào tạo nghề Phát huy vai trò, sức mạnh cùa các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp trong việc đầu tư phát triển đào tạo nghề cho chính mình và cho xã hội Thừa nhận đầu tư cho đào tạo nghề từ nguồn vốn ngoài NSNN có vì mục đích lợi nhuận và được phép đầu tư vào cơ sở dạy nghề có lợi nhuận cao
Trang 294 Tập trung nguồn vốn đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, nâng cấp cơ sở dạy nghề, phát* triển nhanh số lượng lao động được đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lao động cho sự phát triển mạnh mẽ của nền KTTT.
5 Khuyến khích các nguồn vốn đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khắc phục việc đầu tư dàn trải Tập trung đầu tư đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hóa trang thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, xây dụng một sô' cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩu tư nâng cao chất lượng đào tạo, hình thành dịch vụ đào tạo có sức cạnh tranh trong quá trình chuyển đổi đào tạo nghề từ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
6 Chú trọng, ưu tiên, khuyến khích đầu tư đào tạo nghề cho lao động nông thôn, miền núi, vùng khó khăn Đầu tư hỗ trợ người có công, quân nhân xuất ngũ, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất và những đối tượng chính sách khác nhằm tạo điểu kiện cho họ được học nghề
để tìm việc làm, lập thân, lập nghiệp
7 Nâng cao hiệu quả của đầu tư, thực hiện “hạch toán trong đào tạo”, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng cần được “hạch toán”, phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư, nhưng lấy hiệu quả xã hội là mục tiêu chính
8 Chỉ tiêu định hướng về đầu tư phát triển đào tạo nghề đến năm 2010 và năm 2020: Theo dự toán của Đề án đổi mới dạy nghề
- Tổng cục Dạy nghề cần nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề
ở mức tối thiểu (thưa tính đến các dự án đầu tư hỗ trợ dạy nghề và
Trang 30tạo việc làm cho thanh niên, dự án của các tổ chức chính trị xã hội, hoặc sự biến động lớn của đào tạo nghề) như sau:
- Giai đoạn 2006 - 2010 cần khoảng 71.000 tỷ đồng, trong
đó 42.000 tỷ đồng đầu tư từ NSNN (có cả vốn vay ODA) để đạt 10-12% trone tổng NSNN chi cho giáo dục và đào tạo và 29.000
tỷ đồng ngoài ngân sách NSNN dự kiến chi thường xuyên là 15.000 tỷ đồng, chi chương trình mục tiêu là 6.000 tỷ đổng, chi xây dựng cơ bản là 21.000 tỷ đổng Nguồn vốn ngoài NSNN, dân đóng góp (chủ yếu là học phí) là 9.600 tỷ đồng (chiếm 13% tổng vốn đầu tư, tương tự doanh nghiệp là 15.600 tỷ đồng (chiếm 22%), cơ sở dạy nghề là 3.800 tỷ đồng (chiếm 6%)
- Giai đoạn 2011 - 2020 là: 200.000 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn NSNN cần khoảng 140.000 tỷ đồng (có cả vốn vay ODA), còn lại nguồn vốn được huy động từ xã hội khoảng 60.000 tỷ đồng, trong đó NSNN chi chương trình mục tiêu là 50.000 tỷ đồng, còn lại là chi thường xuyên và chi xây dụng cơ bản [88, tr.23]
Tuy nhiên, theo tác giả, nguồn kinh phí trên là nguồn kinh phí dự kiến theo kế hoạch, còn trong thực tế đến năm 2010 và năm 2020 đào tạo nghề của Việt Nam đang trong quá trình chuyển biến mạnh mẽ từ cơ chế, chính sách, đến những chủ trương, chiến lược mới về đào tạo nghề, yêu cầu chất lượng đào tạo và mở cửa dịch vụ đào tạo nghề sẽ tạo ra những đột phá vể đầu tư cho đào tạo nghề
3 Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề
Để phát triển đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện dại hóa, cần hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghể theo hướng sau:
Trang 311 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy để cụ thể hóa Luật Dạy nghề và cơ chế, chính sách cho việc hình thành thị trường đào tạo nghề, tạo hành lang pháp lý đồng bộ theo mô hình đào tạo nghề trong nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước Tiếp tục triển khai nghiêm túc việc thực hiện những quy định của hệ thống luật pháp.
2 Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển đào tạo nghề trong tình hình mới Tiếp tục triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề 2002 - 2010, kế hoạch đào tạo nghề
2006 - 2010, tăng cường công tác thông tin, công tác dự báo trong hệ thống dạy nghề, từng ngành, địa phương để kịp thời điều chỉnh kế hoạch đào tạo nghề của các ngành, địa phương cho phù hợp với kế hoạch chung của cả nước
3 Tập trung điều chỉnh cơ cấu trình độ, xây dựng đào tạo nghề ở 3 cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) theo quy định của Luật Dạy nghề, mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo, loại hình trường lớp, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm làm cho đào tạo nghề phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội
4 Tăng cường quản lý chất lượng dạy nghề thông qua các quy định về điều kiện tổ chức đào tạo, điều kiện mở lớp, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật nghể, chương trình, giáp trình, tiêu chuẩn đội ngũ giáo viên và tập trung kiểm tra việc chấp hành 'các quy định, quy chế của các cơ sở dạy nghề
5 Có chính sách, biện pháp phát triển và kiểm soát thị trường lao động, thực hiện chuyển đào tạo nghề từ cung sang cầu
6 Tăng ngân sách đầu tư cho đào tạo nghề, đồng thời có chính sách, cơ chế đủ mạnh để huy động, sử dụng có hiệu quả
Trang 32các nguồn vốn trong nước và ngoài nước đầu tư cho đào tạo nghề Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển đào tạo nghề.
7 Củng cố và xây dựng cơ quan QLNN về đào tạo nghề, hình thành bộ phận nghiên cứu chiến lược đào tạo nghề (trong đó
có chiến lược về đầu tư phát triển đào tạo nghề), các phòng dạy nghề của các tỉnh, ngành, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về đào tạo nghề
8 Đổi mới QLNN về đào tạo nghề theo hướng tập trung làm tốt chức năng QLNN về đào tạo nghề, tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cho phù hợp với nền KTTT và hội nhập quốc tế, tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt và kiểm tra chặt chẽ, nghiêm túc việc thực hiện Đổi mới QLNN về đào tạo nghể theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở dạy nghề, thúc đẩy cạnh tranh giữa các cơ sở dạy nghề và hệ thống dạy nghề trong quá trình hội nhập quốc tế
Hoàn thiện QLNN vế đầu tư phát triển đào tạo nghề là một nội dung quan trọng của hoàn thiện QLNN về đào tạo nghề, cần thực hiện nội dung, nhiệm vụ theo hướng sau:
1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa đầu tư phát triển đào tạo nghề, thực hiện cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo nghề, đồng thời có chính sách hỗ trợ người nghèo có thể học nghề, thực hiện công bằng trong đào tạo nghề
2 Đổi mới cơ chế cấp NSNN theo hướng tăng ngân sách cho đào tạo nghề, đi đôi với khắc phục cơ chế đầu tư theo tư duy bao cấp, cơ chế “xin - cho”, đẩu tư không tính đến hiệu quả kinh tế-
xã hội, manh mún, dàn trải, thiếu tập trung, thống nhất Tiếp tục
Trang 33hoàn thiện chính sách thuế, đất đai, chính sách với người học nhăm khuyến khích đầu tư cho mở cơ sở dạy nghề trong và ngoài công lập.
3 Tiếp tục hoàn thiện chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn đầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền KTTT và hội nhập quốc tế Thực hiện tốt vai trò dự báo thị trường lao động, thị trường đào tạo nghề để giúp đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghể sát với yêu cầu thị trường, giúp hoàn thiện chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề
4 Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý và các điều kiện bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhất là bình đẳng về việc thành lập cơ sở dạy nghề, chỉ tiêu đào tạo, công nhận kết quả đào tạo, vãn bằng đào tạo, miễn, giảm thuế, ưu tiên cấp hoặc cho thuê đất đai, hỗ trợ kinh phí
5 Hoàn thiện QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề theo hướng Nhà nước tiếp tục tập trung thực hiện chức năng QLNN, tỉing quyển tự chủ đầy đủ về đầu tư cho các cơ sở dạy nghề, nâng cao trách nhiệm xã hội, thúc đẩy cạnh tranh giữa các cơ sở dạy nghề
6 Hoàn thiện QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện định hướng, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư phát triển đào tạo nghề, phát hiộn kịp thời những lệch lạc
để uốn nắn, điểu chỉnh
Trang 347 Củng cố, hoàn thiện bộ máy cơ quan QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề, hình thành bộ phận nghiên cứu chiến lược, cơ chế, chính sách phát triển đào tạo nghề, trong đó có nghiên cứu chiến lược, cơ chế, chính sách và xúc tiến hoạt động đầu tư phát triển đào tạo nghề Xây dựng bộ máy quản lý thống nhất từ trung ương tới địa phương, có sự phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, cơ sở trong quản lý nguồn vốn đầu tư Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính trong thu hút các nguồn vốn đầu tư, đơn giản tối đa thủ tục mở các cơ sở dạy nghổ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý vể đào tạo nghề, đặc biệt là cán bộ QLNN và cán bộ quản lý chủ chốt của các cơ sở dạy nghề.
II GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NUÓc VỀ ĐAU
TƯ PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ
1 Hoàn thiện hệ thống các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề
Tăng cường pháp chế trong đầu tư phát triển đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu chuyển đổi hình thức đầu tư theo mố hình kế hoạch hóa sang mô hình thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với nhiều thành phần trong và ngoài nước cùng tham gia đầu tư Hoàn thiện hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật quản lý các loại hình đầu tư, khuyến khích đầu tư, bảo đảm quyền lợi của các chủ thể đầu tư, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu
tư, phân công, phân nhiệm giữa, các cơ quan, các cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý hoạt động đầu tư
Trang 35Việc ban hành Bộ luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề và các văn bản dưới luật đã bước đầu phát huy tác dụng Song đào tạo nghề là một lĩnh vực đào tạo có những đặc thù riêng gắn chặt với sản xuất, việc làm, đòi hỏi đầu
tư tôn kém, với sự tham gia của toàn xã hội, do đó cần có một hành lang pháp lý thích hợp Hiện nay, hệ thống của các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu và lạc hậu cần phải sửa đổi, bổ sung và ban hành mới cho phù hợp yêu cầu QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề Cụ thể cần tập trung vào xây dựng các văn bản pháp luật và các quy định sau:
- Xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ, các văn bản dưới luật cụ thể hoá Luật Dạy nghề, nhất là các điều 62, 72,
84, 86, 88, 89 và một số nội dung khác của Luật Dạy nghề Đối với vấn đề cụ thể hóa về đầu tư và QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề, theo tác giả cần làm rõ một số nội dung sau:
+ Cần làm rõ nhiệm vụ của cơ quan QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề, quan hệ giữa Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội với các bộ, các ngành, tỉnh, thành phố, đặc biệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng
cơ chế chính sách, định hướng, quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề, thực hiện QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề trên phạm vi quốc gia, ngành, địa phương, nhất là đối với
cơ sở dạy nghề được sự đầu tư của nhiều nguồn ngân sách hoặc
cơ sở đào tạo có tham gia đào tạo nghề
+ Vấn để sở hữu của các cơ sở dạy nghề công lập, tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài Vấn đề vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận trong đào tạo nghề, chính sách ưu đãi đối với từng loại hình cơ sở dạy nghề Cơ chế quản lý đối với từng loại
Trang 36hình cơ sở đào tạo Vấn đề cổ phần hóa cơ sở dạy nghề Vấn đề cạnh tranh giữa các cơ sở dạy nghề, ngay cả cơ sở dạy nghề công ích được Nhà nước đầu tư cũng phải cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ, nếu dịch vụ tốt được Nhà nước hàng năm đặt hàng (gắn với đặt hàng là cấp kinh phí) Vấn đề đấu thầu trong đào tạo nghề từ NSNN.
+ Xây dựng quỹ hỗ trợ học nghề, cần rõ cơ quan quản lý quỹ, hình thức đóng góp và quản lý quỹ, cơ chế giám sát quỹ
+ Quy định chế tài thực hiện quy định về thanh tra, giám sát các hoạt động đầu tư cho đào tạo nghề, nhất là đối với các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, thanh tra nội bộ các cấp QLNN về đào tạo nghề sao cho các hoạt động thanh tra, giám sát được thực hiện nghiêm túc hơn
+ Có chính sách đầu tư tích cực đối với đào tạo, nâng cao đời sống đội ngũ giáo viên
- Hoàn thiện các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các cơ sở dạy nghề công lập, ngoài công lập; các cơ sở liên doanh, liên kết; các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó quy định rõ về trách nhiệm, mục tiêu hoạt động, nội dung đào tạo, chất lượng đào tạo, sản phẩm đào tạo, chế độ sở hữu, cơ chế hoạt động, chế độ tài chính, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ thuế
- Quy định về chế độ thông tin, báo cáo Trong thông tin báo cáo cần đánh giá đúng tình hình, kịp thời, thông tin hai chiều từ dưới lên, từ trên xuống và yêu cầu thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho hệ thống đào tạo nghể và cho
xã hội
- Xây dựng một số định mức chi phí tối thiểu cho đào tạo một nghề, một bậc thợ Thiết lập một hệ thống kiểm định
Trang 37chất lượng đào tạo gồm: Mục tiêu đào tạo; tổ chức và quản lý đào tạo; tuyển sinh; nội dung chương trình; đội ngũ cán bộ, giáo viên; tài chính, tài sản, các thiết bị; dịch vụ phục vụ học sinh; kết quả học tập và các chế tài bắt buộc việc thực hiện kiểm định.
- Sửa đổi và ban hành các quy định cần thiết như: Quy chế về
tổ chức, hoạt động trong các loại hình cơ sở dạy nghề; quy định chức nãng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề các cấp; quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến quản lý cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài; quy định về phân luồng giữa giáo dục và dạy nghề, liên thông giữa các cấp học nghề (hiện nay mới thực hiện theo quy định tạm thời); quy định về thủ tục thành lập, chia, tách cơ sở dạy nghề theo cơ chế “một cửa”
- Hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư phát triển đào tạo nghề như: Chính sách ưu đãi đối với cơ sở dạy nghề, chính sách tuyển sinh, chính sách đối với người dạy nghề và người học nghề
2 Đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghề nhằm thu hút và
sử dụng hiệu quả đầu tư phát triển đào tạo nghề
Xã hội hoá đào tạo nghề là giải pháp quan trọng thu hút và
sử dụng hiệu quả đầu tư phát triển đào tạo nghề của nước ta hiện nay Xã hội hoá đào tạo nghé dựa trên cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo Cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo là việc huy động các đối tượng như: Nhà nước, gia đình và bản thân người học, người sử dụng lao động, cộng đồng xã hội tham gia đóng góp nguồn lực cho đào tạo nghề
Trang 38Lý do cơ bản thực hiện cơ ch ế này là:
- Nhu cầu học nghề và chất lượng đào tạo nghề ngà) càng cao, kinh phí đầu tư cho đào tạo nghề là quá lớn và ngà) càng tăng, trong khi nguồn vốn từ ngân sách chi cho đào tạo nghề không đủ sức tăng tương ứng với yêu cầu kinh phí đào tạc Hơn nữa, khác với hệ thống giáo dục phổ thông mang tính ph) cập, đại trà, cấp học mang tính bắt buộc, được Nhà nước bao cấ) toàn
bộ, còn đào tạo nghề mang tính tự nguyện, lợi ích đem lại (ho cá nhân nhiều hơn lợi ích đem lại cho xã hội, do đó người h)c trả tiền là nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục, công bằng trong chi ngân sách và dành ngân sách chi cho các lợi ích cồng cộng khác cần hơn
- Các nước trên thê giới đều áp dụng cơ chế chia sẻ cii phí trong đào tạo nghề, ngay cả các nước phát triển như Anh Đức sau một thời gian không thu học phí học nghề thì nay đã tiíp tục thực hiện việc thu học phí
- Đối với nước ta chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề dễn ra còn chậm so với tiềm năng và mức độ phát triển, chậm hĩn so với sự chuyển đổi của nền kinh tế Chủ trương xã hội hoá li biện pháp tích cực huy động sự đóng góp của nhân dân tronị điều kiện NSNN còn hạn hẹp Trong những năm gần đây, thực hện xã hội hoá đào tạo nghề đã thu hút được nhiều nguồn lực xã hú đầu
tư cho đào tạo nghề, việc chia sẻ chi phí đào tạo, thực hiện :ã hội hoá đào tạo nghề là hướng đi cần thiết trong giai đoạn hiệi nay
và chiến lược đào tạo nghề đến năm 2020
Hiện nay, việc chia sẻ chi phí đào tạo nghề, thực hiện ;ã hội hoá đào tạo nghề được thể hiện trong Nghị quyết sô' 0) của
Trang 39Chính phủ về xã hội hóa giáo dục Tuy nhiên, đôi với đào tạo nghề cần phải được làm rõ những đặc điểm sau:
- NSNN chi hàng năm cho giáo dục và đào tạo tăng, nhung chi cho đào tạo nghề có thể không bằng mức tăng chung chi cho giáo dục phổ thông, giáo dục phổ cập Vì vậy cần phải chủ động tìm các nguồn vốn ngoài ngân sách
- Đào tạo nghề là loại hình phổ biến trên tất cả các địa phương, vùng lãnh thổ, đào tạo mang tính phổ cập cho người trong độ tuổi lao động, cơ sở dạy nghề cần phải mở rộng về số lượng và quy mô (khác với đào tạo đại học, cao đẳng là đào tạo mang tính tinh hoa), cho nên cần đẩy nhanh xã hội hoá
- Tỷ lệ học sinh học nghề trong các trường ngoài công lập năm 2006 chiếm khoảng 33%, nhưng chỉ tiêu phấn đấu đến nãm 2010 là 61% đòi hỏi phải tích cực xã hội hóa đào tạo nghề
Đ ể đẩy nhanh xã hội hoá đào tạo nghê nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề, cần thực hiện các giải pháp sau :
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã
hội về xã hội hoá đào tạo nghề như: Tuyên truyền sâu rộng đến các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cơ sở dạy nghề và nhân dân Nghiên cứu làm rõ vấn đề sở hữu, về tính chất hoạt động vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận, về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc mở rộng xã hội hoá
- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư cho đào tạo nghề Có chính sách riêng đầu tư phát triển đào tạo nghề, chính sách ấy cần được ưu đãi hơn so với chính sách đầu tư cho cao đẳng, đại học (vì hiện nay tỷ lệ lao động đào tạo nghề so với đào tạo cao