Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin về đất đai, xem xét toàn diện để phân hạng đất về mức độ thích nghi và các yếu tố kinh tế xã hội khác. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này mời các bạn tham khảo Bài giảng Đánh giá đất đai: Chương 1 - Giới thiệu chung.
Trang 1CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
(Thời gian: 8 tiết lý thuyết)
1.1 Giới thiệu môn học
1.1.1 Khái niệm vị trí vai trò và yêu cầu môn học
Như vậy đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin về đất đai, xem xét toàn diện để phân hạng đất về mức độ thích nghi và các yếu tố kinh tế xã hội khác Kết quả đánh giá phân hạng đất được thể hiện bằng bản đồ, bản báo cáo và các bảng biểu số liệu kèm theo
1.1.1.3 Yêu cầu của môn học
Sinh viên phải nắm được những nội dung, nguyên tắc, phương pháp và qui trình đánh giá đất đai trong nông lâm nghiệp
Có khả năng đánh giá đất theo thích nghi và đánh giá phân hạng đất đai theo văn bản quy định hiện thời của Nhà nước và đề xuất những biện pháp sử dụng đất đai hợp lí, bền vững
Trang 21.2 Tổng quan về đánh giá đất đai
1.2.1 Trên thế giới
Từ những năm 1960, Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) đã tập hợp lực lượng gồm các chuyên gia nghiên cứu đất trên Thế giới để xây dựng phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên đất (Soil) và khả năng sử dụng đất đai (Land) toàn cầu
và trên cơ sở đó áp dụng cho các khu vực, các nước FAO đã đưa ra các tài liệu hướng dẫn về phân loại đất và đánh giá đất đai v.v Các tài liệu hướng dẫn của FAO được các nước quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất Theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO, các yếu tố tự nhiên (địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu, thảm thực vật, v.v.), kinh tế - xã hội, nhu cầu dinh dưỡng cây trồng, khả năng đầu tư thâm canh, hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất, mức
độ ảnh hưởng của môi trường, được xem xét dựa trên những luận cứ khoa học và được tiến hành theo từng bước Với kỹ thuật tin học tiên tiến, Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) đã được ứng dụng trong đánh giá đất đai để xử lý thông tin, đưa ra được các thông số cần thiết và chính xác nhằm xây dựng các loại bản đồ về đất Thấy rõ tầm quan trọng của đánh giá, phân hạng đất đến 1976 FAO đã tập trung nghiên cứu xây dựng đề cương đánh gá đất Tài liệu này được nhiều nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá đất đai của nước mình Đến 1983 và những năm tiếp theo đề cương ngày càng được nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện, đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau như:
Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nước trời - 1983
Đánh giá đất đai cho vùng đất rừng -1984
Đánh giá đất đai cho nông nghiệp được tưới – 1985
1.2.2 Tại Việt Nam
Vào những năm 60 - 70 thế kỷ trước, việc điều tra tài nguyên đất đai ở nước
Trang 3Nhiều địa phương đã quy hoạch sử dụng đất trên các tỷ lệ bản đồ khác nhau và đã góp phần vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, việc quy hoạch đó còn những khiếm khuyết, chưa đề cập tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội , dẫn đến tình trạng nhiều bản quy hoạch không thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất
Năm 1999, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp dựa trên cơ sở phương pháp của FAO có chỉnh biên cho phù hợp với điều kiện nước ta (Tiêu chuẩn Ngành 10 TCN 343-98), hướng dẫn các cơ quan chức năng và địa phương áp dụng để đánh giá tài nguyên đất đai trên phạm
vi cả nước
Trong lâm nghiệp các tác giả Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương đã xây dựng Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam 2005, Nxb KH&KT
1.3 Khái quát phương pháp đánh gái đất theo FAO
1.3.1 Hướng dẫn của FAO về đánh giá đất đai
Trong tổng hợp báo cáo của FAO (1995) cho thấy tỷ lệ của sự suy thoái đất đai đang tiếp tục g i a t ă n g Tuy nhi ên, sự suy thoái đất đai có thể được chỉnh sửa nếu đất đai được sử dụng một cách hợp lý hay tất cả các chức năng của đất đai được quan tâm suy nghĩ từ góc độ của địa phương, quốc gia v à toàn cầu, ngược lại sự suy thoái đất đai càng nghiêm trọng hơn ở những nơi không có quy hoạch sử dụng đất đai hoặc thực hiện theo thứ tự, hoặc nếu có một quyết định sử dụng đất đai sai hay định kiến l ãnh đạo sử dụng đất không hợp lý
Ðể khắc phục tình trạng này, có thể có những biện pháp như đối với việc tránh tác động tổn hại nhiều đến sự phát triển và đạt được một sự bền vững trong phát triển nông nghiệp Có phương pháp điều chỉnh việc
sử dụng đất đai được trình bày, đó là một hoạt động được xác định trên nền tảng của qui luật chắc chắn có hiệu quả đối với từng thời kỳ sử dụng đất Một khoảnh đất được xem là thích hợp khi sử dụng có hiệu quả đối
Trang 4với cả lúa, thổ cư và được đánh giá thông qua việc định lượng Kết quả nghi ên cứu cho thấy rằng phương pháp này đóng góp cho kế hoạch sử dụng đất trong việc t ìm ra chương trình để điều chỉnh đối với trồng lúa là đất được sử dụng ổn định và có những kiến nghị cho sự phát triển ổn định lâu d ài
Một số nghiên cứu chỉ rõ hơn trong sử dụng đất đai là cần đảm bảo một hệ sinh thái bền vững v à hệ thống xã hội phát triển hoặc là tạo ra kết quả của sự suy giãm tài nguyên Do vậy, để phục hồi tình trạng cân bằng giữa sự phá hoại và sự hữu dụng của tài nguyên là vấn đề quan trọng cho cả hai: con người và những đặc điểm tự nhiên trong hệ sinh thái Cần có sự phân tích hiện trạng và tiềm năng sử dụng đất đai, từ đó cho phép phục hồi lại đất đai, xác định các nhân tố giới hạn mà từ đó có thể được làm hạn chế bớt đi hoặc ngưng suy thoái đất đai và sản xuất gia tăng (Geerling and Bie, 1986)
Ðã từ lâu, con người đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên để cải tạo
tự nhiên từng bước cho phù hợp và có nhiều bài học kinh nghiệm đắt giá Như kết quả nghiên cứu của Lê Quang Trí (1996) đã chứng minh được: kinh nghiệm của người nông dân dưới ảnh hưởng khác nhau của sự hạn chế về mặt tự nhiên, nhưng những người nông dân trong vùng đất phèn đ ã phát triển những kiểu thực hành khác nhau để khắc phục những hạn chế
về đất trong sản xuất của họ, và cho những kết quả khả quan trong việc khai thác tốt t ài nguyên đất và nước như:
Chọn lựa cơ cấu cây trồng thích hợp và mùa vụ thích hợp như lúa, khoai, mía
Việc tưới và hệ thống kinh tiêu nước cho vùng lúa năng suất cao
Tạo lớp đất bồi cho hoa màu trồng cạn
Tạo lớp đất bồi thấp cho cây lúa từ sự canh tác lúa mùa địa phương
Trang 5hoa màu cạn
Không cày cho việc canh tác 2 vụ lúa cao sản
Xây dựng đê, đập, cống thoát tr ên vùng nhiễm mặn
Xây dựng hệ thống rãnh cho hệ thống Lúa-Tôm càng xanh trên những vùng nước ngọt
Xây dựng hệ thống rãnh cho việc nuôi Tôm-Cua trên những vùng đất phèn, mặn
Kết quả đã để lại một hiện trạng đặc th ù của Ðồng bằng sông Cửu long, từ chỗ chỉ dựa vào tự nhiên là chủ yếu để khai thác môi trường chưa biến đổi lớn, tiến đến mục tiêu gia tăng lương thực, nhất là sau năm
1975, dẫn đến tình trạng khai thác độc canh làm môi trường tài nguyên bị phá huỷ Nền nông nghiệp chỉ thiên về khai thác tài nguyên tự nhiên mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tái tạo chúng (làm mặn hoá hoặc phèn hóa một số vùng) Vì vậy, hiện trạng này cần phải được chú ý giải quyết v
à mục tiêu quan trọng là phải bảo đảm an toàn lương thực, đồng thời phải đa dạng hoá nền nông nghiệp, tức l à đa dạng hóa cơ cấu sử dụng đất
v à mục tiêu bảo vệ môi trường
Ðặc biệt từ kết quả đánh giá thích nghi đất đai cho mục ti êu phát triển nền nông nghiệp sinh thái đ ã đề ra những biện pháp kỹ thuật đặc thù Riêng ở ÐBSCL với đề tài nghiên cứu - Phát triển phương thức quản trị đối với vùng đất phèn dựa vào kinh nghiệm của nông dân và kiến thức của chuyên gia đã cho thấy:
Trong thực tế chất lượng đất đai quyết định cơ bản đến các kiểu
sử dụng
đất, cơ cấu mùa vụ (trên vùng đất phèn)
Công tác đánh giá thích nghi đất đai được thực hiện ở cấp độ nông trang để có những quyết định quản lý tối ưu dùng để cải tiến nâng cấp thích nghi, để từ đó sẽ có những đề nghị về khoa
Trang 6học kỹ thuật mới cho từng đặc th ù của từng vùng như kiểu sử dụng đất, cơ cấu mùa vụ và loại cây trồng (Lê Quang Trí, 1996)
Các nhà khoa h ọc của FAO đã xây dựng nên một hệ thống khả năng phân hạng thích nghi đất đ ai cho các kiểu sử dụng đất đai khác nhau Đây là
hệ thống bao gồm các nguyên tắc và quan điểm trên cơ sở đánh giá thích nghi cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương
Mục đích của việc xây dựng hệ thống đá nh giá đất đai FAO là:
Xác định và xây dựng nguyên lý, quan điểm và qui trình đánh giá đất đai cho sử dụng đất nông nghiệp như : trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; hay cho lâm nghiệp, bảo tồn thi ên nhiên
Có khả năng áp dụng được cho toàn cầu cũng như xuống đến cấp địa phương của cả các quốc gia đ ã phát triển và đang phát triển
Có được cái nhìn tổng quát về những đặc tính tự nhi ên của đất đai, những chiều hướng về kinh tế xã hội, và sự thay đổi môi trường, cũng như các biện pháp kỷ thuật đang áp dụng của đất đai và
sử dụng đất đai Từ đó cung cấp những thông tin cần thiết cho qui hoạch sử dụng đất đai
Hệ thống này được sử dụng như là nền tảng để đánh giá các hệ thống đánh giá đất đai hiện có thông qua sự so sánh và kết quả
Với hệ thống này sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu thành những
hệ thống đánh giá đất đai mới riêng cho các vùng chuyên bi ệ hệ thống này đã và đang được áp dụng rộng rãi cho các nước trên thế giới
1.3.2 Một số khái niệm trong đánh giá đất đai theo FAO
Theo FAO (1976): Đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có
Trang 7Theo A.Young: Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất cho một hoặc một số loại sử dụng đất được chia ra để lựa chọn
Đánh giá đất đai (Land assactment): Là quá trình xác định tiềm năng của đất cho một hay nhiều mục đích sử dụng được lựa chọn Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức
độ thích hợp của việc sử dụng đất
Như vậy đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn diện và phân hạng là việc làm cụ thể để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp Kết quả đánh giá, phân hạng đất đai được thể hiện bằng bản đồ, báo cáo và các bảng biểu số liệu kèm theo
1.3.3 Khái quát qui trình đánh giá đất đai
Qui trình đánh giá đất đai đượcthực hiện theo các bước sau:
1) Xây dựng các đơn vị bản đồ đất đai
D ựa trên cơ sở kết quả điều tra khảo sát các điều kiện đất đai như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, nước, thực vật, … Đ ể x â y d ự n g b ả n đ ồ
đ ơ n v ị đ ấ t đ a i Mỗi đơn vị bản đồ đất đai có những đặc tính đất đai riêng khác so v ới những đơn vị bản đồ đất đai k h á c
2) Chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đ ai
Chọn lọc, mô tả kiểu sử dụng đất hiện tại phù hợp và liên quan đến mục tiêu chính sách và phát triển đã được xây dựng bởi các nhà qui hoạch cũng như phải phù hợp với những điều kiện về kinh tế xã hội và tự nhiên môi trường trong khu vực đang thực hiện
3) Chuyển đổi những đặc tính đất đ ai
Chuyển đổi những đặc tính đất đ ai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai thành các chất lượng đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến các kiểu sử dụng đất đ ai đã được chọn lọc
4) Xác định yêu cầu về đất đai
Xác định yêu cầu về đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai đã chọn
Trang 8lọc, hay gọi là yêu cầu sử dụng đất đai trên cơ sở của các chất lượng đất đai Đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất đ ai của các kiểu sử dụng đất đai được diễn tả dưới dạng phân cấp yếu tố với các chất lượng trong mỗi đơn
vị bản đồ đất đai được diễn tả dưới dạng yếu tố chẩn đoán Kết quả cho được sự phân hạng khả nă ng thích nghi đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai với từng kiểu sử dụng đất đ ai
Đánh giá đất đai là sự so sánh giữa các dữ liệu về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những yêu cầu về quản trị và bảo vệ môi trường của sử dụng đất đai Do đó trong việc thực hiện cần phối hợp đa ngành bao gồm các nhà khoa học về đất, cây trồng, hệ thống canh tác, cũng như các chuyên gia về lâm nghiệp, kinh tế và xã hội Tùy theo từng vùng và mục đích đánh giá qui hoạch sử dụng đất đai cho từng vùng khác nhau mà thành phần các nhà khoa học tham gia cũng thay đổi
Các bước thực hiện trong qui tr ình đánh gia đất đai được trình bày một
cách hệ thống trong sơ đồ
Trang 9KHẢO SÁT KT – XH Dân số, cơ sở hạ tầng, giá,lưu thông
MỤC ĐÍCH, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN Quốc gia, vùng, khu vực, huyện
XÁC ĐỊNH YÊU CẦU CẦN THAY ĐỔI
KHẢO SÁT SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Hiện trạng sử dụng, HTCT, quản lý và năng suất, các TN
THẢO LUẬN BAN ĐÂU Diện tích, mục đích, tỉ lệ, phương pháp, thời gian
KHẢO SÁT ĐẤT ĐAI Khí hậu, địa chất, địa mạo, nước, đất,thực vật
Kiến thức về điều kiện kinh tế - xã hội
YÊU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
Chọn lọc kiểu sử dụng đất đai và định nghĩa
Kiến thức về điều kiện sinh học, tự nhiên
Sử dụng đất có thể điều chỉnh theo chất lượng đất đai ĐỐI CHIẾU
Hiện trạng sử dụng đất đai
và cách quản lý
Chất lượng đất đai có thể cải biến theo yêu cầu sử dụng CHẤT LƯỢNG ĐẤT ĐAI
Phân bố theo không gian
chiều hướng KTXH
Phân bố theo không gian hiện trạng sử dụng đất
Quyết định thực hiện và/hay
đề nghị nghiên cứu thêm trong tương lai
THEO DÕI TIẾN TRÌNH
Bản đồ sinh thái khí hậu nông nghiệp
Phân tích theo không gian, so sánh khả năng phát triển,quy hoạch sử dụng đất đai
Hình 1.1: Qui trình đánh giá đất đai cho qui hoạch sử dụng đất
Trang 10đai De Vos t.N.C 1978; H Huizing, 1988; Lê Quang Trí, 1997
1.3.4 Những nguyên tắc của đánh giá đất đai
Sáu nguyên tắc cơ bản sau đây được sử dụng cho cho đá nh giá đất đai theo FAO, 1976:
N g u yên t ắ c 1: Khả năng thích nghi đất đai phải được đánh giá và phân hạng cho một loại s ử dụng chuy ên biệt
N g u yên tắc 2: Đánh giá đòi hỏi phải có sự so sánh về lợi nhuận
và mức đầu tư cần thiết cho từng kiểu s ử dụng đất đ ai khác nhau
N g u yên tắc 3: Đán h giá đất đai đòi hỏi phải đa ngành
Các đề án đánh giá đất đai ở các nước đang phát triển thường thiếu những kiến thức thông tin có hiệu quả về những đ iều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội, mà những yếu tố này có liên quan đến vùng đang nghiên cứu
N g u yên tắc 4: Đánh giá cần phải đứng tr ên quan điểm sự ảnh hưởng và liên quan các yếu tố về môi trường tự nhi ên, kinh tế và
xã hội đến vùng đang nghiên cứu Khi đánh giá đất đai, thường những hậu quả về sinh thái môi trường như: đất xói mòn, gia tăng bịnh sốt rét, sự mặn hóa, thiếu nguồn nước ngọt ở hạ lưu không được chú ý đề cập đến trong khi thực hiện N ên trong các đề án lâu dài thường bị thất bại là do các kết quả trên đem lại
N g u yên tắc 5: Đánh giá phải xây dựng tr ên nền tản g tính bền vững
Đánh giá đất đai đôi khi được thực hiện một cách độc lập để xác định tính thích nghi của một kiểu sử dụng chuyên biệt nào
đó, thí dụ như chỉ cho cây mía mà quên đi khả năng cho lợi nhuận cao hơn khi so sánh v ới các kiểu sử dụng khác
N g u yên tắc 6: Đánh giá thích nghi th ường phải so sánh nhiều kiểu sử dụng với nhau
Trang 111.3.5 Mức độ chi tiết và tỉ lệ khảo sát cho đá nh giá đất đai
Đánh gia đất đai được thực hiện ở các cấp độ khác nhau tùy thuộc vào kết quả của các tỉ lệ bản đồ khác nhau Theo Young, 1976 thì có thể phân biệt ra 6 mức độ khác nhau để khảo sát cho đánh giá đất đai:
Tỷ lệ biên soạn: ở mức độ này thì bản đồ đánh giá đất đai được biên soạn dựa trên cơ sở các tư liệu đã có trước và được tổng hợp lại trong phạm vi to àn thế giới hay một vùng lớn Tỉ lệ sử dụng là 1/1.000.000 hay nhỏ hơn Phương pháp sử dụng là đánh giá chất lượng đất đai Kết quả được sử dụng để đánh giá nguồn tài nguyên
để giải quyết vấn đề lương thực trên thế giới hay trong vùng Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở tỷ lệ 1/1.000.000 đến 1/5.000.000
Tỷ lệ khảo sát thăm dò: dựa trên cơ sở biên soạn các tài liệu đang có và bổ sung thêm một số thông tin từ các lát cắt thực địa xuyên qua các vùng chưa biết Mức độ này thường áp dụng cho cấp quốc gia, với tỉ lệ thay đổi từ 1/1.000.000 đến 1/250.000 Vẫn sử dụng phương pháp đánh giá chất lượng đất đai Ở mức độ này dùng để kiểm kê tài nguyên thiên nhiên c ủa quốc gia Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở tỷ lệ cả nước 1/1.000.000
Tỷ lệ khảo sát sơ bộ: theo FAO, thì đây là mức độ thấp để kiểm
kê nguồn tài nguyên thiên nhiên trong một vùng của một quốc gia Mức độ này để xác định những nhóm sử dụng chính cho từng vùng Tỉ lệ thực hiện là 1/100.000 đến 1/250.000 Áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng đất đai và bán số lượng đất đai Kết quả có thể sử dụng cho việc chọn khả nă ng ưu tiên phát triển của các đề án trong vùng Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp vùng với tỷ lệ 1/250.000
Trang 12 Tỷ lệ bán chi tiết: theo FAO đây là mức độ trung bình thường thực hiện trong các khu vực mà kết quả khảo sát thăm dò cho thấy có nhiều triển vọng phát triển Mục ti êu của mức độ này là chọn những kiểu sử dụng chuyên biệt cho từng khu vực để hổ trợ cho việc xây dựng các dự án khả thi Áp dụng từng phần phươ ng pháp đánh giá số lượng đất đai Tỉ lệ bản đồ sử dụng là 1/25.000 đến 1/100.000 Kết quả sử dụng cho thực hiện dự án khả thi v à qui hoạch vùng nông thôn Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp Tỉnh với tỷ lệ 1/100.000 cho tỉnh lớn
và 1/50.000 cho tỉnh có diện tích nhỏ
Tỷ lệ chi tiết: theo FAO đây là mức độ cao cần thiết thực hiện để phát triển dự án khả thi trong từng khu vực nhỏ Áp dụng phươ ng pháp đánh giá số lượng chi tiết đất đai Tỉ lệ sử dụng là 1/10.000 đến 1/25.000 Kết quả được sử dụng để cung cấp thông tin cho vùng dự án và qui hoạch Huyện hay liên xã nông thôn Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp Huyện với
Trang 131.3.6 Các phương pháp đánh giá đất đai
1.3.6.1 Phương pháp đánh giá đất của FAO
Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến Các khái niệm được trình bày trên được sử dụng khá rộng rãi ở các nước Tây Âu và phương pháp đã được tổ chức FAO thừa nhận, hoàn chỉnh thành cẩm nang hướng dẫn đánh giá đất đai để
áp dụng rộng rãi Ví dụ năm 1979, FAO xuất bản cẩm nang hướng dẫn “Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp” Trên cơ sở đó một số nội dung hoặc khái niệm được xác định như sau:
(1) Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability):
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai là việc phân chia hay phân hạng đất đai
thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hoá, v.v Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp
Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện Đánh giá tiềm năng đất được áp dụng thành công ở Mỹ và một số nước khác Yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu
Ở Mỹ đất đai toàn quốc được phân thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần
từ nhóm I tới nhóm VIII Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế Nhóm VIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng
Yếu tố hạn chế chủ yếu được thể hiện qua chữ viết tắt như xói mòn là e, dư thừa nước là w Ví dụ IV-e, IV-w là nhóm đất IV có yếu tố hạn chế là đất bị xói
mòn, bị ngập úng
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất là phương pháp đánh giá đất đai tổng quát với mục tiêu sử dụng lớn như cho nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch hoặc các mục tiêu khác không phải là nông, lâm nghiệp và không đi sâu đánh giá chi tiết cho từng thành phần của mỗi kiểu sử dụng đất tổng quát
Trang 14(2) Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability):
Đánh giá mức độ thích hợp đất đai là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai Đánh giá mức độ thích hợp đất đai có thể áp dụng chỉ cho một kiểu sử dụng đất nhất định, ví dụ cho một loài cây trồng nông nghiệp như ngô, lúa hay lâm nghiệp như thông, keo, bạch đàn, v.v hoặc cho nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau
để so sánh lựa chọn Ngoài ra còn phân biệt đánh giá độ thích hợp hiện tại dựa trên thực trạng hiện nay và đánh giá độ thích hợp trong tương lai khi mà có những tác động lớn vào đất đai như đầu tư cao, áp dụng mạnh các tiến bộ khoa học công nghệ Quá trình đánh giá mức độ thích hợp đất đai có thể tóm tắt như sau:
Xác định kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng cần đánh giá
Xác định các đơn vị đất đai
Xác định đặc điểm các yếu tố đơn vị đất đai
Xác định các yêu cầu, đòi hỏi của kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng theo mức độ thích hợp khác nhau dựa trên các yếu tố của đơn vị đất đai
So sánh các yêu cầu của loài cây hay kiểu sử dụng đất với đặc điểm các yếu tố đất đai để xác định mức độ thích hợp các kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng
Trang 15 Thích hợp trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng suất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích hợp cho cây trồng hoặc kiểu sử dụng đất
Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng suất
và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt Hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể Kiểu sử dụng đất và loài cây trồng không thích hợp (Viết tắt là N – not suitable) với điều kiện đất đai Mức độ không thích hợp (N) có thể phân thành 2 mức:
Không thích hợp hiện tại (N1): Đất có hạn chế lớn, trong điều kiện kỹ thuật và chi phí hiện tại kiểu sử dụng đất sẽ không có hiệu quả Tuy nhiên trong tương lai các điều kiện kỹ thuật, đầu tư thay đổi các kiểu sử dụng đất có thể thích hợp ở mức độ nào đó với cây trồng
Không thích hợp vĩnh viễn (N2): Đất có hạn chế không thể khắc phục được
Chú ý: Xác định yếu tố hạn chế cho từng mức độ thích hợp thể hiện bằng các
chữ như e: xói mòn, w: ẩm ướt, t: địa hình, địa mạo, v.v Ví dụ như S2e là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế do bị xói mòn S2et là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế về xói mòn và địa hình S3w là mức độ thích hợp kém và có hạn chế về nguồn nước trong đất
Xác định yêu cầu về mặt quản lý thể hiện bằng con số 1 (rất dễ),2 (dễ) ,3 (khó) để trong ngoặc, ví dụ như S2e(2) là Mức độ thích hợp trung bình nhưng
có hạn chế do bị xói mòn và mức độ quản lý đơn giản v.v
1.3.6.2 Đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa (Site)
1) Tiêu chí phân chia lập địa (Site)
Phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở Cộng hoà dân chủ Đức trước kia (nay là Cộng hoà liên bang Đức) Ngoài ra ở Ukraina nhà lâm học có uy tín Pogrebnhiac có phân chia lập địa phục vụ công tác trồng rừng và xác định các kiểu
Trang 16rừng Có rất nhiều định nghĩa về lập địa nhưng có thể hiểu bản chất của khái niệm là:
“Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới sự sinh sinh trưởng của cây cối Lập địa theo nghĩa hẹp bao gồm 3 thành phần: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và lập địa theo nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật”
Phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau, giữa các thành phần tự nhiên với cây trồng trong một không gian nhất định
và được cụ thể hoá trên bản đồ Đại diện cho cách làm này có Krauss (1935, 1954), Kopp (1965, 1969), và W Schwaneeker (1965, 1974) Ở Liên xô cũ lập địa được coi là điều kiện nơi sinh trưởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của thực vật rừng
Những yếu tố xác định lập địa có nhiều nét tương đồng các yếu tố xác định đơn vị đất đai Đơn vị cơ bản của hệ thống phân loại lập địa là dạng lập địa và nhóm dạng lập địa Đó cũng là đơn vị cơ bản để đánh giá đất đai hoặc xác định các loài cây trồng phù hợp Các yếu tố chính xác định các dạng lập địa cũng là địa hình (độ dốc, vị trí chân, sườn, đỉnh), loại đất, độ dày tầng đất, thực bì,.v.v Sau đây là một số phương pháp phân chia lập địa
a) Phân chia lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm của đất
Pogrebnhiac (Ucraina, 1992) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm của đất Độ phì được chia làm 4 cấp: rất xấu (A), xấu (B), trung bình (C), tốt (D) Độ ẩm đất chia làm 6 cấp: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4), lầy (5) Tổng hợp 2 tiêu chí trên sẽ có 24 kiểu lập địa như sau:
Bảng 1 Các kiểu lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm