1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

7 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 227,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trình bày về tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn quận Sơn Trà trong những năm tới,...

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Để sử dụng đất có hiệu quả, bảo đảm quyền và

nghĩa vụ của người sử dụng đất thì tất cả các quốc

gia đều phải thực hiện quản lý về đất đai, tức là phải

ban hành chính sách về đất đai, xây dựng quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận pháp

lý về đất đai Vì thế, phải tổ chức thực hiện kê khai,

đăng ký sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, xây dựng

cơ sở dữ liệu địa chính, cập nhật đầy đủ, chính xác

các thông tin liên quan đến giá trị của từng khu đất,

thửa đất Thực tế cho thấy, việc đăng ký đất đai, cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi

là cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, viết tắt là

GCNQSdĐ), lập và quản lý hồ sơ địa chính, xây dựng

cơ sở dữ liệu địa chính là nhiệm vụ quan trọng Đây

là cơ sở để thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước

khác về đất đai Trong nhiều năm qua, các địa phương

đã quan tâm, tổ chức triển khai thực hiện ở nhiều địa

bàn gắn với đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất

đai, cấp GCNQSdĐ Một số tỉnh như Đồng Nai, An

Giang, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và một

số thành phố lớn như thành phố Hải Phòng, Thành

phố Hồ Chí Minh đã cơ bản xây dựng cơ sở dữ liệu địa

chính và đã tổ chức quản lý, vận hành phục vụ yêu

cầu khai thác sử dụng rất hiệu quả và được cập nhật

biến động thường xuyên ở các cấp tỉnh, huyện Tuy

nhiên, ở những địa phương còn lại việc xây dựng cơ

sở dữ liệu địa chính mới chỉ dừng lại ở việc lập bản đồ

địa chính và hồ sơ địa chính dạng sổ cho riêng từng

xã/phường ở một số địa bàn mà chưa được kết nối,

xây dựng thành cơ sở dữ liệu địa chính hoàn chỉnh

nên chưa được khai thác sử dụng hiệu quả và không

cập nhật biến động thường xuyên Nguyên nhân chủ

yếu của tình trạng trên là do nhận thức về cơ sở dữ

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ XÂY DỰNG

CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

? NGUYễN TRọNG HùNG * - PHạM THị THủY **

* Trưởng Ban Tổ chức Quận ủy Sơn Trà.

liệu địa chính hiện nay chưa đầy đủ; việc đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở các địa phương chưa đồng bộ và các bước thực hiện chưa phù hợp

Trên thực tế, công tác này trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua, nhất là từ khi có Luật Đất đai

2003, nhưng cho đến nay vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, hoàn chỉnh, chưa đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý đất đai được đề ra trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu cũng như sự chuyển mình vươn lên mạnh mẽ của nền kinh tế thành phố so với các địa phương khác trong cả nước Để góp phần quản lý tốt đất đai trên địa bàn, đưa quỹ đất vào sử dụng có hiệu quả phục vụ cho việc phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn quận, cần phải đánh giá tình hình cấp GCNQSdĐ cũng như việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính để thấy được những mặt tích cực và những tồn tại cần phải tháo gỡ Từ đó, đề xuất các giải pháp

cụ thể để tiếp tục thực hiện tốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSdĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính nói riêng, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính nói chung

Trang 2

trong thời gian tới Bài báo này được thực hiện nhằm

mục đích nghiên cứu và đánh giá về tình hình cấp

GCNQSdĐ và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa

bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010

- 2012 để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đóng góp

có hiệu quả cho công tác đăng ký đất đai và xây dựng

cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ việc cấp GCNQSdĐ và

góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất

đai trên địa bàn quận Sơn Trà

2 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất

- Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010

Kết quả nghiên cứu cho thấy, năm 2010, thiết bị

máy móc và nhân sự đã được UBNd quận Sơn Trà

tạo điều kiện và đáp ứng đầy đủ Số liệu được cập

nhật kịp thời Số lượng hồ sơ giải quyết trên 90%, tuy

nhiên, hồ sơ trễ hẹn vẫn chiếm tỷ lệ rất cao, trên 6%

(Bảng 1)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân hồ sơ

trễ hẹn chủ yếu là do hồ sơ không đủ điều kiện Xuất

phát từ tình hình hồ sơ trễ hẹn quá nhiều, Văn phòng

đăng ký quyền sử dụng đất đã lập ra mẫu nhật ký hồ

sơ, căn cứ vào đó để đánh giá quá trình luân chuyển

hồ sơ giữa các bộ phận, xem xét lỗi trễ hẹn do bộ

phận nào và nguyên nhân từ đâu Đối với những hồ

sơ trong quá trình thụ lý phát sinh vướng mắc như xây dựng sai phép, không phép, lấn chiếm, chuyển nhượng một phần không đúng quy định, vắng chủ, tranh chấp hoặc phải lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn… yêu cầu các bộ phận có thông báo bằng văn bản trả hồ sơ cho công dân và hướng dẫn công dân hoàn thiện đầy đủ rồi tiến hành nộp hồ sơ lại theo quy định Chính nhờ đó mà số lượng hồ sơ trễ hẹn cuối năm 2010 giảm đáng kể

- Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2011

Thực hiện Quyết định số 31/2010/QĐ-UBNd về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân quận Sơn Trà, theo đó thời gian giải quyết hồ sơ cấp GCNQSdĐ từ

43 ngày làm việc theo Quyết định 32/2008/QĐ-UBNd xuống còn 10 ngày làm việc; Cấp đổi không thay đổi

từ 20 ngày làm việc xuống còn 05 ngày làm việc Việc rút ngắn thời gian trong công tác cải cách hành chính dẫn đến cán bộ xử lý hồ sơ còn rất lúng túng giữa thói quen quy trình cũ và mới nên hồ sơ trễ hẹn cũng khá cao Trước tình hình đó, văn phòng đăng ký họp thống nhất cơ quan và xây dựng quy trình cụ thể để phân định rõ trách nhiệm từng bộ phận Mặc dù thời gian thực hiện rút ngắn nhưng nhờ vào quy trình cấp GCNQSdĐ lần đầu được lồng ghép với thời gian niêm yết tại phường nên hồ sơ trễ hẹn giảm đáng kể (Bảng 2)

Năm 2011, số lượng hồ sơ cấp GCNQSdĐ lần đầu công dân nộp rất nhiều dẫn đến bộ phận chuyên môn xử lý, luân chuyển không kịp thời theo quy định Ngoài ra, do chủ trương của thành phố về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 10 của Thành ủy trong công tác cấp GCNQSdĐ trên địa bàn quận Sơn Trà gặp phải những khó khăn và vướng mắc, cụ thể:

Bảng 1: Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2010

STT Lĩnh vực giải quyết hồ sơ tiếp Tổng số

nhận

Hồ sơ đã giải quyết

Hồ sơ đang giải quyết trả lại Hồ sơ

Tổng

số Sớm hẹn Đúng hẹn hẹn Trễ

Nguồn: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Sơn Trà, 2013.

Trang 3

+ Việc áp dụng Thông báo số 71/TB-UBNd ngày

07.6.2011 của Văn phòng UBNd thành phố tại Hội

nghị về công tác quản lý và sử dụng đất đai, làm trở

ngại cho công dân rất nhiều Thông báo quy định

diện tích tối thiểu để tách thửa là 70 m2 Trong khi đó,

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vẫn còn giữ

một số hồ sơ tách thửa đất phần diện tích đất đề nghị

tách thửa < 70 m2 và một số hồ sơ chuyển nhượng

có liên quan đến đất khuôn viên (đất trồng cây hằng

năm) đã qua công chứng chứng thực (đa số tiền mua

bán đã được giao dịch lúc ra công chứng) và một số

hồ sơ đã phát hành thông báo thuế và công dân đã

thực hiện nộp tiền tại kho bạc Văn phòng đăng ký

quyền sử dụng đất phải phối hợp với Chi cục thuế để

làm công tác thoái thu những trường hợp nêu trên

nhưng đa số công dân không đồng ý

+ Đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng

đất: Theo Quyết định số 6048/QĐ-UB ngày 18.7.2011

của UBNd thành phố Đà Nẵng đối với việc chuyển

mục đích sử dụng đất nông nghiệp xen kẻ trong khu

dân cư sang đất ở, nếu không ảnh hưởng quy hoạch

thì UBNd quận, huyện tập hợp hồ sơ, đề xuất giá

chuyển mục đích sử dụng đất, báo cáo Hội đồng thẩm

định giá thành phố thẩm định, trình UBNd thành phố

xem xét, quyết định Theo QĐ 08/2011/QĐ-UBNd quy

định thời gian giải quyết hồ sơ là 20 ngày làm việc

đến khi nhận thông báo thực hiện nghĩa vụ tài chính

Tuy nhiên, từ ngày Thông báo số 71/TB-UBNd có hiệu

lực đến nay vẫn không giải quyết được trường hợp

nào chuyển mục đích đất nông nghiệp xen kẻ khu

dân cư

- Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2012

Năm 2012, được phân ra làm 2 giai đoạn Giai đoạn trước ngày 31.7.2012 Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất do UBNd quận cấp và giai đoạn sau 31.7.2012 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp

* Giai đoạn trước ngày 31.7.2012

Thực hiện mô hình một cửa điện tử hiện đại, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Sơn Trà đã xây dựng quy trình luân chuyển hồ sơ giữa các bộ phận trên phần mềm một cửa điện tử Các hồ sơ gần đến hẹn và trễ hẹn đều được thể hiện rõ trên phần mềm Nhờ đó, mà hồ sơ luân chuyển giữa các bộ phận đã hạn chế đến mức thấp nhất việc trễ hẹn Tuy vậy, vẫn còn một số hồ sơ trễ hẹn do nguyên nhân khách quan là phần mềm một cửa điện tử mới đưa vào vận hành vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm

Bảng 2: Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011

STT Lĩnh vực giải quyết

Tổng

số hồ

sơ tiếp nhận

Hồ sơ đã giải quyết

Hồ sơ đang giải quyết

Hồ sơ trả lại Tổng số Sớm và đúng

hẹn Trễ hẹn

Nguồn: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Sơn Trà, 2013.

Trang 4

nên chưa được hoàn thiện và nguyên nhân chủ quan

do tác nghiệp của cơ quan Thuế và cán bộ Văn phòng

còn chậm

* Giai đoạn sau 31.7.2012

Qua 05 tháng triển khai thực hiện thí điểm, Văn

phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp đã

nhanh chóng ổn định về tổ chức bộ máy và hoạt

động chuyên môn Quy trình chuyên môn từng bước

được chuẩn hóa, tuân thủ đúng quy định Nhiệm vụ

tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thực hiện theo cơ chế

một cửa, hồ sơ của tất cả các đối tượng như cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký biến động

do chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, chuyển mục

đích sử dụng đất được tiếp nhận và trả kết quả theo

mô hình một cửa tại địa điểm Bộ phận Tiếp nhận và

trả kết quả của văn phòng UBNd các quận, huyện

(phân công viên chức chi nhánh quận, huyện thực

hiện tiếp nhận và trả kết quả) Đối với hồ sơ cấp giấy

chứng nhận cho tổ chức từ ngày 22.12.2012 được

chuyển tiếp nhận tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp Công tác lưu trữ hồ sơ, quản lý hồ

sơ địa chính đã được quan tâm đầu tư, hướng dẫn cụ

thể Có thể khẳng định một kết quả quan trọng rằng

từ khi thực hiện thí điểm thành lập Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất một cấp đã có sự thống nhất cao về mặt chuyên môn và đúng quy định của pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ tại các chi nhánh quận, huyện Hồ sơ được kiểm tra chặt chẽ về tính pháp lý, quản lý tốt việc tách thửa đất, không để xảy ra tình trạng chia cắt manh mún, không đúng quy định gây khó khăn, phức tạp trong công tác đền

bù, giải tỏa, chỉnh trang đô thị của thành phố và hạn chế được mầm móng dẫn đến tranh chấp, khiếu nại trong cấp giấy chứng nhận do việc thực hiện trước đây không thống nhất giữa các quận, huyện, có nơi thực hiện chưa đúng với quy định của pháp luật và chưa cập nhật quản lý tốt về cơ sở dữ liệu địa chính Kết quả đạt được ở trên đã giúp hoạt động của Chi

Bảng 3: Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012

STT Loại hồ sơ

Tổng

số hồ

sơ tiếp nhận

Số hồ sơ đã giải quyết Số hồ sơ đang giải quyết Ghi chú

(Số hồ

sơ trả lại)

Số hồ sơ

Sớm &

đúng hạn

Trễ hạn Tổng số

chưa đến hạn

Quá hạn

Nguồn: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Sơn Trà, 2013.

Trang 5

phố Đà Nẵng tại quận Sơn Trà nhanh chóng đi vào

ổn định Tuy nhiên, thời gian đầu không tránh khỏi

những tồn tại như giải quyết hồ sơ còn trường hợp

chậm trễ, một vài vấn đề chưa tuân thủ tuyệt đối quy

định, cụ thể:

- Một số trường hợp hồ sơ trễ hẹn mà nguyên

nhân do hiện nay loại hồ sơ cấp GCNQSdĐ lần đầu

còn lại trên địa bàn thành phố rất ít và hầu hết thuộc

các trường hợp phức tạp mà từ trước đến nay chưa

xử lý được Mặt khác, để tiện trong việc đi lại của

tổ chức, công dân nhiều lúc Chi nhánh Văn phòng

quyền sử dụng đất đã chủ động ghép nhiều loại thủ

tục hành chính vào một lần tiếp nhận và trả kết quả là

GCNQSdĐ nhưng do cán bộ tiếp nhận hồ sơ hẹn tổng

thời gian giải quyết ít hơn so với quy định Bên cạnh

đó, do tính đặc thù của lĩnh vực đất đai nên khi tiếp

nhận hồ sơ khó có thể xem xét được kỹ tính chất từng

hồ sơ để hẹn đảm bảo thời gian quy định Cụ thể: hồ

sơ cần phải trích đo phải cộng thêm thời gian 05 ngày

làm việc để đo vẽ thực tế Hồ sơ cần phải niêm yết

công khai tại phường, xã phải cộng thêm thời gian

phải niêm yết (15 ngày) hoặc hồ sơ cần phải lấy ý kiến

của cơ quan quản lý xây dựng, nông nghiệp, cần xác

nhận của UBNd phường/xã theo quy định thì cán bộ

tiếp nhận cũng không thể biết trước được để cộng

thêm thời gian quy định hẹn ngày trả do sự việc phát

sinh trong thời gian thụ lý, giải quyết hồ sơ Đối với

hồ sơ của tổ chức sử dụng đất hầu như thời gian giải

quyết tại cơ quan thuế không đảm bảo 02 ngày làm

việc theo quy định Một nguyên nhân nữa là hồ sơ lũy

kế giải quyết trong thời điểm chuyển giao, thay đổi

thẩm quyền cấp giấy chứng nhận từ các quận, huyện

về Sở Tài nguyên và Môi trường có một số trường

hợp phức tạp đã có ý kiến xử lý, giải quyết của lãnh

đạo quận, huyện nhưng nay qua xem xét không hoặc

chưa đảm bảo về tính pháp lý, có trường hợp phải

báo cáo UBNd thành phố xem xét quyết định theo

đúng thẩm quyền nên dẫn đến kéo dài thời gian

- Về áp dụng phần mềm “một cửa điện tử”: Sau khi

thay đổi thẩm quyền ký GCNQSdĐ từ UBNd quận,

huyện về Sở Tài nguyên và Môi trường và Quyết định

số 31/2012/QĐ-UBNd có hiệu lực thi hành thì phần mềm này chưa được điều chỉnh kịp thời nên không hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu quản lý, theo dõi giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân

3 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

- Tình hình đo đạc, lập và sử dụng bản đồ địa chính:

bản đồ địa chính đã được lập tại các phường trên địa bàn quận nhưng chưa đồng bộ Một số tờ bản đồ tại các phường An Hải Bắc, Mân Thái, Thọ Quang chưa được đo hoàn chỉnh (đặc biệt phường Phước Mỹ và Nại Hiên Đông sau khi giải tỏa, tái định cư vẫn chưa được đo đạc lại) Mặt khác, hệ tọa độ bản đồ giữa các phường sử dụng không thống nhất Hầu hết các phường đều thống nhất sử dụng hệ tọa độ HN72, trong khi đó phường An Hải Tây thì sử dụng hệ tọa

độ VN2000, vì vậy gây khó khăn trong việc quản lý bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

- Tình hình lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính: việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa

chính của các thửa đất và biến động đất đai đều được Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thể hiện đầy đủ, kịp thời và thống nhất các thông tin trong hồ sơ địa chính đúng quy định Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả bản đồ địa chính dạng

số do Sở Tài nguyên và Môi trường chuyển giao năm

2009 và đang chuyển hóa các dữ liệu đất đai bằng công nghệ thông tin để từng bước xây dựng cơ sở

dữ liệu địa chính về đất đai theo Thông tư 09/2007/ TT-BTNMT ngày 02.8.2007 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường Từ đầu năm 2009 đến nay, việc cập nhật sổ

đăng ký chỉnh lý biến động được thực hiện trên máy tính, cuối kỳ sẽ thực hiện in và đóng sổ đăng ký biến động đất đai Thực hiện ghi sổ biến động theo phương pháp này nhằm tiết kiệm nhân công, dễ tra cứu trên máy, phục vụ công tác thống kê, báo cáo chính xác

Sổ mục kê đất đai được ghi chép đều đặn trên cơ sở kết quả chỉnh lý biến động do Sở Tài nguyên và Môi trường chuyển về Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng

Trang 6

đăng ký quyền sử dụng đất đã lập được sổ mục kê

5/7 phường (trừ phường Nại Hiên Đông và phường

Phước Mỹ) Nhìn chung, hệ thống hồ sơ địa chính xây

dựng trước Luật Đất đai năm 2003 hiện nay không

còn phù hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên

nhân của sự không phù hợp này là do thành phố

Đà Nẵng nói chung và quận Sơn Trà nói riêng đang

trong quá trình đô thị hóa quá nhanh, đất đai biến

động lớn, hệ thống hồ sơ địa chính xây dựng từ năm

1990 đến 2003 không được cập nhật chỉnh lý biến

động thường xuyên, kịp thời do vậy, hồ sơ địa chính

không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất Biểu

mẫu hồ sơ địa chính do Bộ Tài nguyên và Môi trường

ban hành trong những năm qua thay đổi liên tục tính

từ thời gian ban hành Quyết định 56-ĐKTK đến nay

đã 6 lần ban hành biểu mẫu Vì vậy, hệ thống hồ sơ

địa chính tồn tại nhiều loại sổ sách khác nhau không

đồng bộ gây khó khăn cho việc quản lý và sử dụng

Mặt khác, ký hiệu các loại đất, hệ thống biểu mẫu, sổ

sách mới ban hành theo Luật Đất đai năm 2003 thay

đổi hoàn toàn so với Luật Đất đai cũ Hệ thống bản đồ

địa chính của thành phố Đà Nẵng nói chung và quận

Sơn Trà nói riêng xây dựng trước đây sử dụng phần

mềm Autocad chưa được chuẩn hóa và đang còn sử

dụng hệ tọa độ HN72 chưa chuyển sang hệ tọa độ VN

2000 Nếu thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003, toàn

bộ bản đồ phải được chuyến đổi dẫn đến hệ thống

thửa đất và số tờ bản đồ địa chính cũ phải đánh số

lại toàn bộ Kết quả là GCNQSdĐ thay đổi, hệ thống

hồ sơ địa chính cũ cũng phải thay đổi theo Trong khi

đó, kinh phí xây dựng hồ sơ địa chính mỗi năm thành

phố cấp chỉ đủ để xây dựng cho 3 phường Vì thế, hệ

thống hồ sơ địa chính hiện tại chưa đáp ứng nhu cầu

quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn quận

4 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây

dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn quận Sơn

Trà trong những năm tới

a Về phía các cấp chính quyền

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính

sách pháp luật về đất đai đến mọi công dân bằng mọi

phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát

thanh, truyền hình nhằm nâng cao nhận thức, tự giác

chấp hành pháp luật của nhân dân, tự giác thực hiện

nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đầy đủ,

kịp thời;

- Ban hành các văn bản chỉ đạo thống nhất, kịp

thời giải quyết các vướng mắc trong quá trình cấp

GCNQSdĐ cho nhân dân;

- Các trường hợp đề nghị cấp GCNQSdĐ có nguồn gốc là đất nông nghiệp, đất nghĩa địa hiện không nằm trong quy hoạch, không tranh chấp đã sử dụng ổn định trước ngày 01.7.2004 thì cho phép cấp GCNQSdĐ và thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp theo khoản 2, Điều 6 Nghị định 198/2004/NĐ-CP;

- UBNd các phường cần đẩy nhanh việc xác minh,

ký xác nhận đơn đề nghị cấp GCNQSdĐ và các giấy tờ liên quan của công dân

b Về phía Sở Tài nguyên & Môi trường và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất một cấp

- Thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác cấp GCNQSdĐ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

- Các trường hợp đề nghị cấp GCNQSdĐ có nguồn gốc nhận chuyển nhượng, tặng cho sau ngày 01.7.2004 hiện không nằm trong quy hoạch, không tranh chấp đã sử dụng ổn định liên tục đến nay thì báo cáo, đề xuất UBNd thành phố cho phép cấp GCNQSdĐ và thu 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định của UBNd thành phố;

- Các trường hợp nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ nhà, đất trước ngày 01.7.2004 có nguồn gốc từ Giấy chứng nhận tạm thời do Sở Địa chính - Nhà đất thành phố cấp trước đây thì cho phép cấp GCNQSdĐ;

- Các trường hợp xây dựng nhà lấn chiếm một phần đất công cộng hoặc không gian, nay có xác nhận của các hộ lân cận và chính quyền địa phương không có tranh chấp, không ảnh hưởng đến giao thông đi lại thì cho phép cấp GCNQSdĐ và ghi chú không công nhận phần diện tích lấn chiếm;

- Có bộ phận chuyên trách kiểm tra và tham mưu lãnh đạo trả lời các báo cáo, kiến nghị của chi nhánh

và công dân để nhanh chóng, kịp thời giải quyết hồ

sơ cho công dân đảm bảo thời gian theo quy định;

- Tăng cường tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ;

- Đo đạc và lập bản đồ địa chính đối với những khu đất trước đây là đất nông nghiệp, đất nghĩa địa nhưng đã được người dân phân lô và sử dụng ổn định trước ngày 01.7.2004 đến nay, hiện không nằm trong quy hoạch, không tranh chấp đã có nhà ở và ranh giới đất riêng biệt;

Trang 7

- Tạo môi trường làm việc thân thiện, thoải mái

cho viên chức và người lao động nhằm giảm áp lực

công việc, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc Kịp

thời khen thưởng những viên chức và người lao động

hoàn thành xuất sắc công việc được giao để động

viên và khích lệ tinh thần làm việc

c Về phía chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất quận Sơn Trà

- Công khai quy trình, thủ tục tại nơi tiếp nhận và

trả kết quả phải rõ ràng và đầy đủ Cần phải làm thế

nào để công dân hiểu và biết rõ họ phải làm gì, phải

bổ sung những loại giấy tờ nào khi đến cơ quan đề

nghị cấp GCNQSdĐ;

- Bố trí cán bộ tiếp nhận hồ sơ có năng lực, trình

độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức

tốt và am hiểu về công việc, về pháp luật, biết cách

ứng xử, thái độ phục vụ ân cần, tận tình chu đáo với

nhân dân;

- Phối hợp chặt chẽ với các phòng ban của UBNd

quận Sơn Trà trong quá trình xử lý hồ sơ cho công dân

như xác nhận quy hoạch, lấy ý kiến về kiến trúc cảnh

quan nhà ở để giải quyết hồ sơ cho công dân nhanh

chóng, đúng quy định;

- Phối hợp với UBNd các phường cử nhân viên đến

từng tổ dân phố tổ chức, hướng dẫn nhân dân kê khai

cấp GCNQSdĐ, đo đạc hiện trạng nhà, đất cùng một

lúc và chuyển hồ sơ cho UBNd phường niêm yết theo

quy định Phân loại hồ sơ, những trường hợp đủ điều

kiện theo quy định thì lập thủ tục cấp GCNQSdĐ,

những trường hợp chưa đủ điều kiện thì lập danh

sách và báo cáo cấp trên xin ý kiến giải quyết;

- Kịp thời thông báo cho nhân dân biết các quy

định về cấp GCNQSdĐ, tách thửa, cho phép nợ tiền

sử dụng đất và lệ phí trước bạ trong 5 năm không tính

lãi suất khi được cấp GCNQSdĐ;

- Thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên,

TÀI LIỆU THaM KHẢo

1 Chi nhánh Văn phòng quyền sử dụng đất quận Sơn

Trà, 2012 Báo cáo kết quả thu chi tiền trong lĩnh vực đất đai

quận Sơn Trà từ năm 2008 - 2012.

2 Đinh Văn Thóa 2004 Bài giảng quản lý Nhà nước về

đất đai Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế

3 Lê Ngọc Phương Quý 2011 Bài giảng Đăng ký thống

kê đất đai Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế

4 UBNd quận Sơn Trà 2010 Báo cáo về việc Tổng kết thi

hành Luật đất đai năm 2010.

5 Tạp chí Cộng sản 2012 “Thực trạng sử dụng dụng đất

đai ở Việt Nam qua các thời kỳ”

6 UBNd quận Sơn Trà 2012 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội

quận Sơn Trà từ năm 2005 đến năm 2012

7 UBNd quận Sơn Trà 2012 Báo cáo kết quả thống kê

đất đai từ năm 2005 đến năm 2012.

8 UBNd quận Sơn Trà 2012 Báo cáo tình hình công tác

quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn quận từ khi thực hiện Luật Đất đai năm 2003 đến ngày 30.6.2012.

9 UBNd quận Sơn Trà 2012 Nhìn lại chặng đường 15

quận Sơn Trà Đà Nẵng: Đà Nẵng.

báo cáo nhanh chóng, kịp thời những vướng mắc trong quá trình thực hiện công việc;

- Mỗi cán bộ, viên chức cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức khi phục vụ nhân dân, tránh tình trạng sách nhiễu gây phiền hà cho nhân dân Thường xuyên trao dồi chuyên môn nghiệp vụ nâng cao trình độ, sáng tạo trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Kết hợp giữa công nghệ mới và công nghệ truyền thống đang phổ biến trong ngành để tận dụng trình độ cán bộ hiện tại và đẩy nhanh tiến độ triển khai, tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo mới lại hoàn toàn Từ đó đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc nhanh chóng, chính xác và công tác quản lý dễ dàng, hiệu quả hơn Hiện nay, quận Sơn Trà đã triển khai áp dụng một số phần mềm như Mapinfor, Microstation, AutoCad, TK05,… để quản lý, song ứng dụng còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ do trình độ của cán bộ, chuyên viên còn hạn chế

N.T.H - P.T.T.

Ngày đăng: 02/02/2020, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w