1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật: Phần 3

186 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 27,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật: Phần 3 trình bày các nội dung chính sau: Các yếu tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật, quy phạm pháp luật, xây dựng pháp luật, hệ thống hóa pháp luật, quan hệ pháp luật, những tiêu chí cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, vi phạm pháp luật, ý thức pháp luật,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

PHẦN 3 CÁC YẾU Tti CỦA cơ CHẾ ĐIẾU CHÍNH PHẤP LUẬT

C hương 14

QUY PHẠM PHÁP LUẬT 14.1 Khái niệm quy phạm pháp luật

Tính cộng đồng của đời sống con người xuất hiện nhu cầu cần phải phối hợp, quy tụ hoạt động của những cá nhân riêng rẽ để đạt được những mục đích nhất định, nghĩa là, nhu cầu điều chỉnh những mối quan hệ giữa ngưòi với người Điểu chỉnh mối quan hệ giữa con người là nhu cầu cần thiết, tất yếu của đời sống con người, đặc biệt

là khi tính chất xã hội hoá các hoạt động của con ngưòi ngày càng được mở rộng vể quy mô và sự phức tạp

Việc điểu chỉnh hoạt động của các cá nhân riêng rẽ có thể được thực hiện dựa vào những mệnh lệnh cá biệt hoặc bằng cách mẫu hóa cách xử sự của con ngưòi, nghĩa là, đưa ra những quy tắc xử sự làm mẫu để bất kỳ ai khi ở vào những hoàn cảnh, điểu kiện đã được dự liệu cũng xử

sự như vậy

Việc mẫu hóa cách xử sự của con người phải là kết quả nghiên cứu nhiều cách xử sự cá biệt cụ thể khác nhau rồi

Trang 2

khái quát hoá để tạo ra quy tắc (cách) xử sự mẫu sao cho phù hợp với đa sô', được số đông chấp thuận Những quy tắc xử sự ấy được sử dụng nhiều lần trong đời sống xã hỏi, chúng được gọi là quy phạm Trong xả hội, có nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau cùng được sử dụng để điéu chỉnh các quan hệ xã hội như quy phạm đạo đức, quy phạm tập quán, quy phạm của các tổ chức chính trị - xã hội, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy, nó vừa mang đầy đủ những thuộc tính chung của quy • phạm xã hội vừa có những thuộc tính của riêng mình Cụ thể là:

- Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự: Với tư cách là quy tắc xử sự, quy phạm pháp luật luôn là khuôn mẫu cho hành vi con người, nó chỉ dẫn cho mọi người cách xử sự trong những tình huống nhất định Điều này cũng có nghĩa là quy phạm pháp luật đã chỉ ra cách xử sự, xác định các phạm vi xử sự của con người trong những hoàn cảnh, điểu kiện nhất định, cũng như những kết quả hay hậu quả bất lợi gì mà họ được nhận hoặc phải gánh chịu nếu như họ thực hiện đúng hoặc vi phạm chúng

- Quy phạm pháp luật là chuẩn mực đ ể xác định giới hạn và đảnh giá hành vi của con người: Không chỉ là khuôn mẫu cho hành vi, quy phạm pháp luật còn là chuẩn mực

để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ mà nó điểu chỉnh từ phía Nhà nước và

từ phía các chủ thể khác về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của các bên Nghĩa là, thông qua quy phạm pháp luật mối biết được hoạt động nào của các chủ

Trang 3

thể có hoặc không có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào hợp pháp hoặc trái pháp luật

- Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện: Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn, do vậy bản chất của chúng trùng với bản chất của pháp luật Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí nhà nưốc, chúng chứa đựng trong mình những tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý của Nhà nước, của lực lượng cầm quyển trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước áp đặt ý chí của mình trong quy phạm pháp luật bằng cách xác định những tổ chức, cá nhân nào trong những hoàn cảnh, điều kiện nào thì phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật, những quyển và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp mà Nhà nưốc sẽ bảo đảm cho chúng được thực hiện Thuộc tính do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện là thuộc tính thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa quy phạm pháp luật với các loại quy phạm xã hội khác

- Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung: Quy phạm pháp luật được ban hành không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho các tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ xã hội mà nó điểu chỉnh Để có được một quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước phải nghiên cứu rất nhiều các quy tắc xử sự cụ thể, tìm ra những điểm chung giữa chúng rồi từ đó mô hình hoá thành quy tắc xử 8ự chung Quy tắc xử sự chung là sự khái quát từ các quy tắc xử sự cụ thể nên nó sẽ phù hợp với hầu hết các trường hợp cụ thể Mọi tổ chức, cá nhân ở vào tình huống mà quy phạm pháp luật đã dự liệu đểu xử sự cơ bản như nhau

Trang 4

Tính chất chung của quy phạm pháp luật thể hiện ở chỗ nó được đặt ra không phải chỉ để điểu chỉnh một quan

hệ xã hội cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, nghĩa là, từng quan hệ xã hội cụ thể bên cạnh những điểm chung thì cũng có rất nhiều những điểm riêng biệt, nhưng quy phạm pháp luật đã thống nhất tất cả chúng lại và thiết lập ra quy tắc xử sự có tính chất chung cho tất cả những chủ thể tham gia quan hệ xã hội chung

đó Chẳng hạn, giữa những người mua và những người bán khác nhau có thể thiết lập nên rất nhiều những quan

hệ mua bán cụ thể với những đặc điểm riêng của từng mối quan hệ, song tất cả những quan hệ giữa người mua và ngưòi bán đểu phải tuân theo các quy tắc có tính chất chung đã được quy định trong pháp luật dân sự về vấn đề này, theo V.I.Lênin thì: bất cứ quyền nào cũng đểu có nghĩa là áp dụng một tiêu chuẩn duy nhất cho những người khác nhau, cho những người thật ra thì không giống nhau và cũng không ngang nhau

Tuy nhiên, tính chất chung của các quy phạm pháp luật khác nhau thì khác nhau Chẳng hạn, quy phạim pháp luật Hiến pháp thì có liên quan đến mọi tổ chức wà

cá nhân trong đất nưốc, nhưng quy phạm pháp luật lao động thì chỉ liên quan đến những người quản lý, sử dụmg lao động và những người lao động

Quy phạm pháp luật có thể tác động nhiều lần v à trong thòi gian tương đối dài cho đến khi nó mất hiệu

lực Nó được sử dụng trong tất cả mọi trường hợp klẾn xuất hiện những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) đìã

được dự liệu.

Trang 5

- Quy phạm pháp luật là công cụ điểu chỉnh quan hệ

xã hội, mà nội dung của nó thường th ể hiện hai mặt là cho phép và bắt buộc, nghĩa là, quy phạm pháp luật là quy tắc

xử sự trong đó chỉ ra các quyển và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội trong quy phạm pháp luật thường chứa đựng những chỉ dẫn vể khả năng và các phạm vi có thể xử sự, cũng như những nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điểu chỉnh Các quyển

và nghĩa vụ được quy phạm pháp luật dự liệu cho các chủ thể tham gia quan hệ mà nó điều chỉnh luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau Hình thức, tính chất của sự liên hệ đó• 7 ♦ ♦

do Nhà nước xác định phụ thuộc vào tính chầt của chính quan hệ xã hội đó Vì vậy, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật quy phạm pháp luật có vai trò thực hiện chức năng thông báo của Nhà nưốc đến các chủ thể tham gia quan hệ

xã hội vể nội dung ý chí, mong muốn của Nhà nước để họ biết được cái gì có thể làm, cái gì không được làm, cái gì phải làm, cái gì phải tránh không làm trong những hoàn cảnh, điểu kiện nhất định nào đó

- Quy phạm pháp luật có tính hệ thống: Mỗi quy phạm pháp luật không tồn tại và tác động một cách biệt lập, riêng rẽ, mà giữa chúng luôn có sự liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo nên những chỉnh thể (hệ thống) lớn nhỏ khác nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội

Quy phạm pháp luật của các nhà nước đương đại chủ yếu

là quy phạm pháp luật thành văn, chúng được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật Số lượng của chúng ngày một nhiều hơn và phạm vi các đối tượng mà

Trang 6

chúng tác động ngày càng rộng hơn, trật tự ban hành, áp dụng và bảo vệ chúng ngày càng dân chủ với sự tham gia của đông đảo các thành viên trong xã hội Nội dung của quy phạm pháp luật ngày càng trở nên chính xác, chặt chẽ, rõ ràng, thống nhất và có tính khả thi cao.

Phản ánh sự phát triển năng động của xã hội các quy phạm pháp luật luôn có sự thay đổi cùng với sự thay đổi

vể kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước ở mỗi thòi kỳ phát triển, nên chúng có thể bị hủy bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung trong quá trình hoạt động pháp luật của Nhà nưóc

Tóm lại, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung

do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện đ ể điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và mục đích mong muốn.

Các quy phạm pháp luật có thể là những quy tắc xử sự của công dân, của những người có chức vụ, quyển hạn, là những quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về địa vị pháp lý của các đoàn thể, tổ chức quần chúng và các chủ thể pháp luật khác

14.2 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Về cấu trúc của quy phạm pháp luật, trong khoa học pháp lý chưa có được sự thống nhất về mặt lý luận Hiện tại, còn tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn để

này: Một số ngưòi cho rằng, quy phạm pháp luật có ba bộ

phận là giả định, quy định và chế tài; số khác lại cho rằng, quy phạm pháp luật chỉ có hai bộ phận là giả định và quy định hoặc giả định và chế tài; hoặc phần quy tắc và phần

Trang 7

bảo đảm Sở dĩ tồn tại nhiều quan điểm khác nhau vể cấu trúc của quy phạm pháp luật như vậy là vì các nhà làm luật có quá nhiêu những cách thức thể hiện chúng.

Củng như các quy phạm xã hội khác, quy phạm pháp luật chứa trong nó những câu hỏi: Ai (tổ chức, cá nhân nào)? Trong tình huống nào (khi nào) thì sẽ xử sự ra sao?

Từ đó cho thấy, quy phạm pháp luật có các bộ phận cấu thành gồm: Bộ phận giả định và bộ phận chỉ dẫn

14.2.1 G iả đ in h: là bộ p h ậ n của quy phạm pháp luật trong đó nêu ra những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) có thể xảy ra trong đòi sống xã hội mà quy phạm pháp luật sẽ tác động đối với những chủ thể (tổ chức, cá nhân) nhất định, nói cách khác, giả định nêu lên phạm vi tác động của quy phạm pháp luật: quy phạm pháp luật sẽ tác động đối với cá nhân hay tổ chức nào? trong những hoàn cảnh, điều kiện nào? về thời gian và không gian Chẳng hạn, “Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình

hoặc vì sự nghiệp khoa học m à bị bức h ại thì được nhà

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú”. Bộ phận giả định của quy phạm này là:

‘‘Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc,

vi chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình hoặc vì sự nghiệp khoa học m à bị bức h ạ i”.

Những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) được nêu ra trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật là vô cùng phong phú Đó có thể là những sự kiện: liên quan đến hành vi của con người (tham gia giao thông, côi ý gầy thương tích cho người khác ); liên quan đến sự kiện

Trang 8

(thiên tai, sự sinh, tử ); liên quan đến thời gian (trước hay sau cách mạng ); liên quan đến không gian (miền núi hay đồng bằng ), vể điều kiện có thể là: điều kiện về thời gian (trước, trong hoặc sau một khoảng thời gian nào đó như trong thời gian bảo hành sản phẩm ); điều kiện về không gian (địa điểm xảy ra sự kiện như nơi tội phạm xảy ra ); điều kiện vể chủ thể (độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch hoặc những đặc tính cá nhân khác như tàn tật, ốm đau, trạng thái thần kinh ) và rất nhiều những điểu kiện khác như không nơi nương tựa, điều kiện cứu giúp người khác khi họ đang bị nguy hiểm đến tính mạng tuỳ theo hoàn cảnh mà Nhà nước quy định về điều kiện đối với chủ thể.

Như vậy, bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lòi cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân nào? trong những hoàn cảnh, điều kiện nào? Thông qua bộ phận giả định của quy phạm pháp luật, chúng ta biết được tổ chức, cá nhân nào? khi ở vào những hoàn cảnh, điểu kiện nào? thì chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó Việc xác định tổ chức, cá nhân nào và những hoàn cảnh, điều kiện nào để tác động là phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước

Những chủ thể, hoàn cảnh, điểu kiện nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật phải rõ ràng, chính xác, sát với tình hình thực tế, tránh tình trạng nêu mập mờ, khó hiểu, dẫn đến khả năng không thể hiểu được hoặc hiểu sai lệch nội dung của quy phạm pháp luật Trong bộ phận giả định, nêu phạm vi tác động của quy phạm pháp luật, do vậy, khi xây dựng pháp luật cần phải

dự kiến được tới mức tối đa những tình huống có thể xảy

Trang 9

ra trong đòi sống thực tế mà trong đó quan hệ xã hội cần phải được điểu chỉnh bằng pháp luật Có làm được như vậy thì những thiếu sót, những "lỗ hổng" trong pháp luật mới có thể giảm bốt và hạn chế được việc áp dụng pháp luật tương tự Các tổ chức, cá nhân khi thực hiện pháp luật, đặc biệt là khi áp dụng pháp luật cần phải nhận thức thật chính xác xem chủ thể nào chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó.

Giả định của quy phạm pháp luật có thể giản đơn (chỉ nêu một hoàn cảnh, điểu kiện) Ví dụ: "Công dân có nghĩa

vụ đóng thu ế và lao động công ích theo quy định của pháp luật" hoặc có thể phức tạp (nêu nhiều hoàn cảnh, điều kiện) Ví dụ: "Người nào thấy người khác đang ở trong tinh trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt

tù từ ba tháng đến hai năm".

Những hoàn cảnh, điểu kiện và chủ thể được nêu trong bộ phận giả định các quy phạm pháp luật có thể được nêu theo cách liệt kê (kể tên tất cả các tình huống có thể xảy ra Chẳng hạn, “Nghiêm cấm người điều khiển các loại xe trong các trường hợp sau đây: a) Do tình trạng sức khoẻ không tự chủ điều khiển được tốc độ xe; b) Người lái

xe đang điều khiển xe trên đường m à trong máu có nồng

độ cồn, rượu, bia vượt quá 80m m g/100m m l máu hoặc 40m m gl 1 lít k h í thở và các chất kích thích khác; c) Không

có đủ giấy tờ đã quy định "), nhưng cũng có thể được nêu theo cách loại trừ (loại trừ những chủ thể hoặc những trường hợp không chịu sự tác động của quy phạm Chẳng

Trang 10

hạn, “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín đ ể giữ gìn bí mật nhà nước hoặc thuần phong mỹ tục của dân tộc”).

Gíả định của quy phạm pháp luật có thể thay đổi do sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước hoặc sự thay đổi của các quan điểm chính trị - pháp lý của Nhà nưốc và sự nhận thức của những người có liên quan tối quá trình xây dựng pháp luật của đất nưốc

14.2.2 C hỉ dẫru là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những mệnh lệnh, chỉ dẫn của Nhà nước cho các chủ thể gặp phải những tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật

Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật được coi là phần cốt lõi của quy phạm, nó biểu hiện ý chí của Nhà nước đối vôi các tổ chức hay cá nhân ỏ vào những tình huống đã được nêu trong bộ phận giả định của quy phạm

Bộ phận chỉ dẫn thường nêu ra những mệnh lệnh, chỉ dẫn

ở dạng: Được, có (những hành vi được phép thực hiện); phải, thì (những hành vi buộc phải thực hiện); cấm, không được (những hành vi không được phép thực hiện)

Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có tác dụng đưa ra những mệnh lệnh, chỉ dẫn của nhà nước cho các chủ thể để họ biết cách xử sự sao cho phù hợp vối ý chí của Nhà nước Nói cách khác, thông qua bộ phận chỉ dẫn, các

tổ chức và cá nhân mới biết được là nếu như gặp những tình huống đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thì họ phải làm gì? được hoặc không được làm gì? Vì vậy, mức độ chính xác, chặt chẽ, rõ ràng của các mệnh lệnh, chỉ dẫn được nêu trong bộ phận quy định của

Trang 11

quy phạm pháp luật là một trong những bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động của các chủ thể pháp luật.

Những mệnh lệnh, chỉ dẫn được nêu ra trong bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có thể được chia ra thành hai loại:m

a) Nhóm thứ nhất là những chỉ dẫn cho các chủ thể đã được nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật khi họ gặp những tình huống đã được quy phạm dự liệu

Những mệnh lệnh, chỉ dẫn loại này trước đây theo quan niệm truyền thống gọi là bộ phận “quy định” của quy phạm pháp luật, chúng thường trả lồi cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân khi ở vào những tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm phải làm gì? được làm gì? không được làm gì? thậm chí là làm như thế nào?

Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật thường nêu

ra các quyển mà các chủ thể được hưởng hoặc các nghĩa vụ pháp lý mà họ phải thực hiện, mặc dù không phải khí nào thuật ngữ quyền và nghĩa vụ cũng được trực tiếp thể hiện trong lời văn của quy phạm Ví dụ: "Công dân có nghĩa vụ đóng thu ế và lao động công ích theo quy định của pháp luật". Trong quy phạm này bộ phận chỉ dẫn (phải làm gì?) là: “có nghĩa vụ đóng thu ế và lao động công ích theo quy định của pháp luật"; hoặc “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật". Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm này (được làm gì?) là: “có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật"; hoặc "Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của ủy ban thường vụ Quốic hội thì không được bắt giam , truy tố đại biểu Quốc hội và

Trang 12

không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội ”. Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm này (không

được làm gì?) là: "Không được bắt giam , truy tô' đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội”-, hoặc “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận, thì có th ể

áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật,

nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định

trong Bộ luật này”. Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm này (làm như thế nào?) là: “thì có th ể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này".

Những mệnh lệnh, chỉ dẫn của Nhà nước trong bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có thể chỉ nêu một cách xử sự và các chủ thể buộc phải thực hiện mà không

có sự lựa chọn Chẳng hạn, "Việc quyết định giao đất đang

có người sử dụng cho người khác chỉ được tiên hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó" hoặc có thể nêu ra hai hoặc nhiều cách xử sự và cho phép chủ thể có thể lựa chọn cho mình cách xử sự thích hợp từ những cách đã nêu Chẳng hạn, "Việc kết hôn phải do úy ban nhân dân cơ sở nơi thường trú của bên nam hoặc bên nữ công nhận và ghi vào s ổ đăng ký kết hôn theo đúng thủ tục do N hà nước quy định Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý". Trong trường hợp này, các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân có thể lựa chọn việc đăng ký kết hôn tại

Uỷ ban nhân dân nơi thường trú của bên nam hoặc bên nữ đểu được cả Trong một số trường hợp khác, Nhà nưốc còn cho phép các chủ thể có thể tự thoả thuận trong việc xác

Trang 13

định quyển và nghĩa vụ của nhau, đồng thời, cũng nêu ra cách xử sự buộc các chủ thể phải tuân theo trong trường hợp không thể thoả thuận được với nhau Chẳng hạn,

“C hất lượng của vật mua bán do các bên thoả thuận Khi các bên không có thoả thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại"

b) Nhóm thứ hai là những chỉ dẫn nêu lên các biện pháp tác động mà các chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng đối với các chủ thể đã được nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật

Những chỉ dẫn loại này thường trả lời cho câu hỏi: Khi gặp những tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyển có thể áp dụng những biện pháp gì đối với các chủ thể đã được nêu ỏ

bộ phận giả định của quy phạm pháp luật? Còn đối với các chủ thể đã được nêu ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thì thông qua phần biện pháp tác động Nhà nước gián tiếp thông báo hoặc cảnh báo cho họ là nếu như

họ ỏ vào những tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thì họ có thể được khen thưởng hoặc phải chịu những hậu quả bất lợi, bị trừng phạt như thế nào Từ những thông tin trên, các tổ chức, cá nhân sẽ biết được cái gì nên làm, cái gì không nên làm, cái gì nên tránh, đồng thời có thể giám sát các chủ thể có thẩm quyển xem họ áp dụng pháp luật có đúng không Các biện pháp mà Nhà nưóc nêu ra trong bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật để áp dụng rất đa dạng, đó có thể là:

Trang 14

- C hế tài là biện pháp cưỡng chế có liên quan tới trách nhiệm pháp lý để áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Chẩng hạn, "Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đ ãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm". Bộ phận giả định nêu chủ thể chịu sự tác động của quy phạm này là: "Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc minh làm người đó tự sát". Bộ phận biện pháp tác động (chế tài) mà Nhà nước chỉ dẫn cho chủ thể có thẩm quyền

áp dụng đối với chủ thể đã thực hiện hành vi nêu ở bộ phận giả định của quy phạm là: "phạt tù từ h ai năm đến bảy năm". Chế tài là một trong những biện pháp quan trọng để bảo đảm cho các quy định (những đòi hỏi, yêu cầu) của pháp luật được thực hiện nghiêm minh Do vậy, nếu các biện pháp trong chế tài được quy định không phù hợp (quá nặng hoặc quá nhẹ ) thì tác dụng răn đe, trừng phạt của chúng sẽ có thể kém hiệu quả Các biện pháp cưõng chế (chế tài) gồm có: C hế tài hình sự; c h ế tài hành chính; ch ế tài kỷ luật; c h ế tài dân sự

- Các biện pháp gây hậu quả bất lợi cho chủ thể nhưng không liên quan đến trách nhiệm pháp lý

- Các biện pháp khen thưởng mang tính khuyến khích

về lợi ích vật chất, tinh thần hoặc các lợi ích khác để động viên các tổ chức, cá nhân thực hiện pháp luật nghiêm minh, thực hiện những hành vi có ích cho Nhà nước và xã hội Chẳng hạn, “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho N hà nước, tổ chức, cá

Trang 15

nhân thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật”

Biện pháp tác động được Nhà nước chỉ dẫn cho chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm là: "khen thưởng theo quy định của pháp luật".

- Các biện pháp mang tính hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện đối với một số tổ chức, cá nhân rơi vào tình huống (hoàn cảnh, điểu kiện) khó khăn cần giúp đõ

Bộ phận chỉ dẫn của quy phạm có thể quy định chính xác, cụ thể biện pháp sẽ áp dụng đối với chủ thể, nhưng cũng có thể không quy định các biện pháp áp dụng một cách dứt khoát hoặc chỉ quy định mức thấp nhất và mức cao nhất của biện pháp tác động Chẳng hạn, “Người nào

c ố ý gây thương tích hoặc gây tổn h ại cho sức khoẻ của người khác m à tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm ”. Biện pháp dự kiến để áp dụng nêu trong bộ phận biện pháp tác động bao gồm: phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm, phạt tù từ ba tháng đến một năm Việc áp dụng biện pháp nào? mức độ bao nhiêu là do chủ thể có thẩm quyển áp dụng lựa chọn cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của vụ việc cần áp dụng

14.3 Những cách thức thể hiện quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật được biểu đạt trong các 'quy định của nguồn luật Các quy định của nguồn luật (gọi chung là điểu luật) chỉ là hình thức biểu đạt của quy

Trang 16

phạm pháp luật (quy phạm là nội dung, điểu luật là hình thức thể hiện).

Để bảo đảm tính lôgích, chặt chẽ thông thường, quy phạm pháp luật được thể hiện theo một kết cấu là: Nếu tổ chức hay cá nhân nào đó ở vào những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) nào đó (giả định), thì được (không được) phép hay buộc phải xử sự theo một cách thức nhất định nào

đó (chỉ dẫn); Hoặc nếu tổ chức hay cá nhân nào đó ở vào những tình huốhg (hoàn cảnh, điều kiện) nào đó (giả định),

thì các chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng những biện pháp nào đối với họ (chỉ dẫn) Tuy nhiên trong thực tế, việc thể hiện quy phạm pháp luật trong các điều của pháp luật hết sức phong phú, đa dạng nên giữa quy phạm pháp luật

và điều luật không phải khi nào củng trùng nhau:

- Có thể trình bày một q u y phạm pháp luật trong một điều luật (lúc này thì quy phạm pháp luật trùng với điều luật) Song cũng có thể trình bày nhiều quy phạm pháp luật trong cùng một điểu luật Cách thức trình bày này thường liên quan đến các quy phạm pháp luật có nội dung tương tự như nhau hoặc cùng liên quan đến một vấn đề Cách trình bày như thế sẽ tiện lợi cho việc 80 sánh và nhận thức nội dung các quy phạm pháp luật đó Trong trường hợp này, mỗi phần, mỗi khoản của điểu luật được coi là một quy phạm pháp luật độc lập Hoặc trình bày một quy phạm pháp luật trong nhiều điều luật khác nhau của cùng một văn bản hoặc ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau

- Trật tự trình bày các bộ phận của quy phạm pháp luật trong điều luật có thể thay đổi chứ không nhất thiết

Trang 17

cứ phải trình bày đầu tiên là bộ phận giả định rồi sau mdi tới bộ phận chỉ dẫn.

- C ó thể t r ì n h bày đầy đ ủ các b ộ phận của q u y phạm pháp luật trong một điều luật nhưng cũng có trường hợp một bộ phận nào đó của quy phạm lại được giới thiệu (viện dẫn) ở các điều, khoản khác trong cùng văn bản quy phạm pháp luật đó hoặc ở các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định vể vấn để đó Do vậy, có trường hợp một số quy phạm pháp luật có thể có chung một bộ phận như chung giả định hoặc chế tài

Ngoài ra, còn có nhiều cách trình bày khác về quy phạm pháp luật, tuy nhiên, các cách trình bày dù khác nhau đến đâu thì chúng cũng đều thể hiện một mô hình chung là: "nếu thì ".

14.4 Phân ỉoại quy phạm pháp luật

Có rất nhiều loại quy phạm pháp luật và cũng có rất nhiều cách để phân chia chúng:

- Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, pháp luật có thể phân chia các quy phạm pháp luật thành các nhóm lớn như ngành luật (quy phạm pháp luật hình sự, quy phạm pháp luật hành chính ) Với cách tiếp cận này còn có thể chia các quy phạm pháp luật thành những nhóm nhỏ hơn như phân ngành luật, chế định pháp luật

- Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật, có thể chia quy phạm pháp luật thành quy phạm pháp luật điểu chỉnh và quy phạm pháp luật bảo vệ:

+ Quy phạm pháp luật điều chỉnh có nội dung trực tiếp điều chỉnh hành vi của con người và hoạt động của

Trang 18

các tổ chức (quy định thẩm quyển của cd quan nhà nước, địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội và những quyển, nghĩa vụ của các cá nhân);

+ Quy phạm pháp luật bảo vệ có nội dung xác định cốc biện pháp cưõng chế mà Nhà nước cho phép áp dụng đôì với các chủ thể thực hiện không đúng các quy định pháp luật, vi phạm pháp luật

- Phụ thuộc vào hình thức mệnh lệnh nêu trong bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có thể chia quy phạm pháp luật thành quy phạm pháp luật dứt khoát, quy phạm pháp luật không dứt khoát và quy phạm pháp luật hướng dẫn:

+ Quy phạm pháp luật dứt khoất có bộ phận chỉ dẫn chỉ nêu ra một cách xử sự rõ ràng, chặt chẽ;

+ Quy phạm pháp luật không dứt khoát có bộ phận chỉ dẫn nêu ra hai hoặc nhiểu cách xử sự và cho phép chủ thể lựa chọn cho mình một cách xử sự từ những cách đã nêu;+ Quy phạm pháp luật hướng dẫn có bộ phận chỉ dẫn nêu ra những khuyên nhủ, hưống dẫn các chủ thể tự giải quyết một số công việc nhất định

- Phụ thuộc vào cách thức xử sự được thể hiện trong bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có thể chia quy phạm pháp luật thành quy phạm pháp luật bắt buộc, quy phạm pháp luật cấm và quy phạm pháp luật cho phép:

+ Quy phạm pháp luật bắt buộc có bộ phận chỉ dẫn

buộc chủ thể nghĩa vụ phải thực hiện một 8Ố hành vi có lợi

nhất định

+' Quỵ phạm pháp luật cấm có bộ phận chỉ dẫn cấm chủ thể không được thực hiện một số hành vi nhất định

Trang 19

+ Quy phạm pháp luật cho phép có bộ phận chỉ dẫn cho phép chủ thể khả năng tự xử sự theo cách thức nhất định.

- Căn cứ vào nội dung, tác dụng của quy phạm pháp luật có thể chia các quy phạm pháp luật thành quy phạm nội dung và quy phạm hình thức

+ Quy phạm ph áp luật nội dung là quy phạm xác định các quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm của các chủ thể pháp luật

+ Quy phạm pháp luật hình thức là quy phạm xác định trình tự, thủ tục để các chủ thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình hay tiến hành áp dụng pháp luật hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý

- Ngoài ra, còn có nhiều cách phân chia khác nữa đối với các quy phạm pháp luật tuỳ theo cách tiếp cận và mục đích tìm hiểu, nghiên cứu của chủ thể

Trang 20

XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT • *

15.1 Xây dựng pháp luật

15.1.1 Khái niệm xây d ự n g pháp luật:

Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu của bất kỳ Nhà nưốc nào Để tổ chức

và quản lý các lĩnh vực quan trọng khác nhau của đời sống

xã hội được tốt thì Nhà nước phải tiến hành xây dựng một

hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý cho việc

tổ chức và hoạt động của các cơ quan, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội khác và sự ứng xử của các cá nhân trong toàn xã hội Ngày nay, pháp luật không chỉ giới hạn phạm

vi tác động trong từng quốc gia mà còn mở rộng phạm vi tác động lên các mối quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia, dân tộc và các tổ chức quốc tế Điểu này càng làm tăng thêm vai trò, mục đích ý nghla của hoạt động xây dựng pháp ỉuật

Xây dựng pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình điểu chỉnh pháp luật nhằm mục đích trật tự hoá và định hướng sự phát triển đối với các quan hệ xã hội cho phù hợp mong muốn để ra của Nhà nước và xã hội Thông qua

Chương 15

Trang 21

hoạt động xây dựng pháp luật, các quy định pháp luật được ban hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối vối các quan hệ xã hội Xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, biến những đòi hỏi, những quy luật khách quan thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung để củng cố Nhà nưốc, xây dựng nền kinh

tê, văn hoá và xã hội đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển bển vững đất nước

Xây dựng pháp luật được hiểu là hoạt động đưa ý chí nhà nước, ý chí của lực lượng thống trị xã hội lên thành pháp luật và là một trong những hình thức chính của việc thể hiện và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tiễn

Do vậy, xây dựng pháp luật là một hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng nhà nưốc, được tiến hành thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyển Hoạt động ban hành pháp luật có thể được thực hiện bằng cách: Nhà nước phê chuẩn các quy tắc như tập quán, đạo đức đã có sẵn trong xã hội thành pháp luật, hoặc Nhà nước tự mình ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật, tạo ra các nguồn luật từ hoạt động thực tiễn của các cơ quan hành chính và tư pháp trong việc giải quyết những vụ việc cụ thể Nhà nước cũng có thể cùng với các tổ chức xã hội ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một sô' lĩnh vực nhất định Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động xây dựng pháp luật của các nhà nưốc chủ yếu tập trung vào việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước cũng thể hiện môì

Trang 22

quan hệ gắn bó mật thiết giữa Nhà nước và pháp luật đó

là pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, chỉ nhà nưốc mới có thể ban hành một hệ thống pháp luật thống nhất để điểu chỉnh một cách hiệu quả các quan hệ

xã hội

Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính chất sáng tạo, là quá trình nhận thức các quy luật vận động, phát triển của các quan hệ xã hội, tầm quan trọng của chúng trên cơ sỏ đó, tạo ra các quy tắc xử sự điểu chỉnh chúng cho phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan vì lợi ích của Nhà nước và xã hội Trong quá trình ban hành pháp luật, còn đòi hỏi nhà làm luật phải dự liệu trước những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong tương lai

để có thể đặt ra các quy phạm pháp luật đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài, ổn định, bển vững của đất nưổc

Ban hành quy định pháp luật là hoạt động mang tính

tổ chức rất chặt chẽ, được diễn ra theo các quy trình nhất định với những nội dung cơ bản là: Thứ nhất, làm sáng tỏ những nhu cầu về sự cần thiết của việc điểu chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội, xác^địẢh đối tượng, phạm vi và phương pháp điểu chỉnh của pháp luật; Thứ hai, công nghệ sáng tạo ra các quy định pháp luật (soạn thảo, thảo luận và thông qua quy định pháp luật) Các nhà nước có những quy định rất chặt chẽ trong pháp luật (Hiến pháp, trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong luật về tổ chức bộ máy nhà nước ) về thẩm quyền, về tên gọi, về nội dung, nguyên tắc và trình tự, thủ tục ban hành đối với từng loại hình thức pháp luật nhất định Tất cả những quy định trên đều có tác dụng trong

Trang 23

việc bảo đảm cho các quy định pháp luật được ban hành có chất lượng, mang tính khoa học, thể hiện được đầy đủ ý chí nhà nước và phát huy được hiệu lực trên thực tế.

Như vậy, xây dựng pháp luật là một quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp bao gồm rất nhiều các hoạt động k ế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều

tổ chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyển hoá ý chí nhà nước thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được th ể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật.

Xây dựng pháp luật theo nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm hoạt động ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, còn theo nghĩa rộng thì bao gồm tất cả những hoạt động (của cả Nhà nước và xã hội) có liên quan đến việc ban hành pháp luật

xây d ự n g pháp luật:

Nguyên tắc xây dựng pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo phản ánh khái quát những sự việc khách quan liên quan tới quá trình "nâng" ý chí nhà nước lên thành pháp luật Đây là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các quy phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo Các nguyên tắc

đó xuất phát từ thực tế khách quan và từ đường lối chính trị của đất nưốc Chúng bảo đảm việc thực hiện đầy đủ ý

Trang 24

chí và lợi ích của Nhà nước trong các quy phạm pháp luật Muốn đạt hiệu quả cao trong xây dựng pháp luật đòi hỏi phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cầm quyền: Nguyên tắc này là cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội Trong xã hội hiện đại, nhà nước nào cũng được lãnh đạo bởi một đảng hay một liên minh các đảng nhất định Đường lối chính sách của đảng cầm quyển luôn giữ vai trò chì đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng pháp luật-của Nhà nước

* Nguyên tắc khách quan: Quá trình xây dựng pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải điểu chỉnh các quan hệ xã hội nhất định Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan là cơ sỏ để phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đòi sống xã hội

- Nguyên tắc khoa học: Nguyên tắc này không chỉ đòi hỏi đối với nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật

mà còn đòi hỏi đối với cả hình thức thể hiện của chúng, v ề

nội dung, các quy định pháp luật phải được xây dựng trên

cơ sở những thành tựu khoa học mới nhất, về hình thức bô' cục, cấu trúc, cách thức trình bày các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật phải mang tính khoa học Xây dựng pháp ỉuật trên cơ sỏ khoa học chính ỉà điều kiện để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả thực tế của các văn bản, quy phạm pháp luật

- Nguyên tắc dân chủ: Nguyên tắc này bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng ỉốp nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật nhằm làm cho pháp ỉuật thể

Trang 25

hiện được ý chí, nguyện vọng của các thành viên trong xã hội Mặt khác, nó cho phép có thể phát huy được trí tuệ của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật, đồng thòi cũng góp phần nâng cao hơn ý thức pháp luật của nhân dân.

- Nguyên tắc p h áp chế: Để bảo đảm các văn bản quy phạm pháp luật khi đã được ban hành có giá trị pháp lý, thì các văn bản đó phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục về nội dung cũng như hình thức Mặt khác, nguyên tắc pháp chê còn đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật phải thống nhất với nhau không mâu thuẫn chồng chéo, trong đó phải tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và luật (mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp)

- Nguyên tắc bảo đảm sự hài hoà về lợi ích giữa các lực lượng xã hội: Việc bảo đảm hài hoà về lợi ích giữa các lực lượng xã hội sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật, bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích cơ bản giữa các lực lượng xã hội, làm cho xã hội ổn định, đoàn kết

vụ nốỉ tiếp nhau theo nhũng trình tự nhất định Quá trình xây dựng pháp luật có thể được phân chia thành các giai đoạn cơ bản sau:

Trang 26

- G iai đoạn tiền chuẩn bị dự án văn bản quy phạm pháp luật: Trong giai đoạn này, nhà làm luật phải nhận thức được nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các quy luật khách qúan nảy sinh trong xã hội và cần đến sự điều chỉnh của pháp luật hoặc sự cần thiết phải thay đổi sự điểu chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định (nhận thức nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội như ban hành, sửa đổi, bãi bỏ quy định hay văn bản pháp luật nào đó) Từ sự đề xuất của các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định về việc chuẩn bị dự án văn bản quy phạm pháp luật Trong quyết định này phải xác định rõ tên văn bản, đề cương nội dung văn bản, những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm soạn thảo văn bản đó.* *

- G iai đoạn chuẩn bị dự thảo văn bản quy phạm pháp luật'. Cá nhân, tổ chức đã được xác định phải tiến hành các hoạt động cần thiết để soạn thảo văn bản Trong quá trình soạn thảo văn bản phải thảo luận và sửa đổi chỉnh lý dự thảo văn bản trên cơ sở tham khảo ý kiến của các cá nhân,

tổ chức có liên quan Sau đó, trình dự án đã được thảo luận và chỉnh lý đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản

- Giai đoạn thảo luận và thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật tiến hành nghiên cứu dự thảo văn bản đã được trình, sau đó, thảo luận và nếu có thể được thì thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Trang 27

- G iai đoạn công bô và đưa văn bản quy phạm pháp luật vào hiệu lực thi hàn h: Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật Cơ quan có thẩm quyển sẽ chính thức công bố văn bản quy phạm pháp luật Đối với một số loại văn bản quy phạm pháp luật thì thủ tục công bố phải tuân theo các quy định của pháp luật (Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

Tuỳ theo tầm quan trọng và tính chất của mỗi văn bản quy phạm pháp luật mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình ban hành có thể bổ sung thêm hoặc đơn giản bớt đi những thủ tục, hoạt động nhất định

Cần lưu ý, vì pháp luật là một hệ thống nên khi ban hành bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào, thậm chí sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một quy định pháp luật nào cũng cần phải cân nhắc xem xét đến tính hệ thống của nó trong tổng thể của hệ thống pháp luật, tức

là, sự phù hợp và hiệu quả của nó đối với các quy phạm pháp luật hiện hành, phải tính đến yêu cầu văn bản này đối với một ngành luật nào đó Khi tiến hành hệ thống hoá ngành luật nào đó cũng phải làm như vậy, nghĩa là, phải tập hợp, sắp xếp tất cả các quy phạm pháp luật theo loại quan hệ xã hội mà chúng điểu chỉnh Bỏi do sự liên kết chặt chẽ giữa các quy phạm pháp luật, giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật, cho nên một quy phạm pháp luật được bổ sung hay thay đổi có thể dẫn đến 8ự thay đổi cùa " các quy phạm pháp luật khác, sự thay đổi của các chế định pháp luật, các ngành luật khác, vì vậy, không thể tuỳ tiện khi ban hành pháp luật

Trang 28

15.2.1 K h á i n iệm h ệ th ố n g p h á p lu ậ t:

Pháp luật của các nhà nước hiện đại không phải là một tập hợp giản đơn các quy định pháp luật mà các quy định pháp luật luôn được tập hợp, sắp xếp theo một trật tự nhất định, có mối liên hệ, gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành những tập hợp lớn nhỏ khác nhau, thành hệ thống pháp luật

Hệ thống p h áp luật quốc g ia là cấu trúc bên trong của

ph áp luật biểu hiện ỏ sự liên kết và thống nhất nội tại của các quy định ph áp luật, được phân định thành những bộ phận nhỏ hơn, phù hợp với các đặc điểm và tính chất của các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh. Như vậy, hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất là cấu trúc của các quy định pháp luật và các mối liên hệ và thống nhất với nhau giữa các bộ phận của hệ thống

Xét dưối góc độ cấu trúc thì hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất có tính độc lập nhất định và được phân chia thành các bộ phận nhỏ hơn như ngành luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật Như vậy, hệ thống pháp luật luôn có tính phức thể, nghĩa là, nội bộ của hệ thống pháp luật rất phức tạp, trong đó có nhiểu yếu tố, bộ phận, nhiều mối quan hệ, sự liên hệ ràng buộc qua lại lẫn nhau Điều đó có nghĩa là hệ thống pháp luật gồm tập hợp của các ngành luật, trong đó mỗi ngành luật là một hệ thống nhỏ gồm các chế định pháp luật và mỗi chế định pháp luật là hệ thống nhỏ hơn gồm các quy phạm pháp

15.2 Hệ thống pháp luật

Trang 29

luật chúng được tập hợp, sắp xếp theo một trật tự khoa học, khách quan Còn xét dưới góc độ nội dung thì giữa các

bộ phận trong một hệ thống luôn có sự thốhg nhất, sự liên kết, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau Nói cách khác, các quy định pháp luật có rất nhiều phạm vi liên kết và mức độ liên kết khác nhau, rất nhiều sự liên hệ, nhiều môì quan hệ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau rất phức tạp Không

có hệ thống pháp luật nào giản đơn, mà chúng luôn rất phức tạp cũng như sự phức tạp của chính các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh

Sự thống nhất nội tại là một nguyên tắc rất quan trọng của hệ thống pháp luật Điều đó biểu hiện ở sự gắn

bó hữu cơ khăng khít vối nhau giữa các quy phạm pháp luật, ở những nguyên tắc của pháp luật, ở xu hướng loại trừ dần những mâu thuẫn giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật Có thể nói, hệ thống pháp luật vừa đa dạng vừa thống nhất

Sự phân chia hệ thông pháp luật thành những hệ thống nhỏ hơn là phụ thuộc vào mức độ liên kết và phạm

vi liên kết giữa các quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật điểu chỉnh Khi phạm vi điều chỉnh tăng, số lượng các yếu tố nhiều lên, thì mức độ liên kết của chúng sẽ giảm đi Chẳng hạn, sự liên kết của các quy định pháp luật trong một chế định pháp luật thì chặt chẽ hơn so với sự liên kết của các quy định pháp luật trong một ngành luật

Hệ thông cấu trúc pháp luật của một qtiốc gia có các thành tố cơ bản là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật Ngoài ra, còn có những thành tố khác như phân ngành luật (lớn hơn chế định pháp luật nhưng

Trang 30

nhỏ hơn ngành luật), tổ hợp các ngành luật (lớn hơn ngành luật nhưng nhỏ hơn hệ thống pháp luật quốc gia).

a) Quy phạm pháp luật:

Quy phạm pháp luật là thành tố của hệ thống pháp luật được cấu tạo từ các bộ phận như giả định, quy định hoặc chế tài pháp luật Quy phạm pháp luật là quy tắc

xử sự được hình thành để điểu chỉnh quan hệ xã hội chung

có tính chất phổ biến, điển hình

b) C h ế định pháp luật:

Chế định pháp luật là thành tô' của hệ thống pháp luật bao gồm một nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau Tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội đòi hỏi phải có những nhóm quy phạm pháp luật tương ứng để điểu chỉnh Việc xác định đúng tính chất nhóm của quan

hệ xã hội là vấn để có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành chế định pháp luật

c) Ngành luật:

Ngành luật là thành tố lớn hơn chế định pháp luật của

hệ thống pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan hệ xã hội (những quan hệ xã hội có chung tính chất thuộc một lĩnh vực nhất định của đòi sống

xã hội) bằng những phương pháp nhất định

Để phần định một ngành luật, người ta thường dựa vào hai căn cứ là đối tượng điểu chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật đó Đối tượng điều chỉnh của ngành

luật là những quan hệ xã hội được pháp luật điểu chỉnh có chung tính chất (cùng loại), phát sinh trong một Hnh vực nhất định của đòi sống xã hội Số lượng các quan hệ xã hội

Trang 31

trong đối tượng điều chỉnh của một ngành luật có thể thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước và các điều kiện chính trị, xã hội khác Phương pháp điều chỉnh pháp luật là những cách thức tác động pháp luật lên các quan hệ xã hội Phương pháp điểu chỉnh của một ngành luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hệ xã hội (đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó) và

ý muốn chủ quan của những ngưòi trực tiếp ban hành pháp luật thông qua sự nhận thức, ý thức của họ về lợi ích nhà nước, của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử Nói cách khác, việc sử dụng cách thức nào để điều chỉnh một dạng quan hệ

xã hội nào đó là phụ thuộc ý chí của người ban hành pháp luật và nội dung, tính chất của quan hệ xã hội đó

Trên thực tế, việc nhận thức đối tượng điều chỉnh và xác định phương pháp điều chỉnh của ngành luật để phân định pháp luật thành các ngành luật là vấn để rất phức tạp, vi không phải lúc nào cũng có thể chỉ ra được sự tương đồng giữa các quan hệ xã hội cùng loại

Việc phân định ranh giới các ngành luật luôn là vấn

để khoa học phức tạp, nên có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định hệ thống các ngành luật và việc phân chia chúng cũng chỉ mang tính chất tương đối Bởi sự phân chia pháp luật thành các bộ phận nhỏ khác nhau vừa mang tính khách quan (phụ thuộc tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh) vừa mang tính chủ quan (phụ thuộc ý chí của Nhà nước, của các chuyên gia pháp lý) Ngoài ra, sự phân chia đó còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu điều chỉnh pháp luật ở mỗi thời kỳ phát triển của xã hội Hệ thống

Trang 32

pháp luật là một hiện tượng năng động, các quan hệ xã hội càng phát triển, càng đa dạng, phức tạp bao nhiêu thì

hệ thống pháp luật cũng càng phát triển, đa dạng và phức tạp bấy nhiêu

Việc sắp xếp một cách có hệ thống các quy định pháp luật có thể tránh được những quy định chồng chéo, phát hiện được những thiếu sót để kịp thời bổ sung, loại bỏ những quy định không còn phù hợp tạo ra được những chế định, ngành luật và hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Một hệithống pháp luật hoàn thiện sẽ có hiệu quả cao, sẽ là nhân tố quan trọng tạo ra sự ổn định và phát triển xã hội.Tuy nhiên, phải lưu ý là hiện nay trong khoa học pháp

lý, thuật ngữ “hệ thống pháp luật” còn có thể được xem xét ở nhiều cấp độ và phương diện khác như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (còn gọi là hệ thống pháp luật thực định) là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia có mối liên hệ mật thiết với nhau, được sắp xếp một cách thống nhất, phù hợp với nhau theo trật tự thang bậc giá trị pháp lý của các văn bản; hệ thông pháp luật chính (hệ thống pháp luật của một nhóm quốc gia gồm pháp luật của một số quốc gia có những điểm đặc thù giống nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau như hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa ); hệ thống pháp luật quốc tế là tổng thể các quy định pháp luật hình thành trong quá trình ký kết và thoả thuận giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các chủ thể khác để điều chỉnh các quan hệ chủ yếu giữa các quốc gia Ngoài ra, bản thân

hệ thống pháp luật quốc gia trong một số trường hợp còn

Trang 33

được hiểu theo nghĩa rộng, trong đó bao gồm các ngành luật, chế định pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, các thiết chế thực thi và bảo vệ pháp luật, thậm chí cả nghề luật và công tác đào tạo luật của một quốc gia (ỏ góc độ này thường dùng trong luật học so sánh).

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn

có sự thống nhất nội tại cao Cơ sỏ trực tiếp của sự thống nhất đó là sự thống nhất về bản chất, về nội dung, về chức nàng, nhiệm vụ của hệ thống pháp luật Điều này được xác định khách quan bởi sự thống nhất của toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa Cụ thể là:

- Sự thống nhất và phát triển của hệ thống kinh tế dựa trên cơ sở các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;

- Sự thông nhất giữa các lực lượng trong xã hội, lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác về cơ bản là thống nhất;

- Sự thống nhất của hệ thống chính trị biểu hiện ỏ mục đích cuối cùng, ở nhiệm vụ và nội dung hoạt động cơ bản của từng bộ phận trong hệ thống chính trị;

Trang 34

- Sự liên kết chặt chẽ và tác động qua lại của tất cả các hình thái ý thức xã hội như chính trị, pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ mà cơ sở nền tảng của chúng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;

- Ý thức chủ quan của những nhà làm luật, họ mong muốn có được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất, đồng bộ

Hệ thông pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu

sự chi phối của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, truyền thống dân tộc, v.v của đất nưốc trong mỗi thời

kỳ phát triển Xã hội Việt Nam nói chung đang trong giai đoạn phát triển nên hệ thống pháp luật cũng chậm được hoàn thiện Chưa kể là do nhiều yếu tố liên quan đến điều kiện lịch sử cụ thể nên có giai đoạn nhận thức về việc xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật của chúng ta còn chưa được chú trọng Vì vậy, việc ban hành pháp luật chậm so vối sự phát triển của đất nước, dẫn đến hệ thống pháp luật đất nưốc có những giai đoạn phát triển bất cập

về mặt cân đối, có mặt còn chưa phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu

sự chi phối của pháp luật châu Âu lục địa mà trực tiếp là pháp luật của Pháp cộng với tàn dư thời phong kiến, sau này là pháp luật xã hội chủ nghĩa Xô viết Còn bây giờ là một sự giao thoa, đan xen của nhiều trường phái, quan điểm pháp luật khác nhau,

Mỗi hệ thống pháp luật luôn chịu sự chi phối, tác động của môi trường (hệ thông lớn là môi trường của hệ thống nhỏ) Sự chi phối của hệ thống lớn đối với hệ thống nhỏ

Trang 35

thông qua các nguyên tắc chung của nó Hệ thống nhỏ chịu sự chi phối và phải phù hợp vối môi trường, song nó cũng có ảnh hưởng rất lớn trở lại đối vối môi trường.

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn là một tập hợp động, tính ổn định chỉ là tương đối Nó luôn vận động thay đổi (được bổ sung thêm các quy phạm pháp luật mới và loại bỏ dần những quy phạm pháp luật lạc hậu, không còn giá trị), phát triển từ thòi kỳ này sang thời

kỳ khác phù hợp với tiến trình phát triển của đất nưóc Khi kinh tế, xã hội thay đổi thì hệ thống pháp luật cũng thay đổi, phát triển theo

Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, có các ngành luật như: Luật Hiến pháp, luật hành chính, luật dân sự, luật lao động, luật hôn nhân và gia đình, luật hình sự, luật tố tụng dân sự

Hệ thông pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhìn chung đã phát huy được vai trò tác dụng của mình trong việc giữ ổn định, bảo vệ và xây dựng đất nước, song không phải khi nào hệ thống pháp luật cũng phát huy được vai trò tích cực của mình trong đòi sống xã hội Do những nguyên nhân khác nhau, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có giai đoạn vai trò bị hạn chế phần nào Mãi sau này, hệ thống pháp luật nước ta mối có sự phát triển tốt hơn, hiệu quả điểu chỉnh cao hơn, việc đào tạo pháp luật tốt hơn, các cơ quan xây dựng, thực thi và bảo

vệ pháp luật đã được củng cố cả vể lượng và chất, song vẫn cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện hơn để đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước

Trang 36

15.3 Những tiêu chí cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

tỏ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật

Có nhiều tiêu chí để xác định mức độ hoàn thiện của• * *

một hệ thống pháp luật trong đó có các tiêu chí cơ bản là: Tính toàn diện, đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng pháp luật và tính khả thi của hệ thống pháp luật

a) Tính toàn diện và đồng bộ của hệ thống pháp luật:

Tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở cấu trúc hình thức của nó, nghĩa là hệ thống pháp luật phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của đòi sống

xã hội Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải có khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, để các quan hệ

xã hội quan trọng có tính điển hình, phổ biến cần có sự điểu chỉnh của pháp luật thì đểu có pháp luật điều chỉnh Tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống pháp luật cần phải được đánh giá ỏ nhiều cấp độ khác nhau như từng quy phạm pháp luật phải có cấu trúc lồgích, chặt chẽ; mỗi chế định pháp luật có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết; mỗi ngành luật có đầy đủ các chế định pháp luật theo cơ cấu của ngành luật; còn hệ thống pháp luật có đủ các ngành luật đáp ứng được nhu cầu phát triển của các

Trang 37

quan hệ xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành toàn diện và đồng bộ không chỉ chú trọng tới các luật về tô chức bộ máy nhà nước mà còn phải chú ý tới các luật điểu chỉnh một cách toàn diện các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực đời sống dân sinh như dân sự, thương mại, đầu tư , không chỉ chú trọng tới luật nội dung mà còn phải chú ý tới luật hình thức vể trình tự, thủ tục Đồng thời, phải ban hành đầy đủ các văn bản quy (lịnh chi tiết các vàn bản, quy định pháp luật trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết.

b) Tính thống nhất của hệ thống pháp luật:

Giữa các bộ phận hợp thành hệ thống pháp luật không chỉ có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ mà còn luôn có sự thống nhất nội tại với nhau Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điểu kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chê định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính

Trang 38

thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng, trong

đó, Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp

c) Tính phù hợp của hệ thống pháp luật:

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tê - xã hội của đất nước Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình

độ phát triển đó

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nhiều mặt như pháp luật phải phù hợp vối các điều kiện kinh tế của đất nước; phù hợp với điểu kiện chính trị của đất nước, mà quan trọng nhất là phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng cầm quyền; phù hợp với đạo đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác Ngoài ra, hệ thống pháp luật quốc gia phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điểu ước và thông lệ quốc tế,

có phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp cho mỗi loại quan hệ xã hội

d) Ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật:

Để đánh giá hệ thống pháp luật còn phải xem xét trình độ kỹ thuật pháp lý khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật Điểu này thể hiện, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải đưa ra được những nguyên tắc, những trình tự thủ tục tối ưu để tiến hành có hiệu quả quá trình đó nhằm tạo ra được những quy định, những văn bản pháp luật tốt nhất, đồng thời phù hợp vói các quy định đã có; xác định chính xác, khoa học cơ cấu của hệ

Trang 39

thống pháp luật phù hợp vối các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nưốc; ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu, bảo đảm tính cô đọng, lôgích và một nghĩa Đối vói những • thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung đều phải được giải thích trong văn bản.

Mức độ hệ thống hóa cao và sự tồn tại của nhiều bộ luật cũng được coi là biểu hiện của một hệ thống pháp luật hoàn thiện

e) Tính khả thi của hệ thống pháp luật:

Một hệ thống pháp luật có chất lượng thì phải bảo đảm tính khả thi, nghĩa là, các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong những điểu kiện kinh tế, chính trị - xã hội hiện tại

Tính khả thi của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở việc các quy định pháp luật được ban hành phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành Nghĩa là, khi ban hành pháp luật, phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước có cho phép thực hiện được quy định hoặc văn bản pháp luật đó hay không, đồng thòi, phải tính đến các điều kiện khác như tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức có cho phép thực hiện được không, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận quy định hoặc văn bản pháp luật đó, trình độ văn hoá và kiến thức pháp lý của nhân dân

15.4 Hệ thống hóa pháp luật

Hệ thống hóa pháp luật là hoạt động tập hợp, sắp xếp các quy định pháp luật hoặc các văn bản quy phạm pháp

Trang 40

luật theo những trật tự nhất định Nói cách khác là từ hệ thống pháp luật (các quy định pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật), chúng ta tiến hành tập hợp, sắp xếp thành những hệ thống nhỏ hơn phục vụ cho mục đích nghiên cứu, sử dụng, áp dụng của các tổ chức và cá nhân trong xã hội.

Hệ thổng hoá pháp luật là hoạt động góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là việc tạo ra các văn bản luật, làm cho hệ thống pháp luật trở nên hoàn chỉnh, thống nhất hơn, trong đó vai trò của các đạo luật ngày càng quan trọng đối vối sự điều chỉnh các quan hệ xã hội, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, những

“lỗ hổng” trong hệ thống pháp luật, từng bước làm cho nội dung của pháp luật đáp ứng được những đòi hỏi của đời sống xã hội và có hiệu quả cao hơn

Công tác hệ thống hóa pháp luật còn có vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện và áp dụng pháp luật

Nó giúp các chủ thể thực hiện và áp dụng pháp luật dễ dàng tìm kiếm, lựa chọn quy phạm pháp luật cần thiết, đồng thòi chủ thể cũng dễ dàng nhận thức và thực hiện chúng một cách đúng đắn, chính xác hơn Ngoài ra, hoạt động hệ thống hoá pháp luật còn tạo điểu kiện cho công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục pháp luật tốt hơn

Hệ thống hóa pháp luật được thực hiện dưới hai hình thức là tập hợp hóa và pháp điển hóa

15.4.1 T ập hợp h ó a p h á p lu ậ t là hình thức thu thập và sắp xếp các quy định pháp luật hoặc các văn bản quy phạm pháp luật thành tập luật lệ theo những trật tự nhất định như theo chuyên đề, theo ngành quản lý, cơ quan ban hành, tên gọi, thời gian ban hành văn bản

Ngày đăng: 02/02/2020, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w