Luật Dự trữ quốc gia và Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển dự trữquốc gia đến năm 2020 đã khẳng định: Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lượccủa Nhà nước để phòng ngừa và khắc
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lậpcủa riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học thương mại Tôi xin chânthành cảm ơn TS Trần Thị Hoàng Hà đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, thủ trưởng các đơn vịthuộc và trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước cùng các đồng nghiệp đã tạo điềukiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài: 3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 4
1.1 DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 4
1.1.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia 4
1.1.2 Mục tiêu và vai trò của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội 7
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 10
1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia 10
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia 11
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia 13
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 22
1.3.1 Yếu tố chính trị, xã hội của đất nước 22
1.3.2 Yếu tố tự nhiên 24
1.3.3 Yếu tố kinh tế của một quốc gia 25
1.3.4 Yếu tố con người 25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 27
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 27
Trang 42.1.1 Giới thiệu về Tổng cục dự trữ Nhà nước 27
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 30
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục Dự trữ Nhà nước 30
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 33
2.2.1.Đặc điểm dự trữ nhà nước Việt Nam 33
2.2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 37
2.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước dự trữ mặt hàng gạo 66
2.2.4 Đánh giá công tác quản lý nhà nước mặt hàng gạo dự trữ quốc gia 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 79
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỰ TRỮ QUỐC GIA 79
3.1.1 Quan điểm và mục tiêu dự trữ quốc gia 79
3.1.2 Căn cứ định hướng phát triển quỹ dự trữ 80
3.1.4 Định hướng về dự trữ quốc gia đến năm 2020 81
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 82
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 82
3.2.2 Kiến nghị 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, tất cả các nước trên thế giới đềuphải đương đầu với thiên tai, dịch bệnh, xung đột, lạm phát, khủng hoảng… Tiềmlực dự trữ hùng mạnh về tài chính và hàng hóa không những giúp các quốc gia giảmthiểu thiệt hại, ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn vượt qua khó khăn, phục hồi tăngtrưởng kinh tế và chuẩn bị cho chu kỳ phát triển mới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của DTQG, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quantâm đến hoạt động dự trữ quốc gia, coi đó là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, góp phầnđảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội, nhất là khi cóthiên tai, địch họa
Luật Dự trữ quốc gia và Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển dự trữquốc gia đến năm 2020 đã khẳng định: Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lượccủa Nhà nước để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất, bất trắc xảy rađối với đời sống xã hội, an ninh, quốc phòng và hoạt động sản xuất, kinh doanh;Hoạt động dự trữ quốc gia có vị trí và vai trò quan trọng trong việc phát triển bềnvững, bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước hìnhthành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách
về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, thamgia bình ổn thị trường khi có tình huống đột biến xẩy ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; hoạt động dự trữ quốc gia luôn đượcphát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và tiến trình hội nhập quốc tế
Quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia góp phần quan trọng trong việc đưa dựtrữ quốc gia hoạt động một cách có hệ thống, ngày càng có hiệu lực, hiệu quả đápứng yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước Thực tiễn quá trình pháttriển của DTQG đã chỉ ra rằng quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia có vai trò to lớncho triển khai thực hiện các quan điểm, chính sách mới của Đảng, Nhà nước vềDTQG, kiểm tra, giám sát thúc đẩy hoạt động DTQG có hiệu quả, có lợi cho nhândân và xã hội, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổquốc
Trang 7Mặt hàng gạo là hàng dự trữ quốc gia nằm trong nhóm hàng lương thực thuộcdanh mục dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) quản lý, cótổng mức dự trữ quốc gia lớn, nhằm đáp ứng yêu cầu về cứu trợ, hỗ trợ, viện trợtrong nước nhằm giải quyết khó khăn trong đời sống của người dân, giảm thiểu tối
đa thiệt hại về người và của, sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xãhội, cũng như hỗ trợ, viện trợ nước ngoài nhằm thắt chặt tình đoàn kết các quốc giatrên thế giới Tuy nhiên, công tác quản lý dự trữ nhà nước đối với mặt hàng gạo cònnhiều hạn chế: cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, công tác lập kế hoạch còn chưasát với thực tế, công nghệ bảo quản lạc hậu, …chưa phù hợp với xu hướng đẩymạnh công nghiệp hóa (CNH) hiện đại hóa đất nước (HĐH), hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng, chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách nhiệm vụ nhà nước đề ra Do
đó, Tôi chọn đề tài: “Quản lý dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước”làm luận văn cao học
2 Mục đích của đề tài.
Mục đích của đề tài là đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiệncông tác quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đối với mặt hàng gạo tại Tổng cục Dựtrữ Nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong hoạtđộng dự trữ nhà nước và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động dự trữ mặt hànggạo tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Nghiên cứu tình hình quản lý dự trữ mặt hàng gạo trong giai đoạn2012-2015;
Không gian: Trên phạm vi toàn quốc
Nội dung: Tiếp cận nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạtđộng dự trữ mặt hàng gạo
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
Thực hiện thu thập dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật, các số liệu liênquan đến tình hình dự trữ cũng như công tác quản lý dự trữ mặt hàng gạo tại Tổngcục Dự trữ Nhà nước
Trang 84.2 Phương pháp phân tích:
Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, thực hiện phân tích, đánh giá, đưa ra nhữngmặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đềtài được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dự trữ quốc gia và quản lý nhànước hàng dự trữ quốc gia
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự trữ quốc gia đối với mặt hàng gạocủa Tổng cục Dự trữ Nhà nươc
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý dự trữquốc gia đối với mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Trang 9CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 1.1 DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia
1.1.1.1 Khái niệm dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo ổnđịnh, an toàn đối với các lĩnh vực thuộc quốc kế dân sinh và một số lĩnh vực trọngyếu khác của một quốc gia
“Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, baogồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phụcnhững tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời giannhất định Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước”(Từ điển bách khoa Việt Nam, 2011, bachkhoatoanthu.vass.gov.vn)
Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất
-kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia
Hàng dự trữ quốc gia là vật tư, thiết bị, hàng hóa trong Danh mục hàng dự
trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, nắm giữ để sử dụng vào mục tiêu dự trữ quốc gia
Danh mục hàng dự trữ quốc gia là tên nhóm hàng hóa, tên vật tư, tên thiết bị
dự trữ quốc gia
Điều hành dự trữ quốc gia bao gồm: hoạt động quản lý, nhập, xuất, mua, bán,
bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia
Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia bao gồm bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý hàng dự trữ quốc gia theo phân công củaChính phủ
Đơn vị dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc
gia được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệhàng dự trữ quốc gia
Trang 10Tình huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật tự antoàn xã hội cần được giải quyết ngay
Tổng mức dự trữ quốc gia là tổng giá trị dự trữ quốc gia.
Mức phân bổ cho dự trữ quốc gia là số tiền bố trí cho dự trữ quốc gia trong dự
toán ngân sách nhà nước hằng năm
Thời hạn lưu kho hàng dự trữ quốc gia là khoảng thời gian tối đa được xác
định từ thời điểm nhập kho đến thời điểm xuất kho hàng dự trữ quốc gia
Xuất cấp hàng dự trữ quốc gia là việc xuất hàng dự trữ quốc gia không thu
tiền để cấp cho các tổ chức, cá nhân” (Luật dự trữ, Quốc hội, 2012, trang 2)
Như vậy, Dự trữ quốc gia là quá trình Nhà nước tổ chức tích luỹ một bộ phậncủa cải vật chất xã hội vào quỹ dự phòng chiến lược để sử dụng vào việc phòngngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng và giữ vững anninh chính trị khi xảy ra biến động; góp phần ổn định chính trị, kinh tế và đời sốngdân cư cũng như các nhiệm vụ khác của Nhà nước Tuy nhiên dự trữ quá lớn cũnghạn chế vốn đầu tư vào phát triển kinh tế, vấn đề quan trọng là kết hợp chặt chẽ yêucầu đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia với mục tiêu phát triển
1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất của nhà nước, được nhà nước quản
lý, sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu của nhà nước
Quỹ dự trữ quốc gia được hình thành từ nguồn NSNN và các nguồn khác vớimục đích đảm bảo lợi ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội Nhà nước hìnhthành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách
về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục
vụ quốc phòng, an ninh Việc quản lý, điều hành và sử dụng quỹ dự trữ quốc giaphải được quản lý chặt chẽ và chỉ đạo tập trung thống nhất dưới quyền quyết địnhcủa nhà nước Hàng dự trữ quốc gia được quản lý bởi hệ thống bộ máy dự trữ nhànước với hệ thống kho tàng, cơ chế quản lý, chế độ hạch toán, kế toán riêng biệt của
dự trữ nhà nước
Trang 11Một quốc gia, một xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đảm bảo an toàn, ổnđịnh ngày càng cao, do đó, dự trữ quốc gia ngày càng quan trọng, quỹ dự trữ quốcgia phải được tích lũy phù hợp.
Hoạt động của dự trữ quốc gia không vì lợi nhuận.
Đây là đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia Khác với loại hình kinh tế khác,
dự trữ quốc gia là ngành kinh tế đặc biệt, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh,không nhằm tạo ra lợi nhuận Mục tiêu của dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo cho lợiích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội
Khác với dự trữ quốc gia, các loại quỹ dự trữ khác như dự trữ sản xuất kinhdoanh, quỹ dự trữ hàng hóa tồn tại nhằm mục đích đảm bảo cho qua trình sản xuất,phân phối, trao đổi hàng hóa của các tổ cức kinh tế liên tục và ổn định nhằm tối đahóa năng lực sản xuất kinh doanh, đảm bảo lợi nhuận của tổ chức kinh tế
Dự trữ quốc gia, do nhà nước quản lý nhằm ổn định cả nền kinh tế Dự trữquốc gia là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm khắc phục nhữngkhiếm khuyết của kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội,đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn cho đời sống của người dân Nguồn lực dự trữkhông mang lại lợi nhuận cho nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, sử dụng nguồnlực dự trữ
Như vậy, dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất do nhà nước quản lý và sửdụng không vì mục đích lợi nhuận Hiệu quả của dự trữ quốc gia mang lại có tínhchất tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đó là lợi ích quốc gia,lợi ích xã hội
Quỹ dự trữ quốc gia không tự bảo toàn vốn
Các quỹ dự trữ của các tổ chức kinh tế hoạt động trên cơ sở, nguyên tắc bảotoàn vốn do xuất phát từ mục tiêu tồn tại và hoạt động của nó, đó là đảm bảo choquá trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa được diễn ra liên tục và ổn định,duy trì và tăng năng lực sản xuất kinh doanh Quỹ dự trữ được sử dụng nhằm hỗ trợ,thúc đẩy, khắc phục khó khăn cho tổ chức kinh tế trong một thời điểm, sau đó phảiđược thu hồi nhằm duy trì quy mô của quỹ Nguồn lực của các quỹ không chỉ đượcquy trì, bảo toàn mà còn tạo ra lợi nhuận và sẽ được thu hồi trở lại khi quá trình sảnxuất kinh doanh đi vào ổn định
Trang 12Ngược lại, quỹ dự trữ quốc gia được sử dụng nhằm chủ động đáp ứng yêu cầucấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảođảm an ninh, quốc phòng, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của nhà nước Việc xuất bánhay xuất cấp không thu tiền để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, không tínhđến lợi ích kinh tế hay thua lỗ nên không có khả năng tự bảo toàn vốn
Quy mô quỹ dự trữ quốc gia ngày càng tăng đáp ứng yêu cầu phát triển củađất nước Do đó, để thực hiện được mục tiêu của mình, hàng năm, Nhà nước phảicấp ngân sách bổ sung cho quỹ dự trữ quốc gia nhằm:
- Bổ sung lượng hàng dự trữ quốc gia đã xuất kho trong năm trước để cứu trợ,
hỗ trợ, viện trợ;
- Bổ sung hao hụt do hàng dự trữ đã qua quá trình lưu kho, bảo quản, sốlượng, chất lượng và giá trị bị suy giảm Do đó, số tiền thu được từ việc xuất bánluân phiên đổi hàng sẽ không đủ kinh phí để mua hàng mới đưa vào dự trữ trongnăm sau;
- Bổ sung lượng hàng hóa dự trữ quốc gia đáp ứng yêu cầu trong tình hìnhmới
1.1.2 Mục tiêu và vai trò của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2.1 Mục tiêu của dự trữ quốc gia
- Mục tiêu tổng quát
Sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiêntai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lươngthực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảmbảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác
- Mục tiêu cụ thể:
+ Danh mục, số lượng hàng dự trữ quốc gia đảm bảo yêu cầu thiết yếu, chiếnlược, quan trọng và có quy mô đủ mạnh để can thiệp khi có tình huống cấp bách + Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng côngnghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu
Trang 13và kinh tế - xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia vànâng cao hiệu quả công tác bảo quản.
+ Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy môtập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện vềkinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ
+ Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tinhọc hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản
+ Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơcấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tập trung thống nhất một cơ quanquản lý nhà nước về dự trữ quốc gia
Như vậy, dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốcdân, dự trữ những mặt hàng chiến lược quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đờisống là loại dự trữ thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước nắm giữ, quản lý và sửdụng
1.1.2.2 Vai trò của dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia bao gồm tiền và hàng hóa, vật tư là nguồn dự trữ chiến lượccủa Nhà nước nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phụchậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đảm bảo an ninh, quốc phòng; tham giabình ổn thị trường; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ độtxuất bức thiết khác của Nhà nước Theo mục tiêu trên đây, dự trữ quốc gia có vaitrò trên các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Trên thế giới, hòa bình chưa bềnvững, nạn khủng bố đang đe dọa; trong mỗi một quốc gia đều có những thế lựcphản động, thù địch; khí hậu trái đất thay đổi thất thường và ngày càng khắc nghiệtkèm theo thiên tai và thiên tai ngày một gia tăng: động đất, sóng thần, bão lụt, lũquét, trượt đất thay nhau diễn ra; kinh tế phát triển, dân số gia tăng tạo ra nhiều cơ
sở sản xuất, nhà ở, các cơ sở hoạt động giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thểthao tức là mặt bằng để thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn phát sinh được mở rộng.Môi trường, khí hậu, thời tiết ngày một xấu và khắc nghiệt là mầm mống cho dịchbệnh phát sinh Thực tế này tác động nhiều vào kinh tế vĩ mô Dự trữ quốc gia là
Trang 14nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước sẵn sàng đáp ứng để phòng, chống và khắcphục hậu quả của thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh
Thứ hai, góp phần ổn định đời sống nhân dân Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnhxuất hiện và xuất hiện ngày một gia tăng chẳng những làm thiệt hại đến sản xuất,kinh doanh và ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đờisống dân cư do bị thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng sản xuất làm thiệt hại sản xuất,giảm thu nhập.v.v làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, mà bảnthân họ tự khắc phục ngay là rất khó và có nhiều trường hợp không thể khắc phụcđược; vì thế phải có sự trợ giúp của Nhà nước Sự trợ giúp vật chất nhanh nhất,kịp thời nhất của Nhà nước là xuất hàng dự trữ quốc gia “tích cốc, phòng cơ” đểchủ động và kịp thời khắc phục, kể cả xuất hàng để chủ động phòng, chống thiêntai, dịch bệnh; đó là thực tế các quốc gia đã làm
Thứ ba, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước: vai trò hết sức đặc biệtcủa dự trữ quốc gia Từ các thời kỳ trước, ông cha ta đã nói: “Thực túc, binhcường”, có một sức mạnh kinh tế và một lực lượng vũ trang mạnh là sức mạnh củađất nước Sức mạnh của nền kinh tế đảm bảo trang bị cơ sở vật chất, vũ khí, khítài, máy móc, trang thiết bị đủ mạnh cho lực lượng vũ trang; nền kinh tế đủmạnh cũng là điều kiện để ngân sách nhà nước dành khoản tích lũy hợp lý dự trữquốc gia đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước Dự trữ quốc gia thuộc lĩnhvực quốc phòng, an ninh là lực lượng vật chất chiến lược trực tiếp đáp ứng nhanhnhất, kịp thời nhất yêu cầu đảm bảo quốc phòng, an ninh trên những địa bàn nhấtđịnh và trên toàn lãnh thổ của quốc gia
Thứ tư, góp phần tăng cường quan hệ quốc tế Trong điều kiện thế giới ngàynay của một nền kinh tế phát triển, nguồn tài nguyên ngày một cạn kiệt, môitrường ngày càng bị hủy hoại, khí hậu trái đất thay đổi thất thường và ngày càngkhắc nghiệt, kèm theo thiên tai ngày càng diễn ra trên diện rộng với sức tàn phámạnh mẽ làm thiệt hại về người và tài sản ở mức độ rất lớn, mà bản thân một quốcgia khắc phục nhanh là rất khó khăn; do đó cần có sự trợ giúp kịp thời của cácnước khác bằng việc xuất hàng dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ quốc gia Việc làmthiết thực này góp phần tăng cường tình hữu nghị và quan hệ hợp tác giữa cácnước
Trang 151.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm về quản lý:
“Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lýmột cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằmđạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất” (Phạm Quang Lê, 2007, trang 8)
“Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (ngườiquản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sửdụng có hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêuđặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạtđộng) có hiệu quả (Hồ Văn Liên, 2010, trang 29)
Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lýđến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra
1.2.1.2 Khái niệm quản lý Nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nướcchủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đốinội đối ngoại của nhà nước chủ quan của quản lý nhà nước là tổ chức hay mangquyền lực nhà nước trong quá trình hoạt động tới đối tượng quản lý
1.2.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
Mục tiêu của quản lý trong quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia là đảmbảo cho quỹ dự trữ quốc gia được xây dựng, quản lý, sử dụng có hiệu quả, đạt đượcmục tiêu của dự trữ nhà nước là chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách vềphòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninhquốc phòng, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thựchiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nước
Quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia được thực hiện thông qua cơ chế quản
lý nhất định Cơ chế quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia là hệ thống các phươngpháp, công cụ quản lý mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến đối tượng quản
Trang 16lý (các tổ chức, cá nhân có liên quan đến àng dự trữ quốc gia) Vì vậy có thể địnhnghĩa quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia như sau:
Quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia là sự tác động có tổ chức của chủ thểquản lý bằng hệ thống các phương thức, công cụ quản lý đến các tổ chức, cá nhân
có liên quan đến hàng dự trữ quốc gia thông qua việc điều chỉnh các hoạt động xâydựng, quản lý, sử dụng quỹ dự trữ quốc gia nhằm làm cho dự trữ nhà nước đáp ứngyêu cầu: chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phụchậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninh quốc phòng, tham gia bình
ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ bức thiếtkhác của Nhà nước
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.2.1 Quỹ dự trữ quốc gia là lực lượng dự phòng chiến lược của Nhà nước, được quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong phạm vi cả nước;
Để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các quốc gia trong đó có Việt Namluôn phải đối mặt với những thách thức to lớn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,thảm họa môi trường, những nguy cơ tiềm ẩn về khủng bố quốc tế, tranh chấp lãnhthổ và xung đột chính trị trên thế giới…, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗiquốc gia Vì vậy, cần phải hình thành DTQG đủ mạnh, tổ chức quản lý, điều hành,
sử dụng hiệu quả, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, minh bạch, đúng đối tượng và tiết kiệmchi phí trong chỉ đạo điều hành phối hợp ứng cứu, bảo vệ người dân, tài sản và môitrường
Từ thực tiễn quản lý, điều hành dự trữ quốc gia thời gian qua cho thấy hoạtđộng DTQG mang tính đặc thù về mức độ khó khăn trong tác nghiệp, yêu cầu khẩntrương, có lúc gặp nguy hiểm, gần giống với hoạt động an ninh, quốc phòng, do đócần phải có cơ chế quản lý thích ứng và đồng bộ từ tổ chức bộ máy, con người,phương thức thực hiện Do đó cần được điều hành, quản lý của Nhà nước theo theonguyên tắc tập trung, thống nhất, có hiệu lực và hiệu quả
Quỹ dự trữ quốc gia bao gồm cả về hàng và tiền được quản lý tập trung, thốngnhất dưới sự điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có phân công chocán bộ, ngành quản lý hàng dự trữ nhà nước theo quy định Việc quản lý tập trung
Trang 17quỹ dự trữ quốc gia giúp nhà nước có sự bao quát, chỉ đạo, điều hành một cách chặtchẽ, phù hợp, hoạt động của các tổ chức dự trữ quốc gia một cách thống nhất từ trênxuống dưới, xây dựng quỹ dự trữ quốc gia có quy mô phù hợp với sự phát triển củanền kinh tế, cơ cấu danh mục mặt hàng hợp lý đủ điều kiện tác động kịp thời, gópphần ổn định tình hình chính trị, kinh tế xã hội trong mọi tình huống biến động, độtxuất xảy ra; đảm bảo đủ khả năng khắc phục những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế
ở mức quốc gia, trong một thời gian nhất định
1.2.2.2 Quản lý dự trữ quốc gia dựa trên chiến lược, kế hoạch, chính sách về
dự trữ quốc gia và tuân theo những quy định của Chính phủ về hệ thống tổ chức và phân công cấp quản lý;
Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dự trữ quốc gia phùhợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nướctrong từng thời kỳ Theo đó, chiến lược phát triển dự trữ quốc gia gắn liền với kếhoạch phát triển kinh tế xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dự trữ quốc gia trong từng thời kỳ và hàngnăm được xây dựng sau khi nghiên cứu mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế chínhtrị, tiềm lực kinh tế, đặc điểm của đất nước, … Chiến lược, kế hoạch được coi làmột định hướng, là cơ sở cho việc xác định những nội dung, giải pháp cơ bản cầnthực hiện nhằm đạt được mục tiêu, chỉ tiêu về dự trữ quốc gia nói riêng và về kinh
tế, chính trị của đất nước nói chung Đồng thời việc quản lý dự trữ quốc gia dựa trênchiến lược, kế hoạch giúp nhà nước chủ động chỉ đạo thực hiện, hạn chế rủi ro, tácđộng tiêu cực có thể xảy ra
Hệ thống tổ chức dự trữ quốc gia được bố trí ở trung ương và các khu vực, địabàn chiến lược trong cả nước để kịp thời đáp ứng yêu cầu trong trường hợp cấpbách, bao gồm cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách thuộc Bộ Tài chính vàcác đơn vị dự trữ quốc gia thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia Công tácquản lý dự trữ quốc gia được phân công, phân cấp một cách có hệ thống, theonhững văn bản đặc thù nhất định Mỗi cấp quản lý có những quyền hạn và nhiệm vụđược quy định rõ ràng và không được vượt quá thẩm quyền được giao, chịu tráchnhiệm về các quyết định của mình
Trang 181.2.2.3 Quản lý dự trữ quốc gia phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định về
bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo đảm an toàn, tiết kiệm, kịp thời, có hiệu quả
Dự trữ quốc gia thể hiện sức mạnh nội lực của một đất nước nhằm sẵn sàngứng phó với những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường,góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết kháccủa nhà nước, do đó cần được đảm bảo bí mật Số lượng, chất lương hàng dự trữquốc gia phải được đảm bảo trong tất cả các khâu nhập vào, bảo quản, xuất ra theotiêu chuẩn quy định Nhà nước ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, địnhmức kinh tế kỹ thuật nhằm hướng dẫn và kiểm soát hoạt động dự trữ quốc gia, đảmbảo an ninh, an toàn hàng dự trữ, tránh giảm phẩm chất, thất thoát ngân sách nhànước
Công tác xuất hàng ra thực hiện cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ theo các quyết địnhcủa cấp có thẩm quyền phải được khẩn trương triển khai thực hiện nhằm ứng phó,
hỗ trợ kịp thời, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao
1.2.2.4 Quỹ dự trữ quốc gia chỉ được sử dụng khi có quyết định của cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Công tác quản lý hàng dự trữ quốc gia được quản lý tập trung thống nhất củaChính phủ, có sự phân công, phân cấp đến các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ địaphương Mỗi cấp quản lý được quy định, phân công nhiệm vụ riêng và chịu tráchnhiệm với các quyết định của mình nhằm đảm bảo tăng cường công tác quản lý vàtính trách nhiệm trong công việc, tránh chồng chéo, thất thoát ngân sách nhà nước.Căn cứ vào thẩm quyền đã được phân cấp, các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ sẽ quyếtđịnh xuất quỹ dự trữ quốc gia để thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia
- Xây dựng và chỉ dạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xây dựng quản lý, sử dụng quỹ
dự trữ quốc gia:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dự trữ quốc gia nhằm tạo hành langpháp lý trong hoạt động dự trữ quốc gia, giúp quản lý dự trữ quốc gia ngày càng đi
Trang 19vào nề nếp, chặt chẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả của DTQG đối với sự ổn định pháttriển nền kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng Các văn bản chỉ đạo, điều hànhluôn phải được nghiên cứu, xây dựng, cũng như sửa đổi, hoàn thiện đảm bảo đồng
bộ hệ thống văn bản pháp luật nói chung, phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động,không rắc rối, rườm rà, giúp giảm bớt thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo côngtác quản lý, sử dụng quỹ dự trữ quốc gia chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, cũng như đápứng nhu cầu về thông tin báo cáo ngày càng cao của các cấp quản lý, nhằm nắm bắthoạt động dự trữ quốc gia một cách đầy đủ, nhanh chóng, góp phần đưa ra cácquyết định đúng đắn, kịp thời
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược dự trữ quốc gia
Dự trữ nhà nước là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân vàhoạt động dự trữ là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có vai trò quan trọngđối với phát triển bền vững kinh tế- xã hội của đất nước Để dự trữ nhà nước có hiệuquả và bảo đảm những nhiệm vụ được giao, điều quan trọng là hoạt động dự trữ cầnphải được xây dựng và thực hiện theo chiến lược, kế hoạch dự trữ hàng năm và dàihạn Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dự trữ quốc gia phùhợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nướctrong từng thời kỳ Theo đó, chiến lược phát triển dự trữ quốc gia gắn liền với kếhoạch phát triển kinh tế xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm
Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội chủ yếu ở tầm quốc gia, và được hiểu đầy
đủ là một hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn thể hiện quan điểm, tầmnhìn, mục tiêu của một quá trình phát triển mong muốn, sự nhất quán về con đường
và các giải pháp cơ bản để thực hiện
Phương thức quản lý bằng chiến lược giúp các nhà hoạch định chủ động vàkịp thời dự báo, tính toán và xác định cơ hội và thách thức, nhằm tận dụng và khaithác triệt để cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực của thách thức để thực hiện mụctiêu phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai
Chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung cho xây dựng và triểnkhai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn Chiến lược đóng vai trò là ngọnđèn hải đăng trên biển, nó được coi là một định hướng, là cơ sở cho xây dựng chínhsách, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn Chiến lược cũng cấp tầm nhìn và khuôn khổ
Trang 20tổng quát cho việc thực hiện các quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một cách chủđộng và có hiệu quả
Trong khi chiến lược phát triển đóng vai trò định hướng xác định tầm nhìn dàihạn thì kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội là một công cụ quản lý và điều hành vĩ
mô nền kinh tế quốc dân, nó xác định một cách hệ thống những hoạt động nhằmphát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sửdụng trong một thời kỳ nhất định
Chiến lược dự trữ quốc gia được xây dựng bao gồm các nội dung:
+ Tổng mức dự trữ quốc gia trong từng thời kỳ;
+ Cơ cấu dự trữ quốc gia;
+ Danh mục, cơ cấu và mức dự trữ hàng dự trữ quốc gia;
+ Quy hoạch hệ thống kho chứa hàng dự trữ quốc gia;
+ Phát triển khoa học công nghệ phục vụ quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia;Chiến lược dự trữ quốc gia là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng, phát triển,quản lý dự trữ quốc gia
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia hàng năm, trung hạn, dài hạn;
Hoạt động dự trữ quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế Để dựtrữ quốc gia có hiệu quả và bảo đảm những nhiệm vụ được giao, điều quan trọng làhoạt động dự trữ cần phải được xây dựng và thực hiện theo kế hoạch dự trữ hàngnăm và dài hạn
Do tính chất đặc thù của ngành dự trữ quốc gia nên kế hoạch dự trữ quốc gianên kế hoạch dự trữ quốc gia có liên quan đến các đối tượng như: các mặt hàng dựtrữ quốc gia, mức dự trữ của các mặt hàng và hệ thống kho tàng để bảo quản hàng
dự trữ quốc gia Nhằm hướng dẫn hoạt động dự trữ quốc gia có hiệu quả, kế hoạch
dự trữ quốc gia có nhiệm vụ:
- Xác định số lượng và giá trị của các mặt hàng dự trữ hợp lý, bảo đảm cân đốicho nền kinh tế vĩ mô và bảo đảm đủ khả năng khắc phục những biến động bất lợicho nền kinh tế- xã hội, đất nước
Trang 21- Bố trí hệ thống kho dự trữ hợp lý, hiện đại, đồng bộ, tăng cường cơ sở vậtchất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong công tácbảo quản hàng dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu của dự trữ nhà nước.
- Tổ chức bộ máy quản lý gắn liền với cải cách hành chính để nâng cao hiệulực và hiệu quả của công tác quản lý dự trữ nhà nước
Trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch, chiến lược đã đặt ra, Nhà nước chỉ đạo cáccấp thực hiện nhập, xuất, bảo quản, xây dựng kho tàng, … theo quy định Căn cứkết quả thực hiện để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, khó khăn, vướng mắcgặp phải cũng như đường hướng chỉ đạo, rút kinh nghiệm trong giai đoạn và cácnăm tiếp theo
- Quy định hệ thống bộ máy quản lý trực tiếp hàng dự trữ quốc gia và việc phối hợp của các cơ quan đó;
Qua các thời kỳ kinh tế xã hội khác nhau, Nhà nước sẽ quy định hệ thống bộmáy quản lý hàng dự trữ quốc gia tại các vùng miền, địa bàn chiến lược phù hợp vớiđiều kiện kinh tế, an ninh, quốc phòng, cũng như đảm bảo mục tiêu đề ra, nâng caohiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý dự trữ quốc gia Các cấp quản lý triển khaithực hiện nhiệm vụ do cấp trên giao, cũng như phân công công việc cho cấp dướitheo thẩm quyền đã được phân cấp Nhà nước xây dựng hệ thống quản lý tại cácvùng chiến lược, giúp Nhà nước nắm bắt cụ thể đặc điểm của từng địa phương,quản lý hệ thống kho tàng, hàng dự trữ trên địa bàn, thực hiện các nhiệm vụ nhập,xuất, bảo quản hàng dự trữ, sẵn sàng phối hợp với các địa phương thực hiện xuấtcứu trợ, hỗ trợ, viện trợ khi có quyết định của các cấp có thẩm quyền, đồng thờithực hiện các chế độ báo cáo tình hình triển khai nhiệm vụ được giao với cấp quản
lý trực tiếp giúp Nhà nước nắm bắt kịp thời, đưa ra chỉ đạo, đường hướng chonhững nhiệm vụ tiếp theo hoặc giúp giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khănxảy ra
Các đơn vị dự trữ quốc gia đều nằm trong tổng thể hệ thống dự trữ quốc gia,thực hiện nhiệm vụ chung do Nhà nước giao Các đơn vị dự trữ quốc gia không chỉthực hiện nhiệm vụ trong địa bàn, địa lý của đơn vị mình, mà có thể mua, bán, xuấtcứu trợ, viện trợ trên địa bàn các địa phương khác Ngoài ra, trong trường hợp cầnthiết, cần thực hiện nhập, xuất trong nội bộ ngành dự trữ nhằm thuận lợi, kịp thời
Trang 22khi thực hiện nhiệm vụ, do đó việc phối hợp giữa các đơn vị quản lý hàng dự trữquốc gia vô cùng cần thiết Nhà nước có các văn bản nhằm yêu cầu, hướng dẫn cácđơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí, thời gian, hoàn thànhnhiệm vụ chung được giao của toàn ngành.
- Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hàng dự trữ quốc gia, định mức kinh tế, kỹ thuật, làm cơ sở cho công tác quản lý nhà nước và bảo quản hàng dự trữ quốc gia
Hàng dự trữ quốc gia nhập vào, bảo quản, xuất ra phải luôn đảm bảo yêu cầu
về loại hàng, số lượng, chất lượng, phải đáp ứng tiêu chuẩn do nhà nước quy định.Mặt khác, trong quá trình bảo quản, toàn bộ kết cấu kho tàng, quy trình bảo quản,các vật tư sử dụng đều phải thực hiện theo đúng quy chuẩn quốc gia, định mức kinh
tế, kỹ thuật để đảm bảo chất lượng hàng dự trữ khi xuất ra, cũng như đảm bảo mứchao kho không vượt quá định mức quy định
Khí hậu, môi trường biến đổi theo từng giai đoạn, theo các năm, công nghệbảo quản hàng dự trữ luôn được cập nhật, thay đổi để đáp ứng yêu cầu về áp dụngtiến bộ khoa học công nghệ vào công tác nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gianâng cao chất lượng hàng dự trữ, tiết kiệm kinh phí cho ngân sách, do đó việc xâydựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật luôn được chú trọng, xâydựng một cách đồng bộ, phù hợp với từng loại hàng dự trữ, từng loại công nghệ ápdụng nhập, xuất bảo quản
Các văn bản quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế, kỹthuật đóng vai trò hướng dẫn các bước, công đoạn phải thực hiện, chỉ tiêu đạt tiêuchuẩn một cách thống nhất trong toàn hệ thống dự trữ quốc gia khi thực hiện nhập,xuất, bảo quản để đạt được chất lượng hàng dự trữ theo yêu cầu Đây cũng là cơ sở
để Nhà nước thực hiện quản lý đồng bộ chất lượng hàng dự trữ quốc gia tránh thấtthoát ngân sách nhà nước
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện dự trữ quốc gia
Theo Luật dự trữ quốc gia: “Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia” Hoạt động DTQG có những đặc điểm riêng với các nội dung chủ yếu sau:
Trang 23Mua, bán hàng dự trữ quốc gia
Mua, bán hàng DTQG được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Mua bù cho hàng đã xuất (xuất bán luân phiên đổi hàng; xuất cứu nạn, cứutrợ và xuất vì lý do khác);
- Mua tăng lượng hàng DTQG theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Bán hàng DTQG được thực hiện trong các trường hợp:
- Bán luân phiên đổi do hàng DTQG đã hết hạn lưu kho mà chưa xuất cứu nạn,cứu trợ, viện trợ do đó, phải bán luân phiên đổi hàng để đảm bảo chất lượng củahàng dự trữ;
- Bán thanh lý, do hàng DTQG bị giảm phẩm chất (chất lượng) trong quá trìnhbảo quản; giảm chất lượng do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh giảm do bảoquản không tuân thủ đúng quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật
Mua bán hàng DTQG khác với việc mua bán hàng của các doanh nghiệp Mua bánhàng DTQG được thực hiện theo nguyên tắc:
- Đúng kế hoạch, đúng quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc theo đúng hợpđồng thuê bảo quản theo đơn đặt hàng của nhà nước tại thời điểm do nhà nước quyđịnh
- Đúng chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm quy định
- Nhập, xuất đúng thủ tục theo quy định của pháp luật
Giá mua, bán hàng DTQG phải đảm bảo mua hàng kịp thời và chất lượng tốt,bán đúng lúc và tránh thất thoát;
Bảo quản hàng dự trữ quốc gia
Bảo quản hàng DTQG giữ vai trò quan trọng trong hoạt động DTQG trên cácmặt: Bảo vệ bí mật Nhà nước về DTQG (loại hàng, số lượng, nơi để hàng dự trữ );bảo đảm an toàn hàng DTQG; kịp thời đáp ứng các yêu cầu cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ,viện trợ cấp thiết
Để bảo quản hàng DTQG cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
Thứ nhất, về kho tàng phải xây dựng đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượnghàng DTQG trong thời gian dự trữ theo tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuậtđược cơ quan có thẩm quyền quy định
Trang 24Thứ hai, thực hiện bảo quản hàng DTQG theo quy chuẩn kỹ thuật và chi phítheo định mức kinh tế - kỹ thuật và thời gian bảo quản hàng DTQG.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ nghiệp vụ chuyên môn được đàotạo chuyên sâu theo từng mặt hàng cụ thể và tinh thần trách nhiệm cao
Thứ tư, tăng cường nghiên cứu áp dụng khoa học và công nghệ bảo quản theohướng CNH, HĐH trong bảo quản đối với từng mặt hàng phù hợp với điều kiệnthực tế ở nước ta
Trong quá trình bảo quản hàng DTQG, cán bộ thủ kho làm công tác bảo quảnphải thường xuyên kiểm tra (thực hiện theo chế độ quy định) để kịp thời phát hiệncác hiện tượng hàng DTQG suy giảm chất lượng (mối, mọt, ẩm ướt ), mất mát,hao hụt báo cáo người đứng đầu đơn vị, để báo cáo cấp có thẩm quyền khắc phục
và xử lý
Các trường hợp hàng DTQG suy giảm chất lượng có tỷ lệ hao hụt vượt địnhmức hoặc để xẩy ra tổn thất, mất mát v.v do lỗi của thủ kho bảo quản gây nên thìphải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định hiện hành của Nhà nước
Xuất hàng dự trữ quốc gia để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao
Hàng DTQG xuất thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao trong các trường hợpdùng để cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ, cứu đói cho các địa phương bị ảnh hưởng củathiên tai thời tiết và thực hiện viện trợ cho các nước; các công việc phải thực hiệngồm:
- Công tác chỉ đạo, điều hành giao nhận hàng dự trữ giữa đơn vị DTQG vớiđối tượng được hỗ trợ, cứu nạn, viện trợ (công tác chỉ đạo, điều hành diễn ra ở tất cảcác cấp từ trung ương, tỉnh thành phố đến huyện, thị xã, và cuối cùng là cấp xã).Đây là công việc diễn ra từ khởi đầu đến khi kết thúc việc giao nhận hàng
- Xuất hàng tại cửa kho dự trữ: phải thực hiện kiểm tra mặt hàng, số lượng,quy cách, chất lượng, bốc hàng từ kho lên cân đo, bốc hàng lên phương tiện vận tải
- Vận chuyển hàng từ kho đến nơi giao nhận hàng, khi giao nhận hàng phảibốc dỡ hàng từ phương tiện vận chuyển đến nơi để hàng
- Để đảm bảo an toàn hàng hóa trong quá trình vận chuyển phải có bao bì mớiđóng gói hoặc thay thế và dự phòng
Trang 25- Xuất hàng DTQG viện trợ theo quyết định của Chính phủ phải đảm bảo hànghóa, bao bì và vận chuyển theo thông lệ quốc tế và được giao hàng trực tiếp tạinước nhận viện trợ đảm bảo số lượng, chất lượng, bao bì, vận chuyển có chất lượngtốt và tổ chức vận chuyển, giao nhận theo quy định hiện hành của Luật pháp ViệtNam và thông lệ Quốc tế.
Xuất hàng dự trữ quốc gia bán luân phiên đổi hàng theo kế hoạch
Mỗi loại hàng DTQG được dự trữ trong kho theo thời hạn nhất định, theo quychuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Hết thời gian bảo quản
dự trữ phải xuất bán để nhập hàng mới gọi là xuất hàng DTQG luân phiên đổi hàngtheo kế hoạch Bán luân phiên đổi hàng DTQG được thực hiện theo phương thức đấugiá
- Xuất hàng DTQG thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao cho hoặc xuất luân phiênđổi hàng, các kho dự trữ đều phải thực hiện mọi công việc theo quy trình công nghệ
về nhập hàng mới Các công việc đó là:
+ Vệ sinh sạch sẽ toàn bộ nhà kho, trang thiết bị, công cụ vật tư phục vụ cho xuấthàng, kiểm tra cụ thể các trang thiết bị đó để phục vụ cho công tác xuất hàng
+ Kiểm tra, làm mẫu xác định chất lượng hàng hóa trong kho, lô hàng chuẩn bịxuất
+ Kiểm tra danh mục, quy cách, số lượng, chất lượng, hồ sơ tài liệu có liên quanđến số hàng dự trữ xuất kho
+ Bố trí người kiểm tra giám sát tại các điểm kho xuất hàng, chuẩn bị sẵn sàngnhân lực, phương tiện và các điều kiện cần thiết để tổ chức bốc xếp hàng lên phươngtiện vận chuyển
Điều chuyển nội bộ hàng dự trữ quốc gia
Hàng DTQG trong thời gian dự trữ cần thiết phải điều chuyển nội bộ trongphạm vi hệ thống kho của toàn ngành Điều chuyển nội bộ hàng DTQG được thựchiện trong các trường hợp sau:
- Điều chuyển hàng DTQG ra khỏi vùng bị thiên tai, hỏa hoạn, hoặc không antoàn;
- Điều chuyển hàng DTQG đến nơi cần thiết để sẵn sàng phục vụ cho cácnhiệm vụ phát sinh;
Trang 26- Điều chuyển do yêu cầu cần thiết của công tác kiểm kê, bàn giao, thanh tra,điều tra v.v
Khi thực hiện điều chuyển hàng DTQG phải thực hiện các công việc sau:
+ Xuất hàng tại cửa kho dự trữ: phải kiểm tra mặt hàng, số lượng, quy cách,chất lượng, bốc hàng lên cân đo, bốc hàng lên phương tiện vận tải;
+ Vận chuyển hàng từ kho đang dự trữ đến kho mới; khi giao nhận hàng phảikiểm tra, bốc dỡ vào kho để hàng và thực hiện các thủ tục cần thiết có liên quan đếncông tác điều chuyển, bàn giao theo đúng trình tự, quy định
1.2.3.2 Đánh giá thực hiện dự trữ quốc gia
- Hướng dẫn, giám sát thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, xử lý vi phạm pháp luật dự trữ quốc gia.
Thanh tra và kiểm tra là những hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tácquản lý Nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có thanh tra, kiểm tra Chính vì vậy,
khi bàn về quản lý nhà nước, Lê Nin đã nói: "Điều kiện tất yếu để công tác quản lý được chính xác là việc kiểm tra tình hình chấp hành Chỉ thị và Nghị quyết Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành là một trong những ưu điểm cơ bản nhất, tất yếu nhất của phương thức quản lý " Nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thanh tra là một nhiệm vụ vẻ vang và quan trọng Nó theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ” Như thế đủ hiểu, công tác thanh tra,
kiểm tra giống như “ngọn đèn pha” giúp nhìn rõ ưu điểm, khuyết điểm, nắm chắctình hình trong lãnh đạo, quản lý Theo Hồ Chí Minh, chín phần mười khuyết điểm
trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra Vì thế, “cấp lãnh đạo các bộ, ngành, các cấp nhất định phải có cơ quan thanh tra của mình để theo dõi công tác ngay từ đầu, kịp thời uốn nắn, sửa chữa sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra, đồng thời phải trực tiếp chỉ đạo cơ quan thanh tra của mình”
Hoạt động dự trữ quốc gia là hoạt động đặc thù, thực hiện dự trữ, nhập, xuất,bảo quản hàng dự trữ quốc gia, vì vậy cần thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sátnhằm đảm bảo an toàn, an ninh, số lượng, chất lượng hàng dự trữ quốc gia Nhànước ban hành các văn bản về hướng dẫn công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ, cũngnhư đột xuất của các cơ quan chuyên trách ngoài ngành, cũng như giữa các cấp
Trang 27quản lý nội bộ ngành dự trữ quốc gia nhằm chủ động phòng ngừa và phát hiện kịpthời những vi phạm để kiến nghị với cấp có thẩm quyền, xây dựng, củng cố và kịpthời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản
lý của ngành để đề xuất với các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, gópphần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý dự trữ quốc gia (DTQG),bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cánhân
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, baogồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa chiến lược; nhằm mục đích khắc phục nhữngtổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian nhấtđịnh Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước Do
đó việc dự trữ mặt hàng gì, dự trữ bao nhiêu, công tác quản lý của nhà nước đóđối với hoạt động này như thế nào phụ thuộc đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội, con người của từng nước, cụ thể:
1.3.1 Yếu tố chính trị, xã hội của đất nước
Chiến lược dự trữ quốc gia gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, xã hộicủa đất nước, được xây dựng trên cơ sở các phân tích, đánh giá về tình hình kinh tế,chính trị, xã hội trong một giai đoạn, mục tiêu phát triển đất nước Do đó, tình hìnhchính trị của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản lý nhà nướchàng dự trữ quốc gia Trên cơ sở mức độ ổn định tình hình chính trị đất nước, Nhànước sẽ quyết định cần phải dự trữ mặt hàng nào, số lượng bao nhiêu, quy hoạchkho tại vùng miền nào để hợp lý và thuận tiện cho công tác cứu trợ, hỗ trợ, viện trợkhi trường hợp cấp bách xảy ra
Từ xưa đến nay, hòa bình, hợp tác luôn là ý nguyện chung của cả nhân loại.Bất cứ lúc nào, an ninh quốc gia đều được coi là vấn đề cấp thiết, gồm an ninhchính trị, quốc phòng an ninh xã hội, an ninh môi trường, an ninh kinh tế Vì vậy,song song với việc phát triển kinh tế xã hội, mỗi quốc gia đều phải dự phòng, sẵnsàng bảo vệ an ninh đất nước
Trang 28Bên cạnh đó, bạo loạn bạo động, khủng hoảng chính trị, nội chiến, đấu tranhtôn giáo, có thế xảy ra bất cứ lúc nào mà không được báo trước Nhà nước cầnnghiên cứu, đánh giá, nắm bắt thông tin, nâng cao tính chủ động để có thế xử lýnhằm ổn định tình hình chính trị trong nước một cách nhanh nhất.
Chính trị của một đất nước ổn định, việc dự trữ mặt hàng phục vụ an ninhquốc phòng sẽ giảm đi, thay vào đó Nhà nước sẽ dự trữ các mặt hàng liên quan đếnvấn đề kinh tế, dịch bệnh, Ngược lại, đất nước có nhiều bạo động, nổi loạn, chiến
sự diễn ra trên các vùng miền, Nhà nước đó cần cân nhắc dự trữ các mặt hàng anninh quốc phòng, lương thực nhằm đáp ứng kịp thời với tình hình đất nước
Ngoài ra, thiên tai, dịch bệnh có thể xảy ra với bất kỳ một quốc gia nào, có thểlan truyền mang tính chất toàn cầu Việc xử lý, khắc phục hậu quả đôi khi nằmngoài kiểm soát của các nước Trong những thời điểm này, việc hỗ trợ, viện trợ từcác nước bạn vô cùng quan trọng, giúp thể hiện tình hữu nghị, chung tay giúp sức,tăng cường quan hệ ngoại giao giữa các nước
Quan điểm của Đảng và Nhà nước cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhànước hàng dự trữ quốc gia Theo đó, qua mỗi thời kỳ, đối với từng lĩnh vực, việcđánh giá mức độ quan trọng đối với từng lĩnh vực của Đảng và Nhà nước có sựkhác nhau, từ đó việc dự trữ các mặt hàng cũng khác nhau Đảng và Nhà nước sẽđặt mục tiêu phát triển đất nước theo từng giai đoạn và đặt mục tiêu phát triểunhững lĩnh vực trọng tâm để có những chiến lược và hành động theo định hướng đã
đề ra Mặt khác, các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với các hoạtđộng kinh tế cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động dự trữ quốc gia
Việc quản lý Nhà nước về hàng dự trữ quốc gia còn phụ thuộc vào yếu tố xãhội của một đất nước bao gồm đặc điểm dân cư, trình độ học vấn, chênh lệch giàunghèo, tỷ lệ thất nghiệp Trên cơ sở rà soát, nghiên cứu tình hình xã hội của đấtnước, Nhà nước sẽ cân nhắc, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xãhội, bảo vệ và trợ giúp các đối tượng dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường.Việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh kinh tế có liên quan trực tiếp đếnviệc Nhà nước sẽ quyết định mức dự trữ quốc gia, cũng như quyết định xuất sửdụng quỹ dự trữ quốc gia cho những đối tượng nào nhằm đảm bảo mục tiêu pháttriển xã hội trong một giai đoạn nhất định Một xã hội có dân số đông, tỷ lệ các hộ
Trang 29dân nghèo, cận nghèo cao thì lượng dự trữ lương thực cao là điều cần thiết, hoặcnếu Nhà nước muốn khuyến khích các gia đình cho trẻ đi học tại các huyện miềnnúi, dân trí thấp, sẽ quyết định hỗ trợ cho các gia đình, học sinh ở vùng này,
1.3.2 Yếu tố tự nhiên
Địa hình, khí hậu của một đất nước có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý nhànước về dự trữ quốc gia Theo đó, khí hậu từng thời kỳ, từng năm sẽ liên quan đếnmức độ ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh và những thiệt hại đếnđời sống kinh tế, xã hội của đất nước Trong những năm gần đây, khi cân bằng tựnhiên của trái đất bị phá vỡ do các hoạt động khai thác tự nhiên quá mức, do bùng
nổ nạn ô nhiễm môi trường công nghiệp ngày càng gia tăng thì cũng dến lúc conngười ở mọi nước kể cả những nước công nghiệp phát triển đến những nước nghèophải đối mặt với những hiểm họa do tự nhiên mang lại Những đợt hạn hán kéo dàigây cho mùa màng thất bát, sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, các thảm họa bão, lũlụt ngày càng nặng nề, có phạm vi ảnh hưởng ngày càng rộng thiệt hại lớn, nhữngthảm họa thiên nhiên như động đất, sóng thần, rò rỉ phóng xạ có nguy cơ xảy ratrong tương lai
Yếu tố bất thường của tự nhiên không chỉ xảy ra ở vài vùng mà có khi mangtính chất toàn cầu Ví dụ đại dịch cúm H1N1 năm 2009 gây chấn động toàn thế giới,lan nhanh tới 214 quốc gia và khiến 18.000 người thiệt mạng trên tổng
số 575.000 ca nhiễm bệnh, đại dịch MERS năm 2012 đã có mặt tại 25 quốc gia
làm 1.179 người nhiễm virus, 442 người tử vong, hay gần đây nhất là đại dịchEbola là nỗi khiếp sợ của toàn nhân loại trong năm 2014, trong đó gần 7.000 trườnghợp tử vong vì virus này Những khoản phí tổn nhằm phòng chống và khắc phụcnhững hiểm họa thiên nhiên đó đều phải dựa vào khoản dự phòng tài chính của mỗinước
Như vậy, tình trạng mất ổn định, những hiểm họa không thể lường trước đượccủa tự nhiên đã tợ thành những hiểm họa tiềm ẩn ở bất cứ nước nào, bất cứ khu vựcnào Thiên tai bất thường không chỉ đe dọa tính mạng, tài sản của từng con người
mà còn gây mất ổn định cho sản xuất và đời sống của toàn xã hội
Khả năng phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh của người dân
là có hạn nên đã đặt cho Nhà nước những nhiệm vụ ngày một nặng nề, trong đó cứu
Trang 30hộ, cứu nạn đã trở thành những sự vụ cần giải quyết hàng năm Nhà nước sẽ cânnhắc việc dự trữ mặt hàng gì, mức dự trữ và dự trữ ở khu vực nào là hợp lý và đảmbảo thuận tiện, tiết kiệm, kịp thời khi có rủi ro xảy ra
1.3.3 Yếu tố kinh tế của một quốc gia
Nguồn vốn dành cho dự trữ quốc gia hầu như 100% từ nguồn NSNN, do đóviệc dự trữ các mặt hàng với tổng mức dự trữ bao nhiêu phụ thuộc vào tiềm lựckinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Nếu một quốc gia có tiềm lựckinh tế lớn, nguồn NSNN giành cho dự trữ quốc gia cũng lớn và ngược lại nếu kinh
tế một quốc gia bất ổn, Nhà nước cần cân đối các nguồn thu chi để đảm bảo trangtrải cho các hoạt động của quốc gia, do đó nguồn lực giành cho dự trữ quốc giacũng hạn chế hơn
Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu thế khách quan lôi cuốn nhiềunước tham gia, mở ra cơ hội và thách thức đối với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
ở các quốc gia Quá trình toàn cầu hóa làm cho nền kinh tế các quốc gia ngày càngphụ thuộc vào nhau, khiến cho chính sách đơn lẻ của một nước không còn hiệu lựcmạnh như trong một nền kinh tế đóng được nữa Toàn cầu hóa và hội nhập luôn cóhai mặt: tích cực và tiêu cực Đi kèm với tự do hóa thương mại và tài chính thì sựbất ổn về kinh tế ngày một gia tăng, nó tạo ra cơ hội và thách thức lớn cho tất cả cácquốc gia Bên cạnh đó toàn cầu hóa còn làm lây lan nhanh chóng trên quy mô lớnnhững cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ làm cho nền kinh tế dễ biếnđộng hơn, dễ mất ổn định hơn Chính vì lẽ đó, các nước cần phải đưa ra nhữngchính sách, chiến lược nhằm nâng cao năng lực nội sinh để vừa có thể tham gia hộinhập kinh tế toàn cầu, vừa tìm cách chiếm lợi thế cho riêng mình
1.3.4 Yếu tố con người
Con người là chủ thể thực hiện quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia Việc nhìnnhận, nắm bắt vấn đề có vai trò quan trọng trong việc đưa ra những quy định, vănbản chỉ đạo, điều hành cả một hệ thống, một ngành dự trữ, nó quyết định đến côngtác thực thi các văn bản phù hợp hay vướng mắc, đã đầy đủ, bao quát hay vẫn cònbuôn lỏng, thiếu xót, đồng bộ hay sai lệch so với các văn bản quy phạm pháp luật
và văn bản hướng dẫn khác Việc lựa chọn, đào tạo đội ngũ CBCC làm công tácquản lý nói chung và quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia nói riêng cần phải có kiến
Trang 31thức, có cái nhìn bao quát, có tầm nhìn chiến lược, biết đánh giá, dự đoán tình hình,
từ đó chỉ đạo hệ thống CBCC thực thi nhiệm vụ một cách hiệu quả đảm bảo côngtác dự trữ quốc gia thực hiện được đúng mục tiêu của mình
Việc đưa những CBCC thiếu chuyên môn nghiệp vụ, không có tầm nhìn củanhà quản lý, không có tâm với nghề thực hiện công tác quản lý nhà nước sẽ làmhoạt động dự trữ bị trì trệ, đi lệch hướng, gây thất thoát ngân sách nhà nước
Quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia còn có quản lý về con người nhằm đánhgiá, đưa ra các biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn của các CBCC, bố trí, phân
bổ hợp lý đội ngũ CBCC nhằm phát huy tối đa năng lực của mỗi CBCC, tạo thànhmột bộ máy dự trữ quốc gia hoạt động nhuần nhuyễn, nâng cao hiệu quả, hoànthành nhiệm vụ, tiết kiệm ngân sách nhà nước
Trang 32CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
2.1.1 Giới thiệu về Tổng cục dự trữ Nhà nước
Tổng Cục Dự trữ Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiệnchức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý về dự trữ nhà nước, trựctiếp quản lý các loại hàng hoá dự trữ được Chính phủ giao Ngoài ra Thủ tướngChính phủ cũng giao cho một số Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia có nhiệm
vụ tổ chức thực hiện kế hoạch, hợp đồng thuê bảo quản hàng dự trữ quốc gia theođặt hàng của Nhà nước và quản lý dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật.Quá trình hình thành và phát triển 57 năm qua của Ngành Dự trữ Nhà nước đãtrải qua 3 thời kỳ, gắn với nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ và giai đoạn cáchmạng Việt nam do đảng ta lãnh đạo; đồng thời tổ chức bộ máy của Cục đã 5 lầnthay đổi, được xây dựng và phát triển phù hợp với nhiệm vục cách mạng nước tatrong mỗi giai đoạn, cụ thể như sau:
- Thời kỳ thứ nhất: Dự trữ quốc gia phục cụ công cuộc đổi mới Xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam(Từ 1956 - 1975)
Ngày 13-1-1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 663/TTg,
về tổ chức lực lượng dự trữ vật tư của Quốc gia, với danh mục 27 loại hàng hóathiết yếu, trị giá gần 50 tỷ đồng theo thời giá khi đó, đồng thời Thủ tướng Chínhphủ tạm giao cho Ủy ban kế hoạch quốc gia theo dõi, đôn đốc hoạt động dự trữ này.Thủ tướng Chính phủ giao cho 4 Bộ là: Công nghiệp, Thương nghiệp, Quốc phòng,
Y tế, trực tiếp bảo quản 27 loại hàng dự trữ quốc gia nói trên và chỉ được xuất khotheo lệnh của Thủ tướng Chính phủ
Đặc điểm tình hình hoạt động Dự trữ quốc gia trong giai đoạn 1956 - 1975:
Giai đoạn 1956 - 1960, với đặc trưng: Nhà nước thống nhất quản lý tập trungcao đối với hoạt động dự trữ quốc gia và hoạt động dự trữ đã đóng góp có hiệu quảđối với nền kinh tế trong giai đoạn đầu khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhândân miền Bắc, chi viện miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước
Trang 33Giai đoạn 1961 - 1975, đặc trưng nổi bật của giai đoạn này là: Nhà nước tăngcường mạnh tiềm lực hàng hoá dự trữ để phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ởmiền Bắc và chi viện miền Nam Thực hiện chuyển giao nhiệm vụ trực tiếp bảoquản một số hàng hoá cho các Bộ chuyên ngành, tiến hành phân tán, sơ tán hànghoá dự trữ để chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ.
- Thời kỳ thứ hai: Ngành dự trữ quốc gia phục vụ sự nghiệp cả nước đi lên
Chủ nghĩa xã hội (1976 - 1985)
Sau khi giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Namchuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ cả nước đi lên CNXH Theo Nghị định31/HĐBT, Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước là cơ quan giúp Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng về quản lý hoạt động dự trữ quốc gia của toàn nền kinh tế và trực tiếpnhập, xuất, bảo quản các loại hàng hoá dự trữ theo kế hoạch và quyết định củaChính phủ Cục Dự trữ tiếp nhận toàn bộ nhiệm vụ kế hoạch, kho tàng, tài sản, hànghoá, cán bộ, công nhân viên đang làm công tác dự trữ Nhà nước ở các Bộ, Tổng cục
và bảo đảm cho toàn ngành Dự trữ quốc gia hoạt động tốt, đáp ứng yêu cầu của đấtnước trong giai đoạn cách mạng mới
- Thời kỳ thứ ba: Hoạt động dự trữ quốc gia trong sự nghiệp đổi mới(Thời kỳ
1986 – nay)
Hoạt động Dự trữ quốc gia giai đoạn 1986 – 1990:
Trong những năm 1986 - 1990, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế từngbước chuyển từ chế độ tập trung bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường.Cùng với việc quy định về cơ chế quản lý, Nghị định số 142/HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng đã đổi tên Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước thành Cục Dự trữquốcgia
Hoạt động dự trữ quốc gia trong giai đoạn từ 1991 đến nay:
Từ năm 1991 đến 1995, để từng bước giảm các đầu mối cơ quan thuộc Chínhphủ, ngày 22-10-1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/CP về việc giao Bộtrưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ quản lý chỉ đạo Cục Dự trữ quốc gia; tiếp
đó, ngày 12-5-1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 236/TTg vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Dự trữ quốc gia Theo
Trang 34quyết định này, các chức năng nhiệm vụ cơ bản của Cục vẫn giữ như trước, đồngthời, ngoài các cơ quan giúp việc Cục trưởng đã có, Cục được thành lập thêmPhòng Chính sách Dự trữ quốc gia.
Từ năm 1996 đến nay: Ngày 27-5-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/
CP về việc đặt Cục Dự trữ quốc gia trực thuộc Chính phủ; Nghị định số 66/CP ngày18-10-1995 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Dự trữquốc gia Ngày 24/2/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/CP về quy chếquản lý dự trữ quốc gia thay thế Nghị định số 142/HĐBT ngày 8-9-1988 của Hộiđồng Bộ trưởng, trong đó quy định việc phân công cho một số Bộ, ngành trực tiếpquản lý hàng dự trữ quốc gia chuyên ngành, đặc chủng Theo đó, Cục Dự trữ quốcgia là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về dựtrữ quốc gia (chức năng mới) và trực tiếp quản lý một số loại hàng dự trữ chiếnlược, thiết yếu cho quốc kế, dân sinh
Giai đoạn 2005 đến nay: Ngành Dự trữ Nhà nước bắt đầu triển khai Pháp lệnh
Dự trữ quốc gia, văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh công tác quản lý dự trữ nhànước Cục Dự trữ quốc gia được tổ chức theo Quyết định số 270/2003/QĐ-TTgngày 24/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ Cùng với quá trình triển khai Pháp lệnh
Dự trữ quốc gia, Cục Dự trữ quốc gia tích cực nghiên cứu thực tiễn vận hành của bộmáy tổ chức hiện tại, xây dựng định hướng tổ chức cho phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới
Ngày 27/11/2008, tại Nghị định số 118/2008/NĐ-CP quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, Cục Dự trữ quốc gia đãđược đổi tên và nâng cấp thành Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.Sau 02 năm chuẩn bị, ngày 20/8/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 106/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Theo đó, chức năngquản lý nhà nước các hoạt động dự trữ nhà nước của Tổng cục Dự trữ Nhà nước,với tư cách là tổ chức quản lý chuyên ngành, được cơ bản hoàn thiện; các nhiệm vụ
cụ thể hoá chức năng theo quy định của Pháp lệnh Dự trữ quốc gia đã được rà soát,
bổ sung; Tổng cục Dự trữ Nhà nước được tổ chức theo hệ thống dọc với 3 cấp quản
lý từ Trung ương đến các vùng chiến lược trên địa bàn cả nước Cục Dự trữ Nhà
Trang 35nước khu vực, Chi cục Dự trữ Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoảnriêng tại Kho bạc Nhà nước.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước
2.1.2.1 Cơ quan Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Ban Lãnh đạo Tổng cục gồm có: 04 đồng chí
- Tổng cục trưởng: Ông Phạm Phan Dũng
- Phó tổng cục trưởng: Ông Lê Văn Thời
- Phó tổng cục trưởng: Ông Lê Xuân Minh
- Phó tổng cục trưởng: Ông Bùi Tuấn Minh
Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dự trữ Nhà nước do Bộtrưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của phápluật
Tổng cục trưởng là người đứng đầu Tổng cục, chịu trách nhiệm trước Bộtrưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng cục Dự trữNhà nước Các Phó Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng vàtrước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách
- Các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lýnhà nước gồm: Vụ Chính sách và Pháp chế; Vụ Kế hoạch; Vụ Khoa học và Côngnghệ bảo quản; Vụ Quản lý hàng dự trữ; Vụ Tổ chức cán bộ;Vụ Tài vụ - Quản trị;
Vụ Thanh tra dự trữ; Văn phòng; Cục Công nghệ thông tin
- Tổ chức sự nghiệp:Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ dự trữ Nhà nước
2.1.2.2 Các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực và Chi cục Dự trữ Nhà nước: Gồm
có 22 Cục đặt tại các vùng miền, khu vực trong cả nước và 96 Chi cục Dự trữ Nhànước trực thuộc được bố trí đều khắp trên các vùng kinh tế, địa bàn chiến lược, phùhợp với điều kiện an ninh, quốc phòng của cả nước
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục Dự trữ Nhà nước
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục Dự trữ Nhà nước được quyđịnh trong Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hànhngày 20/8/2009 Tổng cục Dự trữ Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sauđây:
Trang 36- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xemxét, quyết định:
+ Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảonghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dựthảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về dự trữ nhà nước;
+ Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hànhđộng, quy hoạch hệ thống kho, đề án, dự án quan trọng về dự trữ nhà nước;
+ Danh mục, mức dự trữ từng loại hàng, tổng mức dự trữ nhà nước và tổngmức tăng dự trữ nhà nước trong từng thời kỳ và hàng năm;
+ Kế hoạch, dự toán ngân sách dự trữ nhà nước và phương án phân bổ vốn bổsung dự trữ nhà nước hàng năm cho các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ nhà nước;+ Kế hoạch đặt hàng dự trữ nhà nước tại các Bộ, ngành được Chính phủ giaotrực tiếp quản lý hàng dự trữ;
+ Việc sử dụng quỹ dự trữ nhà nước để tham gia bình ổn thị trường, ổn địnhkinh tế vĩ mô
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định:
+ Dự thảo thông tư và các văn bản khác về dự trữ nhà nước;
+ Chế độ quản lý tài chính, ngân sách dự trữ nhà nước, cơ chế mua, bán, nhập,xuất hàng dự trữ nhà nước; chế độ thống kê, báo cáo về dự trữ nhà nước;
+ Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật thuộclĩnh vực dự trữ nhà nước;
+ Cấp tăng vốn dự trữ nhà nước; cấp chi phí nhập, xuất, mua, bán, bảo quản,cứu trợ, viện trợ, bảo hiểm hàng dự trữ nhà nước cho các Bộ, ngành, các cơ quan,đơn vị trực tiếp quản lý hàng dự trữ nhà nước
- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạmnội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Dự trữ Nhà nước
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực dự trữ nhà nước sau khi đượccấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dự trữ nhà nước
Trang 37- Tổ chức thực hiện đặt hàng dự trữ nhà nước tại các cơ quan, đơn vị dự trữ vàthực hiện ký hợp đồng bảo quản theo kế hoạch đã được phê duyệt.
- Tổ chức quản lý, sử dụng quỹ dự trữ nhà nước theo chương trình, kế hoạch
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện quản lý dự trữ nhà nước bằng tiềntheo quy định của pháp luật
- Trực tiếp quản lý các loại hàng dự trữ nhà nước theo danh mục được Chínhphủ giao:
+ Thực hiện nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ an toàn các hàng dự trữđược giao theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện xuất hàng dự trữ nhà nước để cứu trợ, cứu hộ, cứu nạn, viện trợquốc tế hoặc sử dụng vào mục đích khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
và chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Tổ chức thực hiện công tác đầu tư xây dựng hệ thống kho, trang thiết bị kỹthuật theo chương trình, kế hoạch đã được duyệt
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặckiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi viphạm pháp luật dự trữ nhà nước; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quyđịnh của pháp luật
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác
dự trữ nhà nước
- Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý; tổ chức thực hiệncông tác thống kê và chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình quản lý, sử dụnghàng dự trữ nhà nước
- Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực dự trữ nhà nước theo phân công, phâncấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ,chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ,công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Dự trữ Nhà nước theophân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
Trang 38- Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cảicách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt.
- Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao vàtheo quy định của pháp luật
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
2.2.1.Đặc điểm dự trữ nhà nước Việt Nam
2.2.1.1 Dự trữ nhà nước Việt Nam, hình thành và phát triển gắn liền với tình
hình chính trị, xã hội của đất nước và mục tiêu phát triển đất nước
Đây là đặc điểm của DTNN của Việt Nam Nhìn lại quá trình hình thành vàphát triển của DTNN ở Việt Nam cho thấy, DTNN Việt Nam ra đời trong thời kỳchống thực dân Pháp xâm lược Việc hình thành DTNN thời kỳ đó nhằm phục vụcho sự nghiệp chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc Để phục vụ kháng chiến,thời kỳ này dự trữ toàn bộ bằng hiện vật, bao gồm những mặt hàng thiết yếu phục
vụ cho kháng chiến như: lương thực, muối ăn, vải, xăng dầu kim khí, than, ximăng, xe máy, thiết bị y tế, …Thời kỳ này, tiềm lực nước ta còn yếu, dự trữ nhànước ới ra đời nên quy mô dự trữ còn nhỏ, tuy nhiên, để phát huy sức mạnh nguồnlực dự trữ cho dự nghiệp cách mạng, dự trữ nhà nước thời kỳ này được quản lý tậptrung
Chuyển sang thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, DTNN tiếp tục thựchiện nhiệm vụ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách của chiến tranh giải phóng dântộc Danh mục hàng hóa dự trữ trong thời kỳ này bao gồm các mặt hàng như lươngthực, muối ăn, vải, thiết bị y tế, động cơ ô tô, máy xúc, tổ máy phát điện,…chủ yếu
là phục vụ nhu cầu chiến tranh Về quy mô, thời kỳ này tiềm lực nước ta đã đượctăng lên cùng với sự giúp đỡ của các nước XHCN nên quy mô tăng lên nhiều so vớithời kỳ chống Pháp, tuy nhiên quy mô còn nhỏ so với nhu cầu thực tế Mặt khác, dotính chất cuộc chiến tranh rất khốc liệc, giặc Mỹ thường xuyên bắn pháp kho tànghàng hóa, hậu phương của ta nên dự trữ thời kỳ này được tổ chức phân tán, giao chocác Bộ, Ngành trực tiếp quản lý
Trang 39Chuyển sang thời kỳ đất nước hòa bình thống nhất, DTNN chuyển sang thời
kỳ mới, thời kỳ phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc Giai đoạn từ sau khigiải phóng, thống nhất đất nước đến năm 1986, chúng ta gặp nhiều khó khăn Nước
ta phải gồng mình chống chọi sự phá hoại của các thế lực thù địch (chống lại sựphản động của Camphuchia ơ biên giới Tây Nam, Trung Quốc ở phía Bắc, sự baovây cấm vận của đế quốc Mỹ) Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, bảnthân chúng ta cũng mắc phải những sai lầm trong quản lý kinh tế, kéo dài thực hiện
cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp quá lâu, làm cho kinh tếkém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Hệ thống các nước XHCN
là những nước giúp đỡ Việt Nam không còn DTNN thời kỳ này vừa thực hiệnnhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, vừa sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chiến tranh bảo vệ
tổ quốc Lực lượng DTNN thời kỳ này mỏng, song lại được quản lý tập trung nhằmđáp ứng kịp thời phục vụ nhiệm vụ đảm bảo an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội
Giai đoạn từ sau đổi mới đến nay, đất nước ta chuyển sang thời kỳ mới.Nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sangkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nước ta đã tham gia hội nhập quốc
tế sâu rộng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên rõ rệt Nhiệm
vụ của DTNN thời kỳ này là phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mụctiêu của DTNN là bảo đảm chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòngchống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; an sinh xã hội, đảm bảoquốc phòng an ninh; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô vàthực hiện nhiệm vụ đột xuất, bức thiết khác của Nhà nước Với mục tiêu thời kỳmới, danh mục, cơ cấu hàng dự trữ quốc gia cũng thay đổi, phù hợp với tình hìnhmới, nhiều chính sách cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ đã được Nhà nước xây dựng nhằmđảm bảo an sinh xã hội, giảm chênh lệch giàu nghèo, nâng cao dân trí, củng cố lòngtin của nhân dân vào Đảng, vào Chính phủ xây dựng một đất nước phát triển bềnvững như chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng, hỗ trợ học sinh cóđiều kiện khó khăn, hỗ trợ nhân dân nhân dịp Tết nguyên đán,
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, giaolưu, tăng cường công tác hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau, Đảng và Nhà nước ta cũng có
Trang 40những chính sách hỗ trợ đến các nước lân cận như Cu Ba, Triều Tiên, Mông Cổ,…nhằm nâng cao tinh thần đoàn kết, gắn bó
Như vậy có thể thấy, DTNN ở Việt Nam gắn liền với mục tiêu và tình hìnhphát triển chính trị, kinh tế xã hội Tình hình chính trị, xã hội và mục tiêu phát triểnđất nước đã quy định sự hình thành và phát triển của DTNN, quyết định đến quy
mô, cơ cấu, danh mục hàng hóa và cách thức tổ chức quản lý DTNN
2.2.1.2 Dự trữ Nhà nước Việt Nam có quy mô nhỏ, danh mục dàn trải
Việt Nam là một nước đang phát triển, chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, nềnkinh tế mới dần đi lên trong 30 năm trở lại đây, do đó tiềm lực còn hạn chế, quy mô
dự trữ quốc gia còn nhỏ, hẹp Danh mục dự trữ nhiều nhưng mức dự trữ chưa cao.Khoảng 10 năm trở lại đây, dự trữ quốc gia đã trở thành một trong những công cụquản lý quan trọng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nước Dự trữ Nhà nước
đã được quan tâm, đầu tư, quy mô và danh mục hàng dự trữ nhà nước đã có sự điềuchỉnh Danh mục hàng dự trữ quốc gia hiện nay gồm nhiều mặt hàng, song tập trunglớn nhất dự trữ vào các mặt hàng như lương thực, vật tư thiết bị cứu hộ, cứu nạntuy nhiên do tiềm lực kinh tế của nước ta còn chưa mạnh nên lực lượng dự trữ cònyếu và thiếu so với nhu cầu bình ổn và phát triển xã hội
2.2.1.3 Cơ chế quản lý nhà nước dự trữ ở Việt Nam là kế hoạch hóa, tập trung cao độ, thống nhất dưới sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của Chính phủ
Hiện nay, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
dự trữ nhà nước là công cụ quan trọng không thể thiếu của Đảng và Nhà nước tarong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Dự trữ nhà nước là nguồn lực vật chấttích lũy để dành cho nên cần được cân đối hài hòa, hợp lý, vừa đảm bảo đủ nguồnlực đáp ứng kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa, bình ổn thị trường, vừađảm bảo khả năng tài chính của nền kinh tế
Kế hoạch hóa mọi hoạt động dự trữ nhà nước: Từ khi thành lập cho đến nay,hoạt động dự trữ được kế hoạch hóa cao độ Kế hoạch DTNN hàng năm được xâydựng trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và quyết định của Thủ tướng Chínhphủ Tại thời điểm hiện nay, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng các Bộ đểthống nhất xây dựng kế hoạch dự trữ chi tiết cho từng năm