Mặt khác, để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phảinâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín thương hiệu...nhằm hướng tới mục tiêu
Trang 1đề nghiên cứu là đúng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Quỳnh Trang
Trang 2hết, tôi xin chân thành.cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các giảng viên của KhoaSau đại học, Trường Đại học Thương mại, sự quan tâm và hướng dẫn nhiệt tình
của GS.TS Nguyễn Bách Khoa trong suốt thời gian triển khai đề tài luận văn.…
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Công ty Cổphần DIC số 4, tập thể cán bộ và người lao động đang làm việc tại Công ty Cổphần DIC số 4… đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, bạn bè, gia đình và đồngnghiệp đã động viên và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Quỳnh Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Kinh doanh, doanh nghiệp, doanh nghiệp xây dựng và đặc điểm kinh doanh của chúng 8
1.1.2 Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của chiến lược kinh doanh 12
1.1.3 Hiệu quả, hiệu năng, hiệu suất 16
1.1.4 Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp 17
1.2 Khái niệm, thực chất, yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và áp dụng cho doanh nghiệp xây dựng 18
1.2.1 Bản chất nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp theo tiếp cận quản trị chiến lược kinh doanh 18
1.2.2 Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả mục tiêu marketing kinh doanh của doanh nghiệp 23
1.2.3 Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp 25
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng 31
1.3.1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp xây dựng 31
1.3.2 Nhân tố môi trường kinh doanh 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DIC SỐ 4 40
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần DIC số 4 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của Công ty 41
Trang 42.2.1 Nâng cao hiệu quả kinh doanh thông qua các mục tiêu marketing của chiến lược kinh
doanh 46
2.2.2 Nâng cao hiệu quả kinh doanh thông qua các mục tiêu tài chính của chiến lược kinh doanh 50
2.3 Đánh giá chung về thực trạng 69
2.3.1 Đánh giá kết quả đạt được qua các tiêu chí 69
2.3.2 Những hạn chế cơ bản và nguyên nhân hạn chế từ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng 71
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DIC SỐ 4 GIAI ĐOẠN TỚI 75
3.1 Một số dự báo, định hướng về chiến lược kinh doanh và quan điểm, nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần DIC số 4 giai đoạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo 75
3.1.1 Một số dự báo thay đổi môi trường kinh doanh và thị trường của DIC số 4 đến năm 2020 và các năm tiếp theo 75
3.1.2 Định hướng phát triển chiến lược kinh doanh của DIC số 4 đến năm 2020 và các năm tiếp theo 76
3.1.3 Quan điểm và mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh của DIC số 4 giai đoạn tới 79
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4 giai đoạn tới 81
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả marketing kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4 81
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4.86 3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường nhân lực đảm bảo mục tiêu hiệu quả kinh doanh của Công ty 88
3.3 Một số kiến nghị vĩ mô tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và DIC số 4 nói riêng 91
3.3.1 Hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh của Nhà nước 91
3.3.2 Tăng cường lãnh đao, chỉ đạo và tạo điều kiện của Tổng công ty 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 5Bảng 2.2 Doanh thu của Công ty giai đoạn 2012 – 2016 46
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh và hoạt động tài chính của Công ty cổ phần DIC số 4 50
Bảng 2.4 Tỷ suất tài trợ của DIC số 4 (Đơn vị tính: %) 51
Bảng 2.5 Tỷ suất thanh toán hiện hành của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 52
Bảng 2.6 Tỷ suất thanh toán vốn lưu động của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 54
Bảng 2 7 Tỷ suất thanh toán tức thời của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 55
Bảng 2.8 Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 57
Bảng 2.9 Hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 59
Bảng 2.10 Kết quả kinh doanh giai đoạn 2012 – 2016 60
Bảng 2.11 Chi phí sản xuất kinh doanh 61
Bảng 2.12 Năng suất lao động của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 63
Bảng 2.13 Cơ cấu lao động năm 2016 của các Công ty 64
Bảng 2.14 Lợi nhuận bình quân của 1 lao động của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 65
Bảng 2.15 Hệ số ICOR của DIC số 4 qua các năm 66
Bảng 2.16 Doanh lợi của doanh thu bán hàng của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 67
Bảng 2.17 Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí 68
BIỂU Biểu 2.1 Thay đổi doanh thu của Công ty giai đoạn 2012 - 2016 47
Biểu 2.2 Cơ cấu doanh thu của Công ty năm 2016 47
Biểu 2.3 Sự thay đổi của tỷ suất tài trợ giai đoạn 2012 - 2016 51
Biểu 2.4 Sự thay đổi trong tỷ suất thanh toán hiện hành của Công ty 53
Biểu 2.5 Sự thay đổi của tỷ suất thanh toán vốn lưu động của Công ty 54
Biểu 2.6 Sự thay đổi về tỷ số thanh toán tức thời của Công ty 56
Biểu 2.7 Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ của Công ty 58
Biểu 2.8 Sự thay đổi hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty 59
Biểu 2.9 Sự thay đổi của lợi nhuận bình quân của Công ty 65
Biểu 2.10 Sự thay đổi của doanh lợi của doanh thu bán hàng của Công ty 67
Biểu 2.11 Sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận theo chi phí của Công ty 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn mới của quá trình hội nhập và toàncầu hóa với việc gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới (WTO), khối Aseanhoặc việc ký kết các hiệp định tự do thương mại với các nước phát triển và cácnền kinh tế mạnh trên thế giới, điều này đồng nghĩa với việc tạo ra cho chúng tanhiều cơ hội và thách thức mới Hơn lúc nào hết các doanh nghiệp Việt Namphải đổi mới để thích ứng với điều kiện mới Không ngừng nâng cao năng lựccạnh tranh của mình trong nước và quốc tế Việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơbản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cungcầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác thì các doanh nghiệp phải tự ra cácquyết định kinh doanh của mình
Mặt khác, để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phảinâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín thương hiệu nhằm hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đềđược quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, ngành xây dựng đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởngngành 2015 là 10,82%, mức cao nhất kể từ năm 2010 và ngày càng đóng góp lớnvào GDP chung của cả nước nên đây là ngành mũi nhọn của quốc gia và luônthu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực này Công ty Cổ phầnDIC số 4 được thành lập từ năm 1994 với tên gọi ban đầu là Xí nghiệp Kinhdoanh vật tư Xây dựng trực thuộc Công ty Đầu tư Phát triển - Xây dựng nay làTổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp), đến năm 2000đổi tên thành Xí nghiệp Xây dựng số 4 và đến tháng 12/2004 được Bộ xây dựngquyết định chuyển đổi thành Công ty Cổ phần DIC Số 4 (DIC-No4) Công tyhoạt động trong nhiều lĩnh vực và ngành nghề, trong đó chủ yếu là thi công xây
Trang 7lắp các công trình nhà cao tầng; đầu tư phát triển các dự án về khu công nghiệp,khu đô thị và sản xuất cửa nhựa lõi thép cao cấp, cửa thép chống cháy thươnghiệu Vinawindow
Với phương châm lấy chất lượng, tiến độ và an toàn vệ sinh lao động làmthước đo xây dựng thương hiệu, những năm qua, Công ty cổ phần DIC số 4 luôn
là nhà thầu uy tín, chuyên nghiệp, thường xuyên thắng thầu nhiều công trình xâydựng lớn trong cả nước và là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vựcnày Vì vậy, việc duy trì và phát huy thế mạnh của mình trong hiện tại và tương lai
là vấn đề rất cần thiết của Công ty Hơn nữa trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh
mẽ từ các tập đoàn nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực này cũng là một yếu
tố thúc đẩy cho Công ty Cổ phần DIC số 4 cần phải hoàn thiện và phát triển hơnnữa Để thực hiện được những điều trên, Công ty cần phải xác định các tiêuchuẩn, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình một cách trung thực, khoahọc, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp tối ưu nhất để nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa Công ty trong giai đoạn tới
Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả
kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh doanh tạiCông ty Cổ phần DIC số 4, tôi đã tìm đọc một số công trình nghiên cứu khoahọc về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
(1) Nguyễn Văn Tạo (2004), “Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam (Lấy ví dụ ở một số doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Dệt - May Việt Nam)”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học
Thương mại Tác giả luận án đã hệ thống hóa chi tiết và làm sáng tỏ các lý luậnliên quan đến hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Phântích và làm rõ từ thực tiễn nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệpdệt may Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra những thành công, hạn
Trang 8chế và nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất cácnhóm biện pháp hiệu quả nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp dệt may Việt Namnâng cao được hiệu quả kinh doanh của ḿnh.
(2) Nguyễn Thúy Hiền (2005), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
kinh doanh của Nhà máy vật liệu Bưu điện”, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh
doanh, Trường Đại học Thương mại Đề tài đã đi sâu nghiên cứu hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp thông qua các tiêu chí tài chính và lao động.Phân tích thực trạng tại Nhà máy vật liệu Bưu điện, phân tích các chỉ tiêu về
tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả vốn, hiệu quả sử dụng lao động… phân tích cácyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh của Nhà máyvật liệu Bưu điện Từ đó, tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm giúp Nhàmáy vật liệu Bưu điện nói riêng và các doanh nghiệp nói chung nâng caođược hiệu quả kinh doanh của mình
(3) Nguyễn Thành Công (2008), “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
dịch vụ Logistics của Công ty Cổ phần xếp dỡ Ninh Bình”, Luận văn Thạc sĩ
Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Thương mại Luận văn đã trình bày một số
lý luận về logistics và hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics Phân tích thực trạnghiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần xếp dỡ Ninh Bình, chỉ
ra được những thành công, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại Qua đó, đềxuất nhóm 05 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ logisticscủa Công ty trong thời gian tới
(4) Nguyễn Quỳnh Giao (2011), “Hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp sách ấn phẩm trên địa bàn Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh
doanh, Trường Đại học Thương mại Tác giả Nguyễn Quỳnh Giao đã đi sâuphân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sách ấn phẩm trên địa bàn
Hà Nội thông qua các chỉ tiêu doanh thu thuần và mạng lưới phân phối của cácdoanh nghiệp Đề tài cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp sách ấn phẩm, từ đó tìm ra được những thành công,
Trang 9hạn chế của hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này
(5) Nguyễn Thanh Hải (2011), “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận
án Tiến sĩ, Trường Đại học Thương mại Luận án đã hệ thống hóa chi tiết các lýluận và kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thươngmại Luận án đã giới thiệu, phân tích những đặc điểm riêng biệt của các doanhnghiệp thương mại bán lẻ trên địa bàn Hà Nội, phân tích thực trạng nâng caohiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này trong thời gian qua Đề tài đãnghiên cứu thực trạng thông qua phân tích các dữ liệu sơ cấp thu thập được nênkết quả nghiên cứu có sự đánh giá khách quan những thành công, hạn chế củacông tác nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻhiện đại trên địa bàn Hà Nội Từ đó, luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp vàkiến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp này nâng cao được hiệu quả kinh doanhtrong thời gian tới
(6) Đào Văn Anh (2008), “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty
Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận
về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường; Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Khoáng sản
và Thương mại Hà Tĩnh, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Tổng công
ty từ năm 2005 đến năm 2007 Nhận diện được những hạn chế, tồn tại trong thờigian qua và những thách thức trong thời gian tới từ đó làm rõ tính cấp thiết phảinâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty; Đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Khoáng sản
và Thương mại Hà Tĩnh trên cơ sở những phân tích, đánh giá về hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trong thời gian qua và những dự báo
về sự tác động của môi trường kinh doanh trong điều kiện mới
Trang 10(7) Cao Thị Minh Phương (2014), “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công
ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh,
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Trongnền kinh tế thị trường các doanh nghiệp bắt buộc phải tự thích nghi với khả năng
tự cạnh tranh cũng như nâng cao khả năng kinh doanh của doanh nghiệp mình đểtồn tại Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG là một trong mười doanhnghiệp dệt may có uy tín tại Việt Nam với các thế mạnh là các sản phẩm giacông xuất khẩu may mặc Đây cũng là mục tiêu chiến lược của Công ty vì nótiếp tục mang sự ổn định và lợi nhuận cho TNG trong nhiều năm tới Để đạtđược mục tiêu này, một trong những bài toán quan trọng mà Công ty phải tìm lờigiải đó là vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranhcủa công ty
Ngoài ra, đề tài còn tham khảo các tài liệu:
(8) PGS.TS Nguyễn Văn Công (2015), “Giáo trình Phân tích kinh doanh”,
Nhà xuất bản Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
(9) PGS.TS Nguyễn Hoàng Long (2015), “Giáo trình Quản trị chiến
lược”, Trường Đại học Thương mại, Nhà xuất bản Thống kê.
(10) Lê Thành Trung (2013), “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên”, Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại họcThái nguyên
Tóm lại, những nghiên cứu trên đã tạo nền tảng về phương pháp nghiên cứu
cho đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4”.
Những nội dung về nâng cao hiệu quả kinh doanh tiếp tục phải được triển khainghiên cứu Chính vì thế, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp đồng bộ đểnâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4 là đòi hỏi cấp thiết,thể hiện tính mới và không trùng với các công trình đã công bố trước đó
Trang 113 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giáthực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần DIC số 4, luận văn
đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty
Cổ phần DIC số 4 trong thời gian tới
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra bao gồm:(i) Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả kinhdoanh trong doanh nghiệp
(ii) Phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty
Cổ phần DIC số 4
(iii) Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa Công ty Cổ phần DIC số 4 trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanhtại Công ty Cổ phần DIC số 4
Phạm vi nghiên cứu:
(i) Về không gian: nghiên cứu thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh tạiCông ty Cổ phần DIC số 4 trực thuộc Tổng Công ty Đầu tư Phát triển Xây dựng(DIC GROUP) tại Việt Nam
(ii) Về thời gian: các nghiên cứu thực tế giới hạn chủ yếu trong thời gian
2013 - 2016
(iii) Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh doanhtại Công ty Cổ phần DIC số 4 thông qua các chỉ tiêu: Hiệu quả kinh doanh thôngqua muc tiêu marketing; hiệu quả kinh doanh thông qua hiệu quả nguồn lực củadoanh nghiệp và hiệu quả thông qua các yếu tố tổng hợp
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Với góc độ nghiên cứu của đề tài là nâng cao hiệu quả kinh doanh trongdoanh nghiệp dựa trên tiếp cận quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp, đề tài
sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để nhìn nhận và phân tích các sự việchiện tượng trong quá trình vận động tất yếu của hoạt động kinh doanh trongdoanh nghiệp
Trên cơ sở phương pháp luận trên, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể như sau: Về phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng là phương pháp thu
thập dữ liệu thứ cấp (qua các kết quả điều tra, các báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, các hợp đồng trúng thầu, các số liệu về tài chính, nguồn nhân lực,…của Công ty
Về phương pháp xử lý dữ liệu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổnghợp, so sánh trong đó có sử dụng phần mềm thống kê để phân tích dữ liệu điều tra
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được kếtcấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh doanh trong
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Kinh doanh, doanh nghiệp, doanh nghiệp xây dựng và đặc điểm kinh doanh của chúng
a) Kinh doanh
Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào thì đều phải sử dụng tập hợpcác phương tiện, con người, nguồn vốn… và đưa các nguồn lực này vào hoạtđộng để sinh lời cho doanh nghiệp Nhưng chúng đều có đặc điểm chung là gắnliền với sự vận động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ cần vốn
mà cần cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng,
để đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm Mặt khác chủ thể kinhdoanh phải có được doanh thu để bù đắp chi phí và có lợi nhuận
Theo Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2015 thì “Kinh doanh là việc thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo Mai Văn Bưu, Phan Kim Chiến trong cuốn giáo trình “Lý thuyết quản
trị kinh doanh” thì: “Kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh
lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”.
b) Doanh nghiệp
Hiện nay, có nhiều khái niệm thế nào là một doanh nghiệp, mỗi khái niệmđều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định
Theo điều, Luật Doanh nghiệp 2015 thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Trang 14Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản
xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do các nhân viêncủa công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa haydịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thànhcủa sản phẩm làm ra
Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản
xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thànhcông, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừngsản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được
Xét theo quan điểm hệ thống: doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ
phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộphận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại,
tổ chức, nhân sự
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về khái niệm doanh nghiệp
như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các
phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
c) Doanh nghiệp xây dựng
(1) Doanh nghiệp xây dựng
Từ khái niệm doanh nghiệp, đề tài đưa ra khái niệm doanh nghiệp như sau:Doanh nghiệp xây dựng là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân kinh doanhcác sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài) trên thịtrường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận
(2) Vị trí của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân.
Các doanh nghiệp xây dựng cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội.Khi nền kinh tế chưa phát triển, các doanh nghiệp xây dựng với số lượng lao
Trang 15động ít, trình độ thấp, trang thiết bị kỹ thuật thô sơ, chủ yếu xây dựng thủ công.Ngày nay với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết bịmáy móc hiện đại, sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng cácthành tựu khoa học vào xây dựng các công trình
Xuất phát từ thực tế, do vậy hầu như các doanh nghiệp xây dựng hiện nay
đủ sức đảm nhận thi công những công trình có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạptrong và ngoài nước Về mặt tổ chức quản lý sản xuất, các doanh nghiệp xâydựng ngày càng thay đổi để phù hợp với nhu cầu của xã hội Từ những doanhnghiệp nhỏ, phân tán, hoạt động trong phạm vi hẹp, hiệu quả sản xuất kinhdoanh thấp, đến nay đã hình thành những Tổng công ty, các Tập đoàn xây dựng
có tính toàn quốc và xuyên quốc gia Sự phát triển của các loại hình doanhnghiệp xây dựng phụ thuộc vào từng quốc gia, ở các nước có nền kinh tế pháttriển như Mỹ, Anh, Pháp… chủ yếu là các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏphát triển Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này tương đối gay gắt dẫn tới có
sự chuyên môn hoá theo ngành xây dựng Công nghệ xây dựng thế giới hiện naythường tập trung vào xây dựng nhà cao tầng, xây dựng đường hầm và ngoài biểnvới các khoản chi phí đầu tư nghiên cứu tương đối lớn ở các nước đã và đang
phát triển Ngành xây dựng ở bất kỳ một quốc gia nào cũng giữ một vai trò quan
trọng trong việc nộp thuế cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy sự tăng trưởng củanền kinh tế Đặc biệt ở các nước có nền kinh tế đang phát triển thì ngành xâydựng góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt nạnthất nghiệp Mặt khác vốn đầu tư cho ngành xây dựng thường chiếm tỷ trọng caotrong tổng ngân sách của mỗi quốc gia, do đó việc tiết kiệm, quản lý tốt các khâutrong xây dựng có ý nghĩa quan trọng đối với ngân sách Nhà nước
Đối với Việt Nam, Nhà nước ta thường quan tâm tới ngành xây dựng, coiđây là một ngành công nghiệp đặc biệt, khi ngành xây dựng phát triển là tiền đề đểcác ngành công nghiệp khác phát triển theo Chính vì thế vốn đầu tư của ngânsách Nhà nước cấp cho ngành xây dựng ngày càng tăng để xây dựng cơ sở hạ tầngkiến trúc
Trang 16Trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay, với xu thế hội nhập vàphát triển, nước ta đang thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn từ phía nước ngoài.Các dự án đầu tư đó ở nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế: Dự án giaothông, điện, nước, nông nghiệp, y tế, giáo dục… Tất cả các dự án này đều có sựtham gia của các doanh nghiệp xây dựng Điều đó càng khẳng định vị trí, vai tròcủa doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân, nó là chỗ dựa vững chắccho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia.
d) Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng
Thứ nhất, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng là
một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt hàng Sản phẩm xây dựngmang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ Sản phẩm xây dựng mang tính chất đơnchiếc, đối với sản phẩm xây dựng thường được sản xuất theo đơn đặt hàng thôngqua hợp đồng kinh tế giữa người mua và người bán đó là những công trình kiếntrúc Trong khi sản phẩm của những ngành khác thường sản xuất hàng loạt,trong điều kiện ổn định Sản phẩm xây dựng được phân bố ở khắp mọi nơi tuỳtheo địa điểm yêu cầu của người mua do vậy dẫn tới các chi phí cũng khác nhaucho cùng một loại sản phẩm
Thứ hai, đối tượng của xây dựng thường có khối lượng lớn, giá trị lớn, thời
gian thi công tương đối dài Sản phẩm xây dựng thường có giá trị lớn, tốn nhiềuchi phí Chi phí đầu tư cho một công trình thường dải ra trong một thời gian dài,
có thể do nhiều nguồn vốn hình thành Sản phẩm tuy đơn chiếc nhưng do nhiềuhạng mục công trình hợp thành do vậy có thể do nhiều bộ phận tiến hành, do đócông tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng khác biệtvới các ngành khác
Thứ ba, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng thường
diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các yếu tố môi trường trực tiếp, dovậy thi công xây dựng mang tính thời vụ Sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởngcủa các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường… của nơi tiêu thụ Sản
Trang 17phẩm xây dựng bao giờ cũng gắn với địa điểm của một địa phương nhất định dovậy phải lựa chọn công trình phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, phong tục tậpquán, môi trường Đặc điểm này chi phối tới các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp xây dựng như là khảo sát, thiết kế, thi công.
Thứ tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng được
thực hiện trên các địa điểm biến động Sản phẩm xây dựng mang tính chất cốđịnh, gắn liền với địa điểm xây dựng, khi hoàn thành không nhập kho như cácngành vật chất khác
Thứ năm, sản phẩm xây dựng thường kéo dài thời gian sản xuất, yêu cầu kỹ
thuật và mỹ thuật cao Thời gian sử dụng sản phẩm xây dựng thường kéo dài,nhiều công tŕnh kiến trúc có thể tới hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa Xuất phát
từ mục đích của công trình xây dựng không những chỉ phục vụ cho mục đíchhiện tại mà còn phục vụ cho tương lai Do vậy khi tiến hành sản xuất sản phẩmxây dựng chất lượng được coi là hàng đầu
Mặt khác sản phẩm xây dựng cần phải có tính thẩm mỹ cao, bởi vì sảnphẩm xây dựng là những ngôi nhà, khách sạn, sân bay… càng cần vẻ đẹp bềngoài để gây sự chú ý, thu hút lòng người Tính thẩm mỹ của các công trình còn
là cơ sở quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật,phong tục tập quán của một quốc gia
1.1.2 Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của chiến lược kinh doanh
a) Chiến lược
Chiến lược xuất phát từ “strategos” - gốc Hy Lạp, là một thuật ngữ quân
sự được C Clausewitz(1998) mô tả là “dùng để lập kế hoạch chiến tranh và
hoạch định các chiến dịch tác chiến” nhằm dàn trận và phân bố lực lượng với
mục tiêu đánh thắng kẻ thù Chiến lược ngày nay được áp dụng trong kinh doanhvới ý nghĩa tương tự như trong quân đội khi K Andrews (1987) cho rằng
“Chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa”.
Trang 18G Hissh cho rằng “Chiến lược là nghệ thuật phối hợp các hành động và
điều khiển chúng nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn”
Theo Alain Charlec Martinet thì “Chiến lược của doanh nghiệp là nhằm
phác hoạ những quĩ đạo tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, chung quanh quĩ đạo đó có thể sắp xếp những quyết định và những hành động chính xác của doanh nghiệp”
Với các cách tiếp cận như trên, có thể rút ra khái niệm “Chiến lược là tập
hợp những quyết định quản trị và hành động hướng tới việc hoàn thành mục tiêu dài hạn thông qua việc đảm bảo thích nghi với môi trường thường xuyên thay đổi của tổ chức, và được thể hiện thông qua 3 giai đoạn là hoạch định, thực thi
và kiểm tra, đánh giá”.
b) Chiến lược kinh doanh
Có nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về chiến lược kinh doanhtùy theo giai đoạn phát triển, bối cảnh và tình thế ngành kinh doanh cụ thể Tuy
nhiên có thể khái quát về chiến lược kinh doanh như Nguyễn Bách Khoa: “Chiến
lược kinh doanh còn được gọi là chiến lược cạnh tranh hay đơn giản là chiến lược định vị, được hiểu là một cấu trúc các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập định vị chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của một công ty”.
Nguyên lý của quản trị chiến lược đã chỉ ra, chiến lược kinh doanh là loạihình chiến lược ở cấp độ các đơn vị kinh doanh để triển khai chiến lược cấpdoanh nghiệp (tập đoàn, tổng công ty, công ty) và tạo khuôn khổ cho các chiếnlược cấp chức năng hoặc tác nghiệp Vì vậy, chiến lược kinh doanh có vị thế làhạt nhân và động lực của quản trị chiến lược doanh nghiệp Về nội hàm, chiếnlược kinh doanh có liên quan một cách căn bản đến cách thức, con đường màmột đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) cạnh tranh được trong ngành kinhdoanh của nó Điểm nhấn mạnh chính của chiến lược kinh doanh là phát triểncác chiến lược có quan hệ với định vị thị trường và thiết lập các lợi thế cạnhtranh bền vững cho SBU đó
Trang 19Chiến lược kinh doanh bao gồm cấu trúc các quyết định về không gian thịtrường mục tiêu, lựa chọn cường độ đầu tư và quy hoạch nguồn lực cho cácSBU; các định hướng chiến lược chức năng (sản xuất, thương mại, hạ tầng côngnghệ, tài chính, hệ thống thông tin, R&D, tổ chức và nhân lực, hội nhập quốc tế),các tài sản, khả năng và năng lực cộng sinh được huy động để tạo lập lợi thếcạnh tranh bền vững Trong tập đoàn kinh doanh, mỗi doanh nghiệp thành viênthuộc tập đoàn chính là các SBU Do đó, chiến lược kinh doanh của tập đoànchính là chiến lược của các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn, bao gồmcác quyết định về không gian thị trường mục tiêu, lựa chọn cường độ đầu tư vàquy hoạch nguồn lực cho từng doanh nghiệp thành viên; các định hướng chiếnlược chức năng… để tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững cho từng doanh nghiệpthành viên của tập đoàn.
Về mục tiêu, chiến lược kinh doanh của tập đoàn là bậc quản trị chiến lượctiếp theo để triển khai chiến lược tập đoàn và có tiêu điểm ở tăng cường vị thếcạnh tranh bền vững trong dài hạn của các sản phẩm/dịch vụ chủ chốt của doanhnghiệp thành viên trên một thị trường mục tiêu xác định của doanh nghiệp đó Vìvậy, chiến lược kinh doanh của tập đoàn có tính cạnh tranh (đua tranh với các đốithủ cạnh tranh về một lợi thế nào đó trong cung ứng các giá trị, chi phí thấp haykhác biệt hóa) hoặc có tính hợp tác (liên kết, liên minh với một hoặc một vài đốitác để dành được một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh khác) hoặc đồng thời cảhai (cạnh tranh và hợp tác) Chiến lược kinh doanh của tập đoàn luôn luôn đặt vấn
đề công ty hoặc các SBU của nó (các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn) phảicạnh tranh hoặc hợp tác ra sao trong một ngành kinh doanh cụ thể
Về loại hình, chiến lược kinh doanh trong tập đoàn kinh doanh có thể baogồm các chiến lược tích hợp về phía trước và phía sau, đa dạng hóa, thu hoạchnhanh, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm sản lượng, tiết chếđầu tư, rút khỏi thị trường, cổ phần hóa (CPH), M&A, các doanh nghiệp thànhviên thuộc tập đoàn
Trang 20Từ các quan niệm khác nhau về chiến lược, chúng ta có thể rút ra được mộtkhái niệm chung nhất về chiến lược như sau:
c) Đặc điểm của chiến lược kinh doanh
Thứ nhất, chiến lược kinh doanh là các chiến lược tổng thể của doanh
nghiệp xác định các mục tiêu và phương hướng kinh doanh trong thời kỳ tươngđối dài (5;10 năm ) và được quán triệt một cách đầy đủ trong tất cả các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệpphát triển bền vững
Thứ hai, chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo các phương hướng dài hạn,
có tính định hướng, còn trong thực hành kinh doanh phải thực hiện việc kết hợpgiữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế, kết hợp giữa chiến lược và chiếnthuật, giữa ngắn hạn và dài hạn Từ đó mới đảm bảo được hiệu quả kinh doanh
và khắc phục được các sai lệch do chiến lược gây ra
Thứ ba, mọi quyết định quan trọng trong quá trình xây dựng, quyết định, tổ
chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược đều phải tập trungvào người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp Điều này đảm bảo cho tínhchuẩn xác của các quyết định dài hạn, cho sự bí mật về thông tin
Thứ tư, chiến lược kinh doanh luôn được xây dựng dựa trên cơ sở các
lợi thế so sánh Điều này đòi hỏi trong quá trình xây dựng chiến lược, doanhnghiệp phải đánh giá đúng thực trạng sản xuất kinh doanh của mình để tìm
ra các điểm mạnh, điểm yếu và thường xuyên rà soát lại các yếu tố nội tạikhi thực thi chiến lược
Thứ năm, chiến lược kinh doanh trước hết và chủ yếu được xây dựng cho
các ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hoá, truyềnthống thế mạnh của doanh nghiệp Điều này đặt doanh nghiệp vào thế phải xâydựng, phải lựa chọn và thực thi chiến lược cũng như tham gia kinh doanh trênnhững thương trường đã có chuẩn bị và có thế mạnh
Trang 21d) Mục tiêu của chiến lược kinh doanh
Mục tiêu của chiến lược kinh doanh thường gắn liền với mục tiêu chiếnlược của doanh nghiệp Mục tiêu của chiến lược kinh doanh là kết quả cụ thể củadoanh nghiệp cần đạt được khi thực hiện chiến lược kinh doanh Thông thườngcác doanh nghiệp chia mục tiêu này thành hai loại: mục tiêu dài hạn và mục tiêungắn hạn
1.1.3 Hiệu quả, hiệu năng, hiệu suất
a) Hiệu quả
Hiệu quả được xác định như là một khái niệm đo lường về sự thích hợp củacác mục tiêu được chọn (đó có phải là những mục tiêu đúng không?) và mức độchúng được thực hiện Hiệu quả quản trị trước hết cần hiểu chính là làm đúng việc.Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi vì làm đúng việc (xác định và thực hiện việcđúng) sẽ đưa tổ chức đi đúng hướng Hay nói cách khác, các tổ chức sẽ đạt đượchiệu quả hơn khi các nhà quản trị chọn được mục tiêu đúng và hoàn thành chúng
b) Hiệu năng
Hiệu năng được xác định như là một khái niệm định hướng đến cái cuốicùng đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu, mục đích đã được định trước chomột hoạt động, một chương trình đã được thực hiện (đạt được kết quả thỏa đáng
từ việc sử dụng các nguồn lực, các hoạt động của tổ chức)
án, cân nhắc kỹ để chọn được cách giải quyết đạt được kết quả cao mà phí tổn làthấp nhất
Trang 221.1.4 Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay để thực hiệntốt chế độ hoạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt độngsản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, là cơ sở để thị trường tồn tại và pháttriển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranhgay gắt Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế các doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh phải có hiệu quả Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng cácyếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo một mục đíchnhất định
Nhà kinh tế học người Anh Adam Smith cho rằng “Hiệu quả kinh tế là kết
quả trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” Nhà kinh tế học
người Pháp Ogiephri cũng có quan điểm như vậy Ở đây hiệu quả được đồngnhất với chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh Rõ ràng quan điểm này khó giảithích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở rộng sử dụng cácnguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi phí khác nhau thìtheo quan điểm này chúng đều có hiệu quả
“Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh giữa phần tăng thêm của chi phí”.
Quan điểm này biểu hiện quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí đểđạt được kết quả đó Quan điểm này có ưu điểm là bám sát được mục tiêu củanền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinhthần cho người dân Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện
tư tưởng định hướng đó [16]
Hiệu quả kinh tế được đo bằng kết quả hiệu số giữa kết quả đạt được và chiphí bỏ ra để có được kết quả đó
Qua nghiên cứu các quan điểm về hiệu quả kinh doanh, tác giả để tài thống
nhất và cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố sản xuất và các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu với kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất [16].
Trang 231.2 Khái niệm, thực chất, yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và áp dụng cho doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Bản chất nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp theo tiếp cận quản trị chiến lược kinh doanh
a) Bản chất nâng cao hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu quan trọng nhất của mọi sự lựa chọn chocác doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý nhà nước Bất kỳhoạt động nào của mọi tổ chức đều mong muốn đạt được hiệu quả cao nhất trêncác phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Hoạt động kinh doanhtrong cơ chế thị trường yêu cầu đạt hiệu quả càng đòi hỏi cấp bách Vì nó làđộng lực thúc đẩy doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển Hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp chủ yếu xét trên phương diện kinh tế có quan hệ với hiệu quả
xã hội và môi trường
Theo giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh của Đại học kinh tế Quốcdân cho rằng tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà doanh nghiệp hướngđến, dó đó khi nghiên cứu hiệu quả kinh doanh chúng ta cũng thấy vai trò quantrọng của trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp Việc hình thành và thựchiện hiệu quả của hoạt động quản lý thường diễn ra trong một thời gian dài Hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp phải thể hiện cả về mặt định tính và địnhlượng Để hiểu rõ bản chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần phân biệtranh giới phạm trù kết quả và hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh của việc thực hiện mỗi quyết định thường gắn với cácyếu tố xã hội được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí
bỏ ra Nếu xét về định lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kếtquả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao Song khiđánh giá về mặt định tính cần phải xem xét nó với các yếu tố chính trị, xã hộinhư; nạn thất nghiệp, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị, an ninh, an toàn Vậy hiệu quả kinh doanh cũng thực sự đòi hỏi cần sự nỗ lực của các cấp quản trịtrong quá trình giải quyết những yêu cầu thực tiễn
Trang 24Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả kinh doanh có quan
hệ chặt chẽ với nhau Trong những biểu hiện về mặt định lượng phải nhằm đạtđược những mục tiêu kinh tế nhất định Trong những biểu hiện về mặt định tínhphải đạt được những mục tiêu xã hội, chính trị, an ninh Do vậy xem xét hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp theo các nhân tố định lượng và định tính theoquan điểm này tương đối toàn diện
Từ khái niệm chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy khi
thiết lập mối quan hệ giữa “đầu vào (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu, tiền vốn…)” và “đầu ra (sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội doanh nghiệp phải tiêu thụ được và thu tiền về.)” sẽ có một dãy các hệ thống giá trị
khác nhau phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích, đánhgiá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xem xét một cách tổng thể cả
về mặt không gian, thời gian, trong mối quan hệ chung của toàn bộ nền kinh tếquốc dân, hiệu quả xã hội trách nhiệm bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyêncủa đất nước
Bản chất của nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nâng cao hiệu quả củalao động xã hội, nó phản ánh mặt chất của hoạt động kinh doanh đó là trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh để đạt được mụctiêu tối đa hóa lợi nhuận Song nó cũng là thước đo trình độ tiết kiệm các yếu tốđầu vào, nguồn nhân lực xã hội Tiêu chuẩn hóa hiệu quả đặt ra là tối đa hóa kếtquả hoặc tối thiểu hóa chi phí dựa trên nguồn lực sẵn có
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là việc doanh nghiệp thực hiện các biệnpháp hữu hiệu giúp quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn rathông suốt phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất và các nguồn lực củadoanh nghiệp để đạt được các mục tiêu với kết quả cao nhất trong điều kiện chiphí thấp nhất
Trong phạm vi luận văn, đề tài nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh doanhthông qua hiệu quả các mục tiêu marketing nhằm đánh giá thị trường, thị phần
Trang 25và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; thông qua hiệu quả sử dụng nguồn lực
để đánh giá hiệu quả đầu vào và đầu ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
b) Vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
Vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm nguồn lực lao động xã hội.Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế Chính việckhan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãnnhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt
để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanhnghiệp xây dựng buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực,hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quảtối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phínhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ởđây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụngnguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là giá trị củaviệc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinhdoanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này Chi phí cơ hội phải được bổsung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh
tế thật sự Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọnphương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả cao hơn
c) Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biếtviệc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm
ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kếtquả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả Với tư cách là một
Trang 26công cụ đánh giá và phân tắch kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sửdụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vàotrong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụngtừng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp.
Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh còn là sự biểu hiện của việclựa chọn phương án sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp phải tự lựa chọn phương
án sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với trình độ của doanh nghiệp Đểđạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải sử dụng tối ưunguồn lực sẵn có Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó bằng cách nào để có hiệuquả nhất lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn cách giải Chắnh vìvậy, ta có thể nói rằng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh không chỉ là công cụhữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình mà còn
là thước đo trình độ của nhà quản trị
Ngoài những chức năng trên của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nócòn là vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác địnhbởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại lànhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại đó, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp làluôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc Do vậy, việc nâng cao hiệu quảkinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệphoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay Do yêu cầu của sự tồn tại và pháttriển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp phải khôngngừng tăng lên Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũngnhư các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhấtđịnh thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinhdoanh Như vậy, hiệu quả kinh doanh là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 27Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo rahàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội, đồngthời tạo ra sự tích lũy cho xã hội Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanhnghiệp đều phải vươn lên và đứng vững để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí
bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh Có như vậy mới đáp ứngđược nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế Như vậy chúng ta buộc phải nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trìnhhoạt động kinh doanh như là một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ
là yêu cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanhnghiệp mới là yêu cầu quan trọng Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn luônphải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tíchlũy đảm bảo cho quá trình sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanhnghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơchế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Song khi thị trường ngày càng pháttriển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn
Sự cạnh tranh lúc này không còn là sự cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh vềmặt chất lượng, giá cả mà còn phải cạnh tranh nhiều yếu tố khác nữa mục tiêucủa doanh nghiệp là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệpmạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể làm cho doanh nghiệp không tồn tại đượctrên thị trường Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanhnghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Do đó doanh nghiệpcần phải có hàng hóa, dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý Mặt khác hiệu quảlao động là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa, chấtlượng, mẫu mã không ngừng được cải thiện nâng cao
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố cơ bản tạo ra
sự thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị
Trang 28trường Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phảikhông ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình Chính sự nâng cao hiệuquả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, pháttriển của mỗi doanh nghiệp.
1.2.2 Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả mục tiêu marketing kinh doanh của doanh nghiệp
a) Hiệu quả doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽthu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm,hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu vàphí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng vàcung cấp dịch vụ còn lại sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu
b) Hiệu quả thị phần và thị phần khách hàng
Thị phần của doanh nghiệp là phần thị trường doanh nghiệp đã chiếm lĩnhđược Thực chất nó là phần phân chia thị trường của doanh nghiệp đối với cácđối thủ cạnh tranh trong ngành Người ta phân thành :
- Phần phân chia thị trường tuyệt đối bằng tỷ lệ phần trăm doanh thu từ sảnphẩm của doanh nghiệp so với doanh thu của sản phẩm cùng loại của tất cả cácdoanh nghiệp bán trên thị trường
Cách tính thị phần
+Cách 1: (Thước đo hiện vật)
Thị phần của doanh nghiệp = Qhv
Q
Trong đó: Qhv: Là khối lượng hàng hoá bằng hiện vật tiêu thụ được.Q: Là tổng khối lượng sản phẩm cùng loại tiêu thụ trên thị trường
Trang 29+ Cách 2: (Thước đo giá trị)
Thị phần của doanh nghiệp = TRhv
TR
TR: Doanh thu của toàn ngành hiện có trên thị trường
- Phần phân chia thị trường tương đối là tỉ lệ giữa phần phân chia thị trườngtuyệt đối của doanh nghiệp so với phần phân chia thị trường tuyệt đối của đối thủcạnh tranh mạnh nhất trong ngành
c) Hiệu quả an toàn
Kinh doanh bao giờ cũng chứa đựng mạo hiểm Bởi vì người ta phải bỏ ramột lượng vốn rất lớn, sau một thời gian nào đó mới có thể thu lại được Sự thulại đó thì phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố mà doanh nghiệp khó có thể kiểmsoát nổi Do vậy, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp phải dự kiến đượckhả năng an toàn của các phương án kinh doanh
Tuy nhiên trong kinh doanh cũng phải biết mạo hiểm, dám đầu tư vào nhữngsản phẩm, những lĩnh vực độc đáo như tham gia vào thị trường chứng khoán, muachứng khoán Khi đó để đảm bảo an toàn, chống lại nguy cơ bị phụ thuộc hoàntoàn vào một thị trường, một sản phẩm thì doanh nghiệp phải thực hiện chính sách
đa dạng hoá sản phẩm, tìm tòi sản phẩm mới, thị trường mới để phục vụ cho cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
d) Hiệu quả năng lực cạnh tranh maketing
Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo
Trang 30bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệptrong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”.
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm “Thị trường, chiến lược, cơcấu” thì năng lực cạnh tranh là việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh củadoanh nghiệp
Tóm lại, một khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp nhấttrong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao lực lượng cạnhtranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sửdụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.Quan trọng là, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tínhtổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanhnghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp
Năng lực marketing thể hiện ở khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khảnăng thực hiện năng lực 4P (Product, Place, Prize, Promotion) trong hoạt độngmarketing, năng lực của nguồn nhân lực marketing Nó giúp khách hàng tiếpcận sản phẩm của doanh nghiệp, tác động tới khả năng tiêu thụ sản phẩm nhằmthỏa mãn nhu cầu khách hàng, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, tăng thịphần của doanh nghiệp và tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trongnước và quốc tế
1.2.3 Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp
a) Hiệu quả thanh khoản
Đánh giá khả năng thanh toán sẽ cung cấp cho chúng ta một cách khái quátnhững thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ là khả quanhay không khả quan
Trước hết cần tiến hành so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn giữacuối kỳ và đầu kỳ Bằng cách này cho thấy quy mô hoạt động vốn của doanhnghiệp Tổng cộng của tài sản và nguồn vốn tăng, giảm do nhiều nguyên nhân
Trang 31chưa biểu hiện cụ thể đầy đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp Vì vậy, cần đivào xem xét cụ thể mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán.Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự đảm bảo về mặt tàichính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho ta thấy khái quát tình hình tàichính doanh nghiệp Vì vậy ta cần tính ra và so sánh chỉ tiêu:
Tỷ suất tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốnChỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanhnghiệp bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng sốvốn của mình
Bên cạnh đó tình hình tài chính của doanh nghiệp lại được thể hiện rõ quakhả năng thanh toán Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán thì tình hìnhtài chính của doanh nghiệp khả quan và ngược lại Do vậy khi đánh giá khái quáttình hình tài chính của doanh nghiệp không thể không xem xét khả năng thanhtoán đặc biệt là khả năng thanh toán ngắn hạn
Để đo khả năng thanh toán ngắn hạn, khi xem xét cần so sánh các chỉtiêu sau:
Tỷ suất thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động
Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho ta thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanhtoán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là caohay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp là bìnhthường hay khả quan
Tỷ suất thanh toán của vốn lưu động = Tổng vốn bằng tiền
Tổng tài sản lưu động
Tỷ số này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu độngthực tế cho thấy nếu chỉ tiêu này được tính ra mà lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1đều không tốt nó gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để thanh toán
Trang 32Tỷ suất thanh toán tức thời (Tỷ suất thanh toán tiền mặt) = Tổng số tiền mặt
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này trong thực tế cho thấy nếu lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toáncủa doanh nghiệp tương đối khả quan còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thểgặp khó khăn trong công việc thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấphàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không có tiền để thanh toán Tuy nhiên tỷ suấtnày quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòngquay của tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
b) Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn là sự so sánh giữa chí phí sử dụng vốn và những lợiích mà đồng vốn đó mang lại cho doanh nghiệp Thông qua sự so sánh như vậy
có thể thấy được ta sẽ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó
là cao hay thấp, tốt hay xấu…
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
(1) Chỉ tiêu vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ
Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ = Doanh thu thuần trong kỳ
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được baonhiêu vòng Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanhnghiệp đã đầu tư Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao
(2) Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần trong kỳ
(3) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Sức sản xuất của vốn lưu động = Doanh thu trong kỳ
Trang 33Vốn lưu động bình quân trong kỳChỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu trong kỳ Nếu chỉ tiêu này qua các kỳ tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụngđồng vốn lưu động tăng.
Sức sinh lợi của vốn lưu động = Lợi nhuận trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳVòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấyvòng Qua đó cho biết một đồng lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại baonhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với hiệu quả sử dụng vốn lưu động
c) Hiệu quả lợi nhuận kinh doanh
Lợi nhuận của doanh nghiệp là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập(income) và chi phí (expenses) mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từcác hoạt động của doanh nghiệp đưa lại
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí tạo ra doanh thu
Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mỗi doanh nghiệp
d) Hiệu quả năng suất lao động và lao động kinh doanh
Hiệu quả sử dụng lao động là kết quả mang lại từ mô hình, chính sách quản
lý và sử dụng lao động Kết quả lao động đạt được là doanh thu, lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh và việc tổ chức, quản lý laođộng có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng lao động còn bao hàm thêm khả năng sử dụng lao độngđúng ngành, đúng nghề, đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho người lao động,
là mức độ chấp hành nghiêm chỉnh luật lao động, khả năng sáng kiến cải tiến kỹthuật ở mỗi lao động, đó là khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
(1) Thời gian sử dụng lao động
Thời gian sử dụng lao động = Tổng thời gian lao động thực tế
Trang 34Tổng thời gian lao động kế hoạchChỉ tiêu này cho biết trình độ sử dụng lao động của doanh nghiệp, số doanhnghiệp đã được sử dụng hết chưa, tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực lao động củadoanh nghiệp Từ đó tìm ra biện pháp khắc phục nhằm tăng hiệu quả sử dụngnguồn lao động hợp lý trong doanh nghiệp.
(2) Năng suất lao động
Năng suất lao động = Doanh thu trong kỳ
Tổng số lao độngChỉ tiêu năng suất lao động cho biết, bình quân mỗi lao động tạo ra đượcbao nhiêu doanh thu trong kỳ kinh doanh
(3) Lợi nhuận bình quân một lao động
Lợi nhuận bình quân của 1 lao động = Lợi nhuận trong kỳ
Lao động bình quân trong kỳChỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho biết với mỗi lao động trong kỳ tạo ra đượcbao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tănghiệu quả của mỗi lao động trong kỳ
e) Hiệu quả năng suất các yếu tố tổng hợp
(1) Hệ số ICOR
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) là chỉ tiêu kinh doanh tổng hợpphản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư thực hiện tăng thêm để tăng thêm 1đồng doanh thu
Hệ số ICOR thay đổi tuỳ theo thực trạng kinh doanh của doanh nghiệptrong từng thời kỳ khác nhau, phụ thuộc vào cơ cấu đầu tư và hiệu quả sử dụngđồng vốn Hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao và ngược lại
Phương pháp tính: Hệ số ICOR được tính theo công thức:
ICOR = V1 / (G1 – G0)
Trong đó:
ICOR: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư;
V1: Tổng vốn đầu tư của năm nghiên cứu;
G1: Tổng doanh thu của năm nghiên cứu;
Trang 35G0: Tổng doanh thu của năm trước năm nghiên cứu.
(2) Nhóm các chỉ tiêu tổng hợp khác
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt độngkinh doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanhnghiệp với nhau và so sánh trong doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét cácthời kỳ doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả cao hơn hay không
(4) Doanh lợi của doanh thu bán hàng:
Doanh lợi của doanh thu bán hàng = Lợi nhuận trong kỳ
Doanh thu trong kỳChỉ tiêu này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp đã tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận từ một đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyếnkhích các doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chi phí Nhưng để có hiệu quả thìtốc độ tăng doanh thu phải nhỏ hơn tốc độ tăng lợi nhuận
(5) Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh:
Doanh lợi vốn kinh doanh = Lợi nhuận trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳChỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Một đồng vốn kinhdoanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh trình độ lợi dụng vàocác yếu tố vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt điềunày chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn củadoanh nghiệp
(6) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí:
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí = Lợi nhuận trong kỳ
Tổng chi phí sản xuấtChỉ tiêu này phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất
Nó cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Chỉ tiêu này cóhiệu quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí
(7) Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh theo chi phí:
Hiệu quả kinh doanh theo chi phí = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất trong kỳ
Trang 36Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
(8) Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn sản xuất:
Doanh thu trên một đồng vốn sản xuất
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳVốn kinh doanh bình quân trong kỳVới chỉ tiêu này cho ta thấy với một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêuđồng doanh thu, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
1.3.1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp xây dựng
(1) Bộ máy quản trị doanh nghiệp xây dựng
Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanhnghiệp, có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớntới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trị được tổchức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọnnhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợphành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần tráchnhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt độngkhông hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo
và không rõ ràng hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt độngkhông chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽdẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao
(2) Lao động tiền lương
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọihoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trựctiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác độngtrực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sảnphẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 37nghiệp Bên cạnh lao động thì tiền lương và thu nhập của người lao động cũngảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tiềnlương là một bộ phận cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp đồng thời nó còn tác động tới tâm lý người lao động trong doanh nghiệp
(3) Tình hình tài chính của doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo chocác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định
mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất vàchất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanhnghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không
có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do
đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năngchủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủđộng khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Vì vậy tình hình tàichính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh củachính doanh nghiệp đó
(4) Đặc tính của sản phẩm và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Đặc tính của sản phẩm: Chất lượng sản phẩm luôn luôn là yếu tố sống còn
của mỗi doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không đáp ứng được những yêucầu của khách hàng, lập tức khách hàng sẽ chuyển sang tiêu dùng các sản phẩmkhác cùng loại Chất lượng của sản phẩm góp phần tạo nên uy tín danh tiếng của
doanh nghiệp trên thị trường Những đặc tính mang hình thức bên ngoài của sản
phẩm như: Mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu… trước đây không được coi trọng nhưngngày nay nó đã trở thành những yếu tố cạnh tranh quan trọng không thể thiếuđược Các đặc tính của sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh
Trang 38tranh của doanh nghiệp góp phần rất lớn tới việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độtiêu thụ sản phẩm làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên cóảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ sản phẩm là một khâu cuối
cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tớicác khâu khác của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sảnphẩm có tiêu thụ được hay không mới là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ nóquyết định tốc độ sản xuất và nhịp độ cung ứng nguyên vật liệu Cho nên nếudoanh nghiệp tổ chức được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị trường
và các chính sách tiêu thụ hợp lý khuyến khích người tiêu dùng sẽ giúp chodoanh nghiệp mở rộng và chiếm lĩnh được thị trường, tăng sức cạnh tranh củadoanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợinhuận, tăng vòng quay của vốn, góp phần giữ vững và đẩy nhanh nhịp độ sảnxuất cũng như cung ứng các yếu tố đầu vào nên góp phần vào việc nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(5) Nguyên vật liệu và công tác tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng và không thểthiếu được đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Số lượng, chủng loại,
cơ cấu, chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng bộ của việc cung ứngnguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, ảnh hưởng tớinăng suất và chất lượng của sản phẩm do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, chi phí sử dụng nguyên vật liệu của các doanh nghiệpcông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh và giá thành đơn
vị sản phẩm cho nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đốivới việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụngtiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc tạo ra kết quả lớn hơn với cùng mộtlượng nguyên vật liệu
(6) Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh
Trang 39hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm haytăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn có công nghệsản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệmnguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹthuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu haythiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rấtthấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu.
(7) Môi trường làm việc trong doanh nghiệp
Trong kinh doanh hiện đại, rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanhnghiệp liên doanh rất quan tâm chú ý và đề cao môi trường văn hoá của doanhnghiệp, vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá các dân tộc và các nước khác nhau.Những doanh nghiệp thành công trong kinh doanh thường là những doanhnghiệp chú trọng xây dựng, tạo ra môi trường văn hoá riêng biệt khác với cácdoanh nghiệp khác Văn hoá doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn chocác doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành các mụctiêu chiến lược và các chính sách trong kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thờitạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược kinh doanh đã lựa chọncủa doanh nghiệp Cho nên hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào môi trường văn hoá trong doanh nghiệp.Các yếu tố không khí, không gian, ánh sáng, độ ẩm, độ ồn, các hoá chất gâyđộc hại là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian lao động, tới tinh thần
và sức khoẻ của người lao động do đó nó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng laođộng của doanh nghiệp, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới độ bền của máy mócthiết bị, tới chất lượng sản phẩm Vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Hệ thống trao đổi các thông tin bên trong doanh nghiệp ngày càng lớn hơnbao gồm tất cả các thông tin có liên quan đến từng bộ phận, từng phòng ban,từng người lao động trong doanh nghiệp và các thông tin khác Để thực hiện các
Trang 40hoạt động sản xuất kinh doanh thì giữa các bộ phận, các phòng ban cũng nhưnhững ngưòi lao động trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ ràng buộc đòihỏi phải giao tiếp, phải liên lạc và trao đổi với nhau các thông tin cần thiết Do
đó mà hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộcrất lớn vào hệ thống trao đổi thông tin của doanh nghiệp Việc hình thành quátrình chuyển thông tin từ người này sang người khác, từ bộ phận này sang bộphận khác tạo sự phối hợp trong công việc, sự hiểu biết lẫn nhau, bổ sung nhữngkinh nghiệm, những kiến thức và sự am hiểu về mọi mặt cho nhau một cáchthuận lợi nhanh chóng và chính xác là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thựchiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
1.3.2 Nhân tố môi trường kinh doanh
(1) Môi trường chính trị, luật pháp
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quyphạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động,các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằngcách nào, bán cho ai ở đâu, nguồn đầu vào lấy ở đâu đều phải dựa vào các quyđịnh của pháp luật Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của phápluật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với ngườilao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệmđảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viêntrong doanh nghiệp ) Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyếnkhích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếptới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp
(2) Môi trường văn hoá xã hội
Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục,tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tíchcực hoặc tiêu cực Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều