Công tác kiểm tra thuế không những là một chức năng thiết yếu của cơ quanquản lý nhà nước mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình thực hiện quản lý thuế NNT theo cơ chế tự khai,
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM THỊ TUỆ
HÀ NAM, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn của tôi với đề tài “Kiểm tra thuế đối với doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhântôi.Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà Nam, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Thúy Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và cám ơn chân thành PGS.TS Phạm ThịTuệ đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thiện luận văn.Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thương Mại, Khoa sau Đại học và
đã giúp đỡ, truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công chức tại Cục Thuế tỉnh
Hà Nam, Chi Cục Thuế thành phố Phủ Lý đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành Luậnvăn tốt nghiệp này
Hà Nam, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Thúy Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vi
SƠ ĐỒ vi
BẢNG vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
8 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 6
1.1 Lý thuyết cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm, phân loại doanh nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm thuế, các loại thuế đối với doanh nghiệp 9
Trang 61.1.3 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp 12
1.2 Cơ sở lý thuyết về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 16
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 16
1.2.2 Nguyên tắc và các hình thức kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 18
1.2.3 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 21
1.2.4 Quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 24
1.2.5 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 27
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 29
1.3.1 Nhân tố khách quan 29
1.3.2 Nhân tố chủ quan 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM 32
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội của thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam 32
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội của thành phố Phủ Lý 32
2.1.2 Thực trạng các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 34
2.1.3 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn TP Phủ Lý 38
2.2 Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 41
2.2.1 Kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế 41
2.2.2 Kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ 42
2.2.3 Kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế 45
2.3 Nhận xét về kết quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 50
Trang 72.3.1 Những thành công 50
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM. 58
3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện kiểm tra thuế của Tổng cục Thuế 58
3.1.1 Quan điểm hoàn thiện kiểm tra thuế của Tổng cục Thuế 58
3.1.2 Định hướng hoàn thiện kiểm tra thuế của Tổng cục Thuế 59
3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 60
3.2.1 Giải pháp đối với quy trình kiểm tra thuế 60
3.2.2 Giải pháp đối với bộ máy kiểm tra thuế 63
3.2.3 Giải pháp khác 65
3.3 Một số kiến nghị 68
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 68
3.3.2 Kiến nghị đối với Tổng Cục Thuế 71
3.3.3 Kiến nghị đối với UNND thành phố 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
SƠ
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thu thuế hiện hành 15
Sơ đồ 1.2: Quy trình kiểm tra thuế 25
Sơ đồ 2.1: Quy trình quản lý thu thuế trên địa bàn thành phố Phủ Lý 39
Trang 9Bảng 2.1: Thống kê các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Phủ Lý từ
năm 2014 – 2016 35
Bảng 2.2: Tình hình thu thuế của các DN trên địa bàn thành phố Phủ Lý 37
Bảng 2.3: Cơ cấu lực lượng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý 40
Bảng 2.4: Bảng số liệu kết quả kiểm tra đăng ký thuế 42
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp doanh nghiệp vi phạm chế độ kế toán qua các năm: 45
Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp phải kiểm tra hồ sơ khai thuế 47
Bảng 2.7: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế 47
Bảng 2.8: Kêt quả kiểm tra trụ sở người nộp thuế 49
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp doanh nghiệp nợ thuế sau kiểm tra tại trụ sở NNT qua các năm 49
Bảng 2.10: Kết quả thu NSNN qua công tác kiểm tra thuế 51
Bảng 2.11: Số lượng DN được kiểm tra thuế 52
Bảng 2.12: Số lượng DN vi phạm bị xử lý qua công tác kiểm tra thuế 52
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN) nhằm đáp ứngnhu cầu chi tiêu của đất nước và là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốcdân
Tuy nhiên, ý thức chấp hành pháp luật về thuế của một bộ phận Người nộpthuế (NNT) còn hạn chế Hiện tượng kê khai sai, trốn thuế tại một số lĩnh vực, địaphương vẫn còn Hàng năm, công tác kiểm tra thuế đã truy thu, xử phạt các hành vi
vi phạm pháp luật thuế của NNT hàng nghìn tỷ đồng, góp phần tăng thu cho NSNN,bảo đảm tính công khai, minh bạch, sự công bằng và tạo điều kiện môi trường kinhdoanh tốt hơn để doanh nghiệp phát triển
Công tác kiểm tra thuế không những là một chức năng thiết yếu của cơ quanquản lý nhà nước mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình thực hiện quản
lý thuế NNT theo cơ chế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm Công tác kiểm trathuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN, đảmbảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của NNT Tuy nhiên, Công tác kiểm tra Thuế vẫn còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp với
sự phát triển của thực tế Hệ thống chính sách về thuế chưa đồng bộ, công tác kiểmtra thuế mới đơn thuần là công cụ tăng thu NSNN, chưa mang tính tuyên truyền,hướng dẫn cho NNT Doanh nghiệp vẫn còn chưa hiểu hết chính sách pháp luậtthuế về thanh tra kiểm tra, có tâm lý sợ kiểm tra về thuế
Phủ Lý - thành phố trực thuộc tỉnh Hà Nam, là trung tâm văn hóa, chính trị vàkinh tế và là đô thị loại 3 của tỉnh Hà Nam Phủ Lý là một thành phố đang phát triểnmạnh về thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, có đủ các loại hình kinh tế cũng nhưcác thành phần tham gia kinh doanh Và các bất cập chung của ngành Thuế nêu trêncũng xảy ra trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Xuất phát từ tầm quan trọng của kiểm tra thuế trong công tác quản lý thuế,việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được giải pháp nhằm tăng cường công tác
kiểm tra thuế là một vấn đề vô cùng cấp thiết, do vậy, đề tài: “Kiểm tra thuế đối với
Trang 12doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam”được chọn làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay có nhiều tác giả đã nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế như:
“Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – những vấn
đề lý luận và thực tiễn” (Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Văn Cương, Hà Nội, năm 2012) Luận án nghiên cứu Pháp luật quản lý Thuế trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam, trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn để luận chứng khoahọc cho việc xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nângcao hiệu quả pháp luật quản lý Thuế trong nền kinh tế thị trường ở VN
“Hoàn thiện quản lý thu thuế nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp”(Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lệ Thủy, Hà Nội, năm 2012) Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp và quản lý thu thuế của Nhà nước, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
“Giải pháp tăng cường hoạt động kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố
Móng Cái” (Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đào Mạnh Hùng, năm 2013) Luận
án đưa ra các giải pháp tăng cường hoạt động kiểm tra thuế, trên cơ sở kết quảnghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phốMóng Cái
“Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố
Hồ Chí Minh” (Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Tiến Dũng, năm 2014) Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác kiểm tra thuế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh
“Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang” (Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thế Nghiệp, 2015) Đề tài đưa ra các cơ sở lý luận
về thanh tra, kiểm tra thuế và thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm
Trang 13tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang.
“Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Kon Tum” (Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thắng, năm 2012).
Đề tài nghiên cứu công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Kon Tum và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế Chi cục Thuế thành phố Kon Tum.
“Pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam” (Vũ Ngọc Hà và Vũ Văn
Cương, Tạp chí Luật học số 4/2009) Tác giả nêu ra những điểm mới cơ bản trongPháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam và một số ý kiến về các quy địnhcủa pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam
“Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Võ Tiến Dũng đăng trên Tạp chí
kinh tế -Kỹ thuật số 04/2013 Tác giả đã nêu và phân tích 4 nhân tố chính ảnhhưởng đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế đó là: Chính sách pháp luậtthuế; chất lượng cuộc thanh tra, kiểm tra thuế; các chức năng hỗ trợ quản lý; ngườinộp thuế Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả của cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Các đề tài nghiên cứu đã đề cập mức độ nhất định về tính cần thiết khách quan
của công tác kiểm tra thuế, chỉ ra những thành công và những hạn chế trong công
tác kiểm tra thuế, đồng thời đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công táckiểm tra thuế và các kiến nghị với cơ quan cấp Nhà nước để công tác kiểm tra thuếngày càng được hoàn thiện hơn Tuy nhiên, đối với địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh
Hà Nam chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách có hệthống về mặt lý luận đối với công tác kiểm tra thuế, cũng như đề xuất giải pháphoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu.
Kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lýthuế nên việc tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có ý nghĩaquyết định đến hiệu quả công tác quản lý thuế Hơn nữa, thành phố Phủ Lý đang
Trang 14phát triển mạnh về thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệpngày càng tăng với đủ loại hình kinh tế cũng như thành phần tham gia Vấn đềnghiên cứu giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệptrên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam chưa được nghiên cứu sâu và thấu đáo.
Vì vậy, nghiên cứu công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thànhphố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam trở nên cấp thiết
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kiểm tra thuế đối với doanhnghiệp, cũng như đánh giá thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địabàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, mục tiêu mà đề tài hướng đến là đưa ra cácgiải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thànhphố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp từ năm
2014 đến năm 2016
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm tra thuế đối vớidoanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệptrên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
6 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu, tácgiả lựa chọn và sử dụng các phương pháp sau:
Trang 15Phương pháp thống kê, thu thập thông tin: các tài liệu liên quan đến nội dungnghiên cứu của đề tài được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của cơ quan Thuế
và các ban, ngành trên địa bàn thành phố Phủ Lý; thông tin đã được công bố trêncác giáo trình, tạp chí và đề tài khoa học trong và ngoài nước
Phương pháp tổng hợp thông tin: Sau khi khai thác, thu thập được các tài liệucần thiết, tác giả tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phục vụcho việc nghiên cứu đề tài Việc xử lý và tính toán số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứuđược tiến hành trên máy tính với sự hỗ trợ của các phần mềm Exel và phần mềm tinhọc của ngành Thuế
Phương pháp phân tích thông tin: Các thông tin, số liệu sau khi được thu thập
và tổng hợp sẽ được tác giả phân tích đánh giá để rút ra kết luận
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tácgiả sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh số liệu thu thập được giữa các năm vớinhau, cơ cấu giữa các chỉ tiêu trong cùng một năm để thấy được sự biến động tănggiảm, mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu đến vấn đề nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã hệ thống hóa, góp phần nêu lên thực trạng,một số điểm còn hạn chế về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địabàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Từ đó, tham mưu, đề xuất một số các giảipháp nhằm hoàn thiện quy trình nghiệp vụ kiểm tra thuế của Ngành Thuế Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho Chicục Thuế các huyện, thành phố tại tỉnh Hà Nam
8 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chiathành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thànhphố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địabàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Trang 16CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Lý thuyết cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm, phân loại doanh nghiệp.
1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là mộtdoanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định vớimột giá trị nhất định
- Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cáchpháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tếtheo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tếtrong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nướcbằng các loại luật và chính sách thực thi pháp luật
- Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất
mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếutố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trườngnhững sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giábán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)
- Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản
xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thànhcông, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sảnxuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từsách "kinh tế doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
1992 )
- Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộphận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộphận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổchức, nhân sự
Trang 17Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xétdoanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanhnghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìnbao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức,phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạtđộng của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấuthành bởi những yếu tố sau đây:
+ Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực
hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộphận hành chính
+ Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
+ Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán
sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra
+ Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà
nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoảnlợi nhuận thu được
Từ cách nhìn nhận như trên có thể khái niệm về doanh nghiệp như sau:Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tàichính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng,tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý cácmục tiêu xã hội
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp.
* Căn cứ vào hình thức sở hữu:
- Doanh nghiệp nhà nước (DNNN): DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước
đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côngích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội Nhà nước quy định Doanh nghiệp có tưcách hợp pháp, có tư cách pháp nhân và có các quyền và nghĩa vụ dân sự, chịu trách
Trang 18nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh Theo sự phân cấp, phân công quản lý,DNNN được chia ra thành DNNN trung ương và DNNN địa phương.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD): DNNQD là tổ chức kinh tế do
cá nhân đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Các loại hình DNNQD bao gồm cáccông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tưnhân và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã…Sự khác nhau giữa các loại hìnhdoanh nghiệp nói trên được phân định theo số vốn và hình thức góp vốn; tráchnhiệm của chủ doanh nghiệp trong trường hợp công ty phá sản; nghĩa vụ, quyền lợi
và thẩm quyền của các cổ đông; quyền được phép phát hành chứng khoán haykhông… Xét theo góc độ liên quan đến thuế, các doanh nghiệp này cũng có điểmkhác nhau như: Luật pháp quy định riêng loại hình doanh nghiệp tư nhân không cầnphải có kế toán trưởng, còn các loại hình doanh nghiệp khác bắt buộc phải có kếtoán trưởng, và giám đốc không được kiêm công việc kế toán
- Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (DNĐTNN): DNĐTNN là doanh nghiệp donhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc làdoanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sát nhập hoặc mua lại
* Căn cứ vào quy mô:
Để phân loại các doanh nghiệp theo quy mô, chúng ta dựa trên tiêu chí tổng
số vốn và tổng số lao động Doanh nghiệp được chia làm 3 loại: doanh nghiệp lớn,doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp lớn là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinhdoanh theo quy định pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng và số laođộng bình quân hàng năm trên 300 người
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kýkinh doanh theo quy định pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 100 tỷđồng và số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người
Doanh nghiệp siêu nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinhdoanh theo quy định pháp luật hiện hành, có số lao động bình quân hàng năm khôngquá 10 người
Trang 19* Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh:
Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcnông nghiệp, lâm nghiệp hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây, con.Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiềuvào điều kiện tự nhiên
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựccông nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị máymóc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm
Doanh nghiệp thương mại là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcthương mại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân phối hàng hóacho người tiêu dùng tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời
Doanh nghiệp dịch vụ: Với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụcàng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã khôngngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà còn ở tính đa dạng
và phong phú của lĩnh vực này như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễnthông, vận tải, du lịch, khách sạn, y tế v.v
1.1.2 Khái niệm thuế, các loại thuế đối với doanh nghiệp.
1.1.2.1 Khái niệm về thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế xuất hiện, tồn tại
và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Khi Nhà nước ra đờiđòi hỏi phải có nguồn lực của cải để trang trải chi phí hoạt động của bộ máy Nhànước, thực hiện các chức năng của Nhà nước Bằng quyền lực của mình, Nhà nướcquy định các khoản đóng góp bắt buộc đối với dân chúng và các chủ thể khác trong
xã hội
Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thốngnhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ nhữngkhía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất củaphạm trù này
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản Mác đã chỉ rõ:
Trang 20“Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần có ngay những sự đóng góp của nhữngngười công dân của nước đó là thuế ” (Mác – Ăng ghen TT T2 – NXB Sự thật –
Hà Nội – 1962 trang 522)
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ramột định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, cótính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhànước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.(Gaston Jeze “Finances Publiqué”, 1934)
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phânphối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thànhcác quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi
tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứngnhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt,theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từkhu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội củaNhà nước
Một cách chung nhất thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước KhiNhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chitiêu của Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế đểbắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước
Thuế là hình thức đóng góp theo luật định của các pháp nhân và thể nhân choNhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định.Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia Nhà nước dùngquyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và côngdân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm
Trang 21bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổnđịnh được Ngân sách Nhà nước Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúngnghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó Đặcđiểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng gópmang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vaymượn khác của Chính Phủ.
Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Thuế vận độngmột chiều, trên cơ sở các số thuế thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêucông cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội Số thuế
mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượnglợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhậpcủa họ Đặc điểm này cũng phân bịêt giữa thuế với phí và lệ phí
Như vậy, Thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân vàpháp nhân cho Nhà nước, được quy định bằng các văn bản pháp luật và không cótính hoàn trả trực tiếp
1.1.2.2 Các loại thuế đối với doanh nghiệp.
Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xãhội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở,mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
* Căn cứ vào tính chất nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước,
thuế được chia thành thuế trực thu và thuế gián thu:
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập củacác pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theoquy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp độngviên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhậpdoanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụngđất nông nghiệp, thuế tài nguyên
Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phầnthu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối
Trang 22với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗngười nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một
bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất,kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịuthuế.Thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,thuế tiêu thụ đặc biệt
* Căn cứ vào đối tượng đánh thuế: Theo tiêu thức này, thuế có thể chia thành:
Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụđặc biệt
Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệpThuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuếtài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước
Thuế khác và lệ phí, phí
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa pháthuy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiệnmột cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế Việc phânloại thuế theo đối tượng đánh thuế như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từngloại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm thực hiện chức năng toàn diện của cả hệthống thuế
1.1.3 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp.
1.1.3.1 Khái niệm quản lý thu thuế đối với DN
Quản lý thu thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hànhchính công của Nhà nước Quản lý thu thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thựcthi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhànước trong lĩnh vực thuế
Quản lý thu thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế, là việc định ra một
hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách
Trang 23nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luậtthuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biếnđộng Quản lý thu thuế liên quan đến cách thức mà các luật thuế được thực thi, liênquan đến sự tác động qua lại giữa cơ quan quản lý thu thuế và DN, là cách thức mà
ở đó sự tuân thủ được thúc đẩy và cưỡng chế bởi cơ quan thuế
Theo luật quản lý thuế số 106/2016/QH13: Quản lý thu thuế là quá trình thựcthi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn địnhthuế; quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; quản lý xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hànhcác quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếunại tố cáo về thuế
Như vậy qua những khái niệm trên thì Quản lý thu thuế là quá trình tổ chứcthực thi pháp luật về thuế, tổ chức bộ máy thu thuế và quản lý quy trình thu thuếnhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua
Quản lý thu thuế đối với DN là quá trình bảo đảm thực thi các chính sách thuếđối với DN, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế các cấp lên các DN nhằmđảm bảo sự tuân thủ thuế theo luật định một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời giantrong điều kiện môi trường quản lý thu thuế luôn biến động
Quản lý thu thuế đối với DN có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quản lý thu thuế mang tính quyền lực Nhà nước và được bảo đảm bằng phápluật Nhà nước dùng quyền lực để bảo đảm nguồn thu thuế cho NSNN
- Quản lý thu thuế đối với DN là quá trình đảm bảo thực thi các chính sáchthuế, do vậy đây quá trình thực hiện quyền hành pháp và tư pháp về thuế Quản lýthu thuế bao gồm những hoạt động trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hànhpháp và tư pháp về thuế của các cơ quan thuế các cấp, với các chức năng và quyềnhạn do luật định, nhằm đảm bảo thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan cóthẩm quyền thôngqua
- Quản lý thu thuế đối với DN gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức Nhànước có tư cách pháp nhân công quyền Chủ thể quản lý thu thuế trực tiếp là các cơ
Trang 24quan quản lý thuế các cấp được Nhà nước giao trách nhiệm và quyền hạn trực tiếpthu thuế Đối tượng quản lý là các DN có nghĩa vụ phải nộp thuế vào NSNN theoquy định của luật thuế.
1.1.3.2 Bộ máy quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp được xem là mục tiêu quan trọng hàng đầucủa lộ trình cải cách thuế ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằmhướng đến một nền quản lý thuế hiện đại, phù hợp với thông lệ thuế quốc tế Giống nhưmọi hoạt động quản lý nhà nước khác, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp cũng đượcthực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật
Bộ máy quản lý thu thuế đối với DN tại địa phương là các tổ chức, cơ nhànước tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra quátrình thực hiện chính sách thuế của người nộp thuế, đảm bảo sự vận hành của chínhsách thuế trong thực tiễn, bao gồm: Cơ quan thuế các cấp từ Tổng cục Thuế đếnCục Thuế đến Chi cục thuế;
Tổng Cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng thammưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về thuế theo quy định của phápluật;chỉ đạo thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật này;Chỉ đạo lập và thựchiện dự toán thu ngân sách nhà nước;Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật vềthuế;Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện phápluật về thuế theo thẩm quyền
Cục Thuế là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thựchiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nướđối với các DN trên địa bàn tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật bao gồm:Phòng Kê khai và kế toán thuế, Phòng tuyên truyền và hỗ trợ NNT, Phòng Quản lý
nợ thuế và cưỡng chế NT, Phòng Kiểm tra thuế và một số phòng liên quan
Chi cục Thuế là tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiệncông tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước đốivới các DN trên địa bàn quận, huyện, thành phố theo quy định của pháp luật bao
Trang 25gồm: Đội Kê khai và kế toán thuế, Đội tuyên truyền và hỗ trợ NNT, Đội Quản lý nợthuế và cưỡng chế NT, Đội Kiểm tra thuế và một số đội liên quan.
Cùng với sự ra đời của luật quản lý thuế, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp đã
có sự chuyển mình mạnh mẽ từ cơ chế quản lý theo đối tượng sang cơ chế mới: cơ chế
tự tính, tự khai, tự nộp thuế
Theo cơ chế mới bộ máy quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trên từng địabàn được tổ chức theo mô hình chức năng: Bốn chức năng đó là: Tuyên truyền phápluật thuế và hỗ trợ người nộp thuế, Quản lý nợ và cưỡng chế thuế, Kê khai và kếtoán thuế, Kiểm tra thanh tra thuế Cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (Phòng,Tổ), mỗi bộ phận thực hiện một chức năng quản lý thuế cơ bản đối với hầu hết cácloại thuế và đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền được phân công
Cơ quan thuế không can thiệp vào nghĩa vụ nộp thuế của DN nếu NNT tự giác tuânthủ nghĩa vụ Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuếhiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát việc thực hiện nghĩa
vụ thuế thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện kịp thời những hành vigian lận, trốn thuế của NNT
Sơ đồ 1.1: Quy trìnhquản lý thu thuế hiện hành
(Nguồn : Website của Tổng Cục Thuế)
Theo sơ đồ trên, cơ quan thuế hỗ trợ người nộp thuế, giải đáp vướng mắc vềchính sách thuế, hồ sơ khai thuế,…thực hiện quản lý nợ thuế, kiểm tra hồ sơ khai
Trang 26thuế của doanh nghiệp chứ không trực tiếp thu thuế của người nộp thuế, toàn bộ cáckhoản thuế phát sinh đều do người nộp thuế trực tiếp nộp vào kho bạc nhà nướctheo bảng kê theo mẫu quy định.
1.2 Cơ sở lý thuyết về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
1.2.1.1 Khái niệm của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
Kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong mọi hoạt động quản lý, kể cả quản
lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội.Kiểm tra là xem xéttình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và chỉ ra hoạt động của chủ thể tác động vàođối tượng kiểm tra Vì vậy, khái niệm kiểm tra có thể được hiểu theo 2 nghĩa:
Theo nghĩa rộng, chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và củacông dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước.Theo nghĩa này, tính quyền lựcnhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không cóquyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế nhà nước
Theo nghĩa hẹp, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét,xác minh mức độ phù hợp với trạng thái định trước Theo nghĩa này, chủ thể kiểmtra có thể áp dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặnhành chính
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực
tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt rađối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình chấp hành nghĩathuế của đối tượng kiểm tra
Như vậy, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp là việc cơ quan thuế phân tíchthông tin, dữ liệu, xác minh, thu thập chứng cứ nhằm đánh giá việc chấp hành phápluật, chính sách và các quy định về thuế của doanh nghiệp đó
Trong mô hình quản lý theo chức năng và cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, kiểmtra thuế là một chức năng quan trọng, có vai trò to lớn trong quá trình quản lý thuế.NNT phải tự giác kê khai, nộp thuế theo yêu cầu quản lý của cơ quan thuế và hoàn
Trang 27toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu đó Toàn bộ các khâu quản lýcủa ngành thuế được thực hiện trên cơ sở dữ liệu do người nộp thuế kê khai Kiểmtra là khâu cuối kiểm tra việc chấp hành quản lý chính sách pháp luật của Nhà nước,việc kiểm tra có nghiêm mới có cơ sở chính xác để xử lý NNT vi phạm, từ đó nângcao được ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT.
Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng đối vớiquản lý thuế Cụ thể như sau:
Thứ nhất, qua kiểm tra thuế phát hiện những nhầm lẫn, sai sót của NNT và củacông chức thuế để nhắc nhở, chấn chỉnh; đảm bảo thực hiện đúng quy định củapháp luật về thuế
Thứ hai, thông qua kiểm tra thuế để phát hiện và ngăn chặn các hành vi viphạm pháp luật thuế, trốn thuế, lậu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời sốthuế theo quy định pháp luật vào NSNN, góp phần tăng thu cho NSNN Với việclàm tốt công tác kiểm tra, CQT đánh tín hiệu cho NNT biết nếu vi phạm pháp luật
sẽ bị phát hiện và bị xử phạt Bởi vậy, NNT phải cân nhắc giữa lợi ích có thể đạtđược của việc trốn thuế (nếu không bị phát hiện) với khả năng bị phát hiện quakiểm tra và bị xử phạt
Thứ ba, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện pháp luật thuế và tăng cường phápchế xã hội chủ nghĩa Qua kiểm tra sẽ phát hiện ra trong pháp luật thuế hiện nay cónhững điểm nào còn bất cập, gây khó khăn cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuếcũng như gây khó khăn cho cán bộ thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểmtra Từ đó, cán bộ kiểm tra thuế có thể đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiệnpháp luật thuế cho phù hợp với thực tế Mặt khác, qua kiểm tra phát hiện ra nhữngsai sót hay vi phạm của NNT, cán bộ kiểm tra phải xử lý bằng các hình thức xử phạtnghiêm minh Để NNT thấy rằng bất cứ ai cũng phải tuân thủ pháp luật Nhữnghành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử phạt thích đáng Xử lý đúng người, đúng tội sẽnâng cao được hiệu lực của luật thuế
Thứ tư, kiểm tra thuế góp phần cải cách thủ tục hành chính.Thông qua hoạtđộng kiểm tra có thể phát hiện những người nộp thuế thực hiện không đúng vàkhông đủ các thủ tục hành chính thuế để có thể kịp thời chấn chỉnh Đồng thời
Trang 28thông qua đó sẽ phát hiện các thủ tục hành chính còn khiếm khuyết, không cầnthiết, không còn phù hợp với thực tế nữa để kiến nghị bổ sung hoàn thiện thủ tụcchính sách thuế, nhằm nâng cao hiệu lực pháp luật thuế.
1.2.1.2 Mục tiêu của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
Thứ nhất, kiểm tra thuế nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuếcủa DN nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế, ngăn chặn và xử lý kịpthời những vi phạm về thuế;
Thứ hai, kiểm tra thuế sẽ giúp nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuếcủa DN trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Thứ ba, kiểm tra thuế góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh
tế xã hội, hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, chấp hànhpháp luật của Nhà nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạođiều kiện cho doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy nền kinh tế đất nước, tạo môitrường công bằng, bình đẳng cho người nộp thuế để người nộp thuế phát triển sảnxuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
Thứ tư, kiểm tra thuế để tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác kiểmtra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các doanhnghiệp có hành vi gian lận trốn thuế
Thứ năm, thông qua công tác kiểm tra nhằm hướng dẫn, giúp đỡ các doanhnghiệp nắm được các nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế;đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ
1.2.2 Nguyên tắc và các hình thức kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.2.2.1 Nguyên tắc kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Để đạt được các mục tiêu trên thì công tác kiểm tra thuế phải tuân thủ nhữngnguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật:
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.Kiểm tra thuế là việc thực thi pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đây là nguyêntắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của các bộ kiểm tra thuế, nâng cao hiệu lực củacông tác kiểm tra thuế, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt
Trang 29động kiểm tra thuế Khi thực hiện nguyên tắc này chủ thể kiểm tra (cơ quan, đoànkiểm tra và các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra phải căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề kiểm tra và chịu trách nhiệmtrước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình Đối tượng kiểm tra phải nghiêmchỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu
và giải trình số liệu khi được yêu cầu
Thứ hai, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan:
Đảm báo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắccao trong công tác kiểm tra thuế Có trung thực, chính xác, khách quan trong côngtác kiểm tra thuế thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của NNT, xử lý đúngngười, đúng việc, đúng pháp luật
Hoạt động kiểm tra thuế phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượngnhư nó vốn có, không suy diễn, quy chụp một các chủ quan, phản ánh, đánh giáđúng bản chất của sự vật, hiện tượng, vô tư, khách quan, không thiên lệch, không vìquyền lợi cá nhân
Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ:
Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: Công khai quyết định kiểmtra thuế, tiếp xúc công khai với NNT, công bố công khai nội dung kết luận kiểm tra.Dân chủ trong kiểm tra thuế thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quầnchúng, lấy dân làm gốc, nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng, sửdụng quần chúng như là tai mắt của lực lượng kiểm tra Thực hiện nguyên tắc nàyđòi hỏi phải côi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng liên quan,tạo điều kiện cho NNT được trình bày và bảo lưu ý kiến của mình
Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ bí mật:
Trong quá trình kiểm tra thuế, cán bộ thuế được tiếp cận với nhiều nguồnthông tin, tài liệu lien quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của NNT Nếu để lộ cácthong tin này cho các đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại tới lợi ích củaNNT
Trang 30Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả:
Nguyên tắc này đòi hỏi thực thi công tác kiểm tra thuế phải có hiệu quả, nghĩa
là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm: phải đảm bảogiúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế
1.2.2.2 Các hình thức kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
+ Theo nội dung: bao gồm kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng
ký thuế; kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn và chứng từ; ; kiểm traviệc thực hiện kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế
+ Theo thời gian tiến hành: bao gồm kiểm tra theo chương trình, kế hoạch vàkiểm tra đột xuất
Kiểm tra theo chương trình, kế hoạch là việc kiểm tra được tiến hành theochương trình, kế hoạch đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn nhân lực hiện có, tìnhhình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan Thuếxây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Tiếp đó, cơ quanThuế tiến hành tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt
Kiểm tra đột xuất là việc kiểm tra được tiến hành khi cơ quan Thuế phát hiệnNNT có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quyết định
+Theo phạm vi: bao gồm kiểm tra toàn diện và kiếm tra theo chuyên đề.
Kiểm tra toàn diện là việc kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ phápluật thuế của NNT mà NNT đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành Thuế có trách nhiệmquản lý Kiểm tra toàn diện là hình thức kiểm tra được tiến hành một cách đồng bộđối với tất các các sắc thuế: thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệtthu nhập cá nhân và các loại thuế khác trong kỳ kê khai thuế Cơ quan Thuế cần dựtính nguồn nhân lực cũng như kinh phí để thực hiện kiểm tra toàn diện trong quátrình lập kế hoạch kiểm tra hàng năm
Kiểm tra chuyên đề là kiểm tra trong phạm vi hẹp như: Kiểm tra một sắc thuế,một hoặc một số kỳ tính thuế hoặc kiểm tra một hoặc một số loại hồ sơ khai thuế;
Trang 311.2.3 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế
Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.Mục tiêu của việc kê khai, đăng ký thuế nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuế quản
lý chặt chẽ NNT ngay từ khi bắt đầu hoạt động; quản lý hồ sơ NNT để lưu giữ, tracứu, kiểm tra khi cần thiết
Nội dung kiểm tra đăng ký thuế bao gồm:
- Kiểm tra về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chinhánh, đăng ký văn phòng đại diện: kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu
kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm kinh doanh,ngành nghề kinh doanh, thời gian thực tế kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tàikhoản giao dịch……
- Kiểm tra về việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, đăng kýhoạt động chi nhánh, đăng ký văn phòng đại diện
- Kiểm tra về việc thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, đăng kýhoạt động chi nhánh, đăng ký văn phòng đại diện
- Kiểm tra việc tạm ngừng kinh doanh, quay trở lại hoạt động trước thời hạn:Doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện tạm ngừng kinh doanh, hoặc quaytrở lại hoạt động trước thời hạn thì doanh nghiệp gửi thông báo đến phòng đăng kýkinh doanh nơi đơn vị đăng ký chậm nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanhhoặc quay trở lại hoạt động
- Kiểm tra việc giải thể doanh nghiệp
Căn cứ vào số liệu tổng hợp về đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai, nộp thuế
cơ quan thuế phối hợp với các ngành có liên quan để chuẩn bị điều kiện vật chấtphụ vụ tốt công tác quản lý đối với cơ sở kinh doanh theo đúng luật thuế Xác địnhnhững đối tượng còn sót chưa đăng ký kinh doanh hoặc chưa đăng ký thuế và các
cơ sở kinh doanh đã đăng ký có làm đúng những quy định về đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế không
Trang 32Đối với mỗi cơ sở kinh doanh khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp lý củađăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng kýkinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, thời gianthực tế kinh doanh… nhằm phát hiện và xử lý những gian lận trong kê khai đăng kýthuế Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng kýthuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế, để tránh bỏ sót đốitượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, bỏ sót nguồn thu.
Thứ hai, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ
Chứng từ kế toán là những giấy tờ, vật mang tin chứng minh nghiệp vụ kinh tếtài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành làm căn cứ ghi sổ kế toán Vậy thựcchất chứng từ kế toán là những giấy tờ đã in sẵn (hoặc chưa in sẵn) theo mẫu quyđịnh được sử dụng để ghi những nội dung vốn có của các nghiệp vụ kinh tế tàichính phát sinh và đã thực sự hoàn thành trong hoạt động của đơn vị, gây ra sự biếnđộng với các loại tài sản, các loại nguồn vốn và các đối tượng kế toán khác
Lập chứng từ kế toán là việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực
sự hoàn thành vào các chứng từ theo thời gian và địa điểm phát sinh Mọi nghiệp vụkinh tế phát sinh trong hoạt động của đơn vị đều phải lập chứng từ Chứng từ kếtoán chỉ được lập một lần cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính Nó là khâu đầu tiêntrong toàn bộ công tác kế toán của đơn vị, là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng chất lượngcông tác hạch toán kế toán Vì vậy, khi lập chứng từ kế toán phải đảm bảo các yêucầu sau: - Rõ ràng, đầy đủ, kịp thời – Hợp lệ, hợp pháp
Kiểm tra chấp hành chế độ hóa đơn chứng từ kế toán là xem xét, đối soát dựatrên chứng từ kế toán số liệu ở sổ sách, báo biểu kế toán và nghiệp vụ kinh tế phátsinh, tính đúng đắn của việc tính toán, ghi chép, phản ánh, tính hợp lý của cácphương pháp kế toán được áp dụng
Việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan mật thiết đếnviệc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước Nội dung kiểm tra hóađơn chứng từ bao gồm:
Trang 33- Kiểm tra nội dung chứng từ xem các hoạt động kinh tế tài chính ghi trongchứng từ có hợp pháp hay không nghĩa đúng là sự thật, đúng với chế độ thể lệ hiệnhành, có phù hợp với mức và dự đoán phê chuẩn hay không?
- Kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ, nghĩa là chứng từ có hội đủ những yếu tốcần thiết và chữ ký của người có thẩm quyền hay không?
- Kiểm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ: Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ,kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tin trên chứng từ, kiểm tra việc chấp hànhquy chế quản lý nội bộ của việc lập, kiểm tra duyệt đối với các nghiệp vụ kinh tế
- Kiểm tra sự phù hợp của các chứng từ kế toán
- Kiểm tra việc định khoản, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Kiểm tra việc lập và kê khai báo cáo thuế GTGT hàng tháng, hàng quý
- Kiểm tra việc lập báo cáo quyết toán thuế năm
Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hoá đơn đảmbảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậuthuế Do vậy, nội dung kiểm tra này cần được tiến hành thường xuyên; đây là nộidung kiểm tra phức tạp nhất, tốn nhiều thời gian và công sức nhất
Thứ ba, kiểm tra việc thực hiện kê khai, tính thuế, nộp thuế
Việc kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chứckinh doanh đối với Nhà nước Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai, tính thuế,nộp thuế bao gồm:
- Kiểm tra việc khai thuế: đó là kiểm tra việc kê khai của DN có khai chínhxác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chínhquy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơquan quản lý thuế hay không? kiểm tra hồ sơ khai thuế tháng, quý năm đối với cácloại thuế như: GTGT, TTĐB, TNCN, TNDN…, yêu cầu của nội dung này là đểkiểm tra DN kê khai có đúng quy định hay không? kiểm tra về kê khai doanh thu,thuế đầu ra, thuế đầu vào được khấu trừ, kê khai thuế suất, các mặt hàng để hưởngthuế suất 0%, 5%, 10%, kê khai ưu đãi, miễn giảm…
Trang 34- Kiểm tra việc tính thuế: kiểm tra căn cứ tính thuế nhằm mục đích xác địnhđúng số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàntrong kỳ của DN Việc kiểm tra căn cứ tính thuế được thực hiện trên cơ sở kiểm tra
sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và các tài liệu có liên quan Thông qua việc kiểmtra, đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế doanh nghiệp đã kê khaivới số liệu kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của doanh nghiệp để pháthiện số thuế đơn vị kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu
- Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp: yêu cầu củanội dung này là xác định xem doanh nghiệp có thực hiện nghiêm túc quy định vềthời hạn nộp thuế của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếmdụng ngân sách Nhà nước làm vốn kinh doanh không, có nợ đọng thuế không Đểđạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời hạn nộp thuế theo quy định của các luậtthuế với thời gian nộp thuế doanh nghiệp qua các chứng từ nộp thuế như Giấy nộptiền vào Kho bạc, biên lai thuế nhằm phát hiện tình trạng nợ đọng, dây dưa, chây ìtiền thuế Đặc biệt chú trọng đến những doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm nhiềulần, với số tiền thuế vi phạm lớn, từ đó đưa ra kiến nghị xử lý, nhằm giảm thiểu tối
đa việc thất thoát tiền thuế của Nhà nước
Như vậy, việc kiểm tra NNT là công việc mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi cán
bộ kiểm tra phải nắm vững các văn bản pháp luật thuế, thông thạo nghiệp vụ kếtoán, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác
1.2.4 Quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
Quy trình kiểm tra thuế là trình tự và các bước công việc và thời gian thựchiện cụ thể, lô-gic và chặt chẽ, bắt buộc công chức thuế phải tuân thủ khi thực hiệncông tác kiểm tra thuế Để cụ thể hoá các quy định về công tác kiểm tra thuế theoquy định của Luật Quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế các cấp tại Việt Nam đangthực hiện công tác kiểm tra thuế theo Quy trình kiểm tra thuế được ban hành theoQuyết định số 746/QĐ-TCT ngày 20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế
Trang 35Sơ đồ 1.2: Quy trình kiểm tra thuế
Bước 1: Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
Cán bộ kiểm tra thuế sử dụng dữ liệu kê khai thuế của DN trong hệ thống cơ
sở dữ liệu của CQT, những dữ liệu thông tin của DN và thông tin liên quan đến việcxác định nghĩa vụ thuế của DN từ các nguồn thông tin của các cơ quan khác đểkiểm tra tất cả các hồ sơ khai thuế; phân tích, đánh giá lựa chọn các cơ sở kinhdoanh có rủi ro vềthuế
Đối với các hồ sơ khai thuế khai đầy đủ chỉ tiêu; đảm bảo tính hợp lý, chínhxác của các thông tin, tài liệu; không có dấu hiệu vi phạm thì cán bộ kiểm tra chấpnhận hồ sơ khai thuế đó
Đối với hồ sơ khai thuế, dữ liệu khai thuế nếu phát hiện thấy chưa chính xáchoặc có những chỉ tiêu cần làm rõ liên quan đến số thuế phải nộp; số tiền thuế đượcmiễn, giảm; số thuế được hoàn Cán bộ kiểm tra thuế phải báo cáo Lãnh đạo rathông báo bằng văn bản đề nghị DN giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu theomẫu quy định
Trang 36Trường hợp DN đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu chứng minh được sốthuế khai là đúng thì Bản giải trình, tài liệu bổ sung hoặc Biên bản làm việc (nếu làmviệc trực tiếp) được chấp nhận Trường hợp DN đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tàiliệu nhưng không chứng minh số thuế khai là đúng thì cán bộ kiểm tra thuế báo cáoLãnh đạo ra thông báo lần 2 yêu cầu DN tiếp tục giải trình hoặc bổ sung thêm thông tintài liệu Hết thời hạn theo thông báo lần 2 của cơ quan Thuế mà DN không giải trình,
bổ sung thêm thông tin tài liệu hoặc trong thời hạn theo thông báo của cơ quan Thuế,
DN giải trình, bổ sung thêm thông tin tài liệu nhưng không chứng minh được số thuếkhai là đúng thì cán bộ kiểm tra thuế báo cáo Lãnh đạo để ban hànhQuyết định ấn định
số thuế phải nộphoặc Quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT
Bước hai, kiểm tra tại trụ sở NNT
Đây là giai đoạn Đoàn kiểm tra tiếp xúc, làm việc trực tiếp với đối tượngđược kiểm tra, để trao đổi, thống nhất, các bộ phận của đối tượng được kiểm tra cótrách nhiệm làm việc với Đoàn kiểm tra để lên kế hoạch làm việc cụ thể, thống nhấtcác tài liệu cần phải cung cấp Từ đó Đoàn kiểm tra cho họ thấy rõ mục đích, yêucầu nội dung của cuộc kiểm tra Thu thập các thông tin cần thiết giúp cho Đoànkiểm tra tiến hành xác minh nhanh chóng và có đủ căn cứ pháp lý kết luận, chuẩnxác tính khách quan trung thực về nội dung kiểm tra Khi tiến hành tổ chức côngviệc tại khâu này cần chú ý tổ chức tập trung vào những vào những công việc trọngtâm tránh xa vào những việc, vụ việc nhỏ nhặt mới phát hiện, tránh việc trùng lặpkiểm tra đi kiểm tra lại để công tác kiểm tra được tiến hành liên lục, đúng tiến độ.Các nội dung được kiểm tra cần có sự xác minh cụ thể, rõ ràng, có hồ sơ tài liệuchứng minh Các hồ sơ chứng từ này được coi là tài liệu gốc, có ý nghĩa thiết thực
để lập nên Biên bản kiểm trabao gồm: Các tài liệu báo cáo của đơn vị lập theo yêucầu của Đoàn kiểm tra, các Biên bản làm việc giữa kiểm tra viên với đối tượng cóliên quan, các Biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu xác minh, các bản sao chụp, cáctài liệu có liên quan
Trang 37Trường hợp qua kiểm tra thuế mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có dấuhiệu trốn thuế, gian lận về thuế thì đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo thủ trưởngCQTra quyết định truy thu hoặc quyết định xử phạt về thuế hoặc chuyển cơ quancấp trên giải quyết.
Bước ba, tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuê
Đây là công việc tổng hợp kết quả kiểm tra, đưa ra các đề xuất, kiến nghịcác biện pháp giải quyết các vấn đề đã nêu trong Biên bản kiểm tra và phối hợp với
bộ phận Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế theo dõi và đôn đốc việc thực hiện nộpcác khoản thuế truy thu, truy hoàn, tiền phạt theo kết quả kiểm tra vào NSNN đúngquy định
Quy trình kiểm tra thuế được áp dụng sẽ tạo sự thống nhất trong việc thựchiện công tác kiếm tra trong toàn ngành Thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lýkịp thời các hành vi khai sai, gian lận, trốn thuế của DN Một quy trình được xâydựng rõ ràng, minh bạch và cụ thể sẽ góp phần nâng cao hiệu quả việc quản lý thuế
1.2.5 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Trong lĩnh vực thuế, hiệu quả của hoạt động kiểm tra thuế không chỉ xét đơnthuần theo giá trị bằng tiền mà là hiệu quả thực hiện các chính sách thuế, phát huycác tác dụng vốn có của mỗi loại thuế đối với sản xuất và đời sống xã hội, phục vụcông tác quản lý các đối tượng nộp thuế trong quá trình chấp hành pháp luật vềthuế trên cơ sở công tác quản lý thuế đạt được hiệu quả là tối đa với chi phí quản lý
ở mức tối thiểu Hiệu quả phải được xem xét trên các góc độ sau:
- Hiệu quả kinh tế: Khai thác đầy đủ kịp thời các khoản thu Luật định về thuếvào NSNN
- Hiệu quả xã hội: Kiểm tra thuế góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội
- Hiệu quả chính trị: là hiệu quả thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế
xã hội của Đảng và Nhà nước
Để đánh giá được hiệu quả của công tác kiểm tra thuế cần phải căn cứ vào hệthống các tiêu chuẩn, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc với sự kiểm soát chặt
Trang 38chẽ kết quả thu được cũng như chất lượng của cuộc kiểm tra đã được triển khai dựavào các tiêu chí sau:
Trang 39a Các chỉ tiêu định tính:
Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của hoạt động kiểm tra mà không thểhoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chínhtrịnhư:
+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật Tiêu chí này có thể đo lườngđược thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra thuếqua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được kiểm tra (mức độ tái phạm).+ Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; Tạo sự công bằng giữacác ĐTNT; Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thể đánh giá tác dụng nàythông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử lý vi phạmhành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt)
+ Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tincủa ĐTNT vào hoạt động kiểm tra Có thể đánh giá qua chỉ tiêu: Tỷ lệ cán bộ thuế
vi phạm pháp luật trong kiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chiatheo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và
xử lý
b Các tiêu chí định lượng:
Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế của nghiệp vụ kiểm tra thuế
đã được tiến hành Các tiêu chí này thường gồm:
- Đánh giá tình hình thu NSNN qua công tác kiểm tra thuế thể hiện qua sốtăng thu NSNN từ các DN được kiểm tra qua các năm
- Đánh giá tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra gồm cáctiêu chí như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/Tổng số đối tượng kiểm tra bìnhquân/kiểm tra viên hàng năm;
- Đánh giá hiệu quả trực tiếp của kiểm tra gồm các tiêu chí: thời gian thực hiệncuộc kiểm tra; tỷ lệ đối tượng kiểm tra chấp nhận hoàn toàn kết luận kiểm tra; tỷ lệ
số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng số thuế truy thu…
Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên, song trên thực
tế đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác kiểm
Trang 40tra Bên cạnh việc tính toán các chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơntính hiệu quả, cần phải so sánh với các năm trước để đánh giá xu hướng biến độngcủa các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác.
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.3.1 Nhân tố khách quan
Thứ nhất: Hệ thống chính sách pháp lý về thuế
Pháp luật thuế càng hoàn thiện thì càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy
đủ, vững chắc, làm cho hoạt động kiểm tra thuế được thuận lợi Pháp luật thuế thiếuminh bạch thì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranhluận không có hồi kết về mức độ đúng sai trong hành vi của DN và của CQT Phápluật không đầy đủ thì không có cơ sở pháp lý để tiến hành một số nội dung kiểm trathuế cần thiết
Thứ hai: Trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp
Người dân có tác động đến hoạt động kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i)
Họ là NNT, là đối tượng của kiểm tra thuế; (ii) Họ là quần chúng nhân dân có thôngtin về đối tượng kiểm tra Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ýthức chấp hành pháp luật tốt thì DN phối hợp tốt với cơ quan kiểm tra; tạo sự thuậnlợi cho công tác kiểm tra Hơn nữa, trình độ dân trí cao, ý thức chấp hành pháp luậtthuế tốt sẽ giúp giảm khối lượng công tác kiểm tra thuế Trên phương diện thứ hai,trình độ dân trí càng cao thì người dân càng chủ động đấu tranh chống các hành vi
vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, người dân sẽ tích cực giúp
đỡ CQT trong quá trình kiểm tra thuế
Thứ ba: Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có liên quan
Để tiến hành công tác kiểm tra thuế, CQT cần sự phối hợp của các cơ quanquản lý nhà nước như: công an, quản lý thị trường, kiểm tra, kho bạc, ngân hàng Hoạt động phối hợp có ý nghĩa quan trọng trong xác định thông tin về hoạt độngkinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của NNT Thậm chí trong một sốtrường hợp, hoạt động phối có còn có tác động trực tiếp đến việc có hay không hành