1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thép hòa phát

169 125 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế, đòi hỏi kế toánkhông chỉ cung cấp những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh trong DN mà còn phải cung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giá

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Khoá 2016 – 2018 : Trường Đại học Thương Mại

Tôi xin cam đoan:

1 Luận văn thạc sỹ kinh kế: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát” do chính tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tuấn Duy.

2 Các số liệu, tài liệu, dẫn chứng được sử dụng trong luận văn nàytrung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứunào trước đây

Hà nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Lệ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và bản luận văn này, bên cạnh những

nỗ lực của bản thân tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ tậntình của thầy cô, gia đình và bạn bề trong suốt quá trình học tập, công tác

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Duy.

Các thầy cô giáo khoa Sau đại học và khoa Kế toán Kiểm toán TrườngĐại học Thương mại Hà Nội

Lãnh đạo và toàn thể cán bộ kế toán, kỹ thuật đang công tác tại Công ty

cổ phần Thép Hòa Phát mà tác giả đã tiến hành khảo sát và các nhà khoa học,đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trìnhhọc tập, công tác và thực hiện luận văn thạc sĩ

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn bằng tất cả sựnhiệt tình và năng lực của bản thân, tuy nhiên Luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành đểbản Luận văn không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa caotrong hoạt động thực tiễn

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1

2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 7

7 Kết cấu đề tài nghiên cứu : 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 9

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất 9

1.1.1 Khái niệm, bản chất của KTQT 9

1.1.2 Nội dung của KTQT 11

1.1.3 Vai trò của KTQT đối với công tác quản trị trong các DN 16

1.2 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các DN sản xuất 18

1.2.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 18 1.2.2 Nhiệm vụ của KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm .20

Trang 4

1.3 kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các

DN sản xuất 21

1.3.1 Nhận diện và phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm phục

vụ quản trị DN 22 1.3.2 Xây dựng dự toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm 30 1.3.3 Thu thập thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục

vụ yêu cầu quản trị DN 32 1.3.4 Lập báo cáo và phân tích thông tin phục vụ việc ra quyết định 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP HÒA PHÁT 51 2.1 Tổng quan về Công ty và nhân tố ảnh hưởng đến KTQT chi phí giá thành tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát 51

2.1.1 Tổng quan về Công ty 51 2.1.2 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến KTQT chi phí giá thành tại Công ty

2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần thép Hòa Phát 86

Trang 5

2.3.1 Những ưu điểm 87 2.3.2 Những hạn chế 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 91 CHƯƠNG 3 CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP HOÀ PHÁT 92 3.1 Định hướng phát triển của Công ty và nguyên tắc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát 92

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát 92 3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát 93

3.2 Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát 94

3.2.1 Hoàn thiện nhận diện và phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm phục vụ quản trị DN 95 3.2.2 Hoàn thiện xây dựng định mức và lập dự toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm 97 3.2.3 Hoàn thiện thu thập thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ yêu cầu quản trị DN 101 3.2.4 Hoàn thiện phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ yêu cầu quản trị DN 108 3.2.5 Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 110

3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp 113

3.3.1 Đối với Công ty cổ phần thép Hòa Phát 113

Trang 6

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 1: Sơ đồ hạch toán và quá trình sản xuất (Mô hình cơ bản) 33

Sơ đồ 1.2: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc 39

Sơ đồ 1.3: Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành theo quá trình 42

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức công ty 55

Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ Hệ thống nấu quặng 57

Sơ đồ 2.3: Quy trình công nghệ Hệ thống nấu phôi thép 58

Sơ đồ 2.4: Quy trình cán thép 58

Trang 8

Sơ đồ 2.5: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 59

Bảng 2.1: Đánh giá kết quả thực hiện chi phí sản xuất 64

Bảng 2.2: So sánh tình hình thực hiện thực tế của sản phẩm thép phi 16 kích thước 11.7m 86

Bảng 3.1: Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ 97

với mức độ hoạt động 97

Mẫu 3 1: Phiếu xuất kho theo hạn mức 102

Mẫu 3 2: Phiếu lĩnh vật tư vượt định mức 103

Mẫu 3 3: Phiếu báo thay đổi định mức vật liệu 104

Mẫu 3 4: Báo cáo chi phí SXKD theo yếu tố 106

Bảng 3 2: Báo cáo chi phí SXKD theo khoản mục 107

Bảng 3.3: Báo cáo định chi phí SXKD theo yếu tố 108

Sơ đồ 3.1: Bộ máy kế toán 111

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam có rất nhiều công trình khoa học,luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ hay các bài viết trên tạp chí chuyên ngànhcủa các tác giả nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmđặc biệt là KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanhnghiệp Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến kế toán chi phí và giáthành sản phẩm:

Luận văn thạc sỹ: “ Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm phục vụ quản trị doanh nghiệp tại Công ty CP Xây DựngDịch Vụ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Nghệ An” (2013) của tác giảNguyễn Thị Trà Giang, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn đã đưa

ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị CPSX và giá thành sản phẩm tạiCông ty CP Xây dựng dịch vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An.Ngoài ra luận văn còn nêu rõ những điều kiện về phía nhà nước, các cơ quanban nghành, cũng như Công ty để đảm bảo các giải pháp hoàn thiện kế toánCPSX và giá thành sản phẩm tại Công ty được khả thi

Luận văn thạc sĩ năm 2014 của Lê Thị Hồng Hà “Tổ chức công tác kế

toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn”, luận văn thạc sĩ

năm 2014 của Bùi Lệ Giang “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần

bột giặt và hoá chất Đức Giang” Các công trình nghiên cứu này đã phân tích

rất chi tiết những lý thuyết cơ bản xung quanh vấn đề KTQT chi phí sản xuấtnhư: xây dựng các định mức tiêu chuẩn chi phí sản xuất, xây dựng các dựtoán chi phí sản xuất, phương pháp thu thập thông tin và phân tích thông tinphục vụ ra quyết định… Từ đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoànthiện KTQT chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm sản xuất của từng đơn vị

mà các tác giả đã nghiên cứu Tuy nhiên, các luận văn này mới chỉ nghiên

Trang 10

cứu nội dung KTQT chi phí sản xuất mà chưa đề cập đến KTQT giá thành sảnphẩm trong doanh nghiệp và mô hình KTQT chi phí sản xuất hiện đại.

Tác giả Đặng Thị Dịu (2014) với bài viết về Triển khai ứng dụng một sốnội dung của KTQT chi phí trong các DN xây lắp tỉnh Thái Nguyên, từ việcđánh giá thực trạng, tác giả đưa ra giải pháp để triển khai ứng dụng nội dungcủa KTQT chi phí trong các DN xây lắp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về: tổchức bộ máy KTQT, phân loại chi phí, hạch toán chi phí, đánh giá hiệu quảhoạt động của các bộ phận Đồng thời tác giả cũng chỉ ra điều kiện để áp dụngKTQT chi phí cho các doanh nghiệp này

Luận văn thạc sỹ: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Diesel Sông Công” (2016)của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, Trường Đại Học Thương Mại Luận văn

đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về KTQT CPSX và giá thành sảnphẩm, phân tích đánh giá thực trạng KTQT chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Diesel Sông Công, đưa racác giải pháp hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả

Bài viết của NCS.Đinh Thị Kim Xuyến trên tạp chí Nghiên cứu Tài

chính Kế toán số 04 (129) năm 2014 “Kế toán quản trị chi phí và giá thành

trong các doanh nghiệp viễn thông di động tại Việt Nam” Bài viết đã dưa ra

được những giải pháp nhằm hoàn thiện đối tượng hạch toán chi phí, phươngpháp tính giá thành; hoàn thiện phân loại chi phí; hoàn thiện xây dựng địnhmức chi phí, lập dự toán và phân tích chênh lệch Tuy nhiên, phần thực trạng,tác giả vẫn chưa cho thấy rõ công tác KTQT chi phí và giá thành trong các

DN viễn thông di động

Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra một số vấn

đề cơ bản về KTQT CPSX và giá thành sản phẩm và đã có các đề xuất nhằm

Trang 11

hoàn thiện vấn đề này Các đề tài đều trình bày được cơ sở lý luận về KTQTCPSX và giá thành sản phẩm; các đề tài đã đưa ra được thực trạng KTQTCPSX và giá thành sản phẩm tại các đơn vị được nghiên cứu, từ đó đánh giáđược những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân củanhững hạn chế đó; các đề tài đã đưa ra được phương hướng cũng như giảipháp hoàn thiện kế toán CPSX và giá thành sản phẩm dựa trên đặc điểm vàđịnh hướng phát triển của các đơn vị được nghiên cứu Nhưng bên cạnhnhững mặt đạt được, các đề tài vẫn còn những hạn chế nhất định như: Đốitượng nghiên cứu đều xem xét trên hai góc độ KTTC và KTQT Tuy nhiênnội dung các luận văn đều không trình bày rõ ràng từ việc phân loại chi phí,phân loại giá thành đến thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng đó, qua tìm hiểu thực tế tại Công

ty cùng với việc sử dụng các kiến thức của bản thân và nghiên cứu các tài liệu

chuyên ngành có liên quan, tác giả đã lựa chọn đề tài “kế toán quản trị chi

phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát”.

2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Trước những năm 1986 nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung, trong hệ thống lý luận cũng như thực tiễn về kế toán người tachỉ sử dụng duy nhất khái niệm “Kế toán” để nói về hệ thống kế toán DN.Đến nay, kinh tế nước ta đã và đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng đadạng hoá các thành phần kinh tế, đặc biệt là có sự tham gia của các công tyliên doanh, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài làm cho hệthống kế toán trong các DN đã ít nhiều có sự thay đổi nhằm đảm bảo được vaitrò quan trọng của nó Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế, đòi hỏi kế toánkhông chỉ cung cấp những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh trong

DN mà còn phải cung cấp thông tin cụ thể về chi phí, giá thành, doanh thu vàkết quả của DN để các nhà quản trị DN có thể kiểm tra, ra quyết định về giá

Trang 12

cả, đầu tư và lựa chọn phương án sản xuất Chính vì vậy kế toán quản trị(KTQT) đã ra đời và tồn tại cho đến nay như một tất yếu khách quan.

KTQT nói chung và KTQT chi phí sản xuất và giá thành nói riêng trongcác DN có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thiết lập hệ thống thông tin mộtcách chi tiết phục vụ cho việc điều hành và quản lý nội bộ DN Tuy nhiên, dođặc thù về hoàn cảnh ra đời cũng như mục đích trong việc cung cấp thông tin,cho đến nay khái niệm về KTQT nói chung và KTQT chi phí, giá thành nóiriêng vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ trong hầu hết các DN Điềunày cho thấy công tác về quản trị trong hệ thống kế toán ở nước ta còn chưathật phát huy được vai trò của mình, đòi hỏi các nhà quản lý DN phải luôn cócái nhìn đúng đắn để có thể sử dụng thông tin một cách hữu ích nhất và raquyết định một cách chính xác nhất

Một DN muốn tồn tại và đứng vững phải tự chủ trong mọi hoạt độngSXKD (SXKD) của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức sản xuất đến việc tiêuthụ sản phẩm Để cạnh tranh trên thị trường, các DN phải không ngừng nângcao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã sao cho phù hợp với nhu cầu vàthị hiếu của người tiêu dùng Một trong những phương pháp hữu hiệu nhất màcác DN có thể sử dụng để cạnh tranh đó là biện pháp hạ giá thành sản phẩm

Do đó việc nghiên cứu tìm tòi và tổ chức hạ giá thành sản phẩm là rất quantrọng đối với các DN sản xuất

Để đạt được mục tiêu đó, các DN phải quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất,bên cạnh đó tìm ra các biện pháp tốt nhất để giảm chi phí không cần thiết,tránh lãng phí Vì vậy, trong công tác quản lý DN, KTQT chi phí và tính giáthành sản phẩm là công việc luôn được các nhà quản trị DN quan tâm vì nóchi phối đến chất lượng, hiệu quả hoạt động SXKD của DN Đồng thời thôngqua thông tin mà KTQT chi phí và tính giá thành sản phẩm cung cấp giúp chocác nhà quản trị đưa ra được quyết định phù hợp cho sự phát triển SXKD vàyêu cầu quản trị DN

Trang 13

Công ty cổ phần Thép Hòa Phát là một đơn vị có quy mô lớn về lĩnh vựcsản xuất các sản phẩm thép cũng không đặt ngoài phạm vi đó Công tácKTQT CPSX và giá thành sản phẩm tại Công ty hiện nay đã và đang đượclãnh đạo Công ty quan tâm và mong muốn tìm được những giải pháp hữuhiệu cho vấn đề quan trọng này

Xuất phát từ tầm quan trọng của KTQT CPSX và giá thành sản phẩm,những hạn chế, tồn tại trong KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tạiCông ty thì việc nghiên cứu và tìm ra biện pháp khắc phục là điều rất cần

thiết Vì vậy, Học viên đã chọn đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và

giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát” làm đề tài cho Luận

văn thạc sĩ của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xuất phát từ tính cần thiết khách quan của KTQT CPSX và tính giáthành sản phẩm trong các DN sản xuất nói chung và của Công ty cổ phần thépHòa Phát nói riêng, việc nghiên cứu đề tài này nhằm những mục tiêu cụ thể :

- Về lý luận: hệ thống hoá lý luận về KTQT CPSX và giá thành sảnphẩm trong các DN sản xuất

- Về thực tiễn: Mô tả, phân tích thực trạng KTQT CPSX và giá thànhsản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát Đánh giá và phát hiện ra các ưu,nhược điểm còn tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT CPSX

và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp cơ bản chủ yếu vận dụng để nghiên cứu luận văn làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng với các nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác – Lênin

Trong luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:Phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát,

so sánh, đánh giá dựa trên những tài liệu sẵn có của đơn vị mà rút ra kết luận

Trang 14

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Để thu thập các thông tin, hệ thống

lý luận chung về kế toán CPSX và giá thành sản phẩm và thực trạng công tácKTQT CPSX và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần thép Hòa Phát, tácgiả đã thực hiện qua nhiều kênh khác nhau như: Nghiên cứu các quy định kếtoán, chế độ kế toán, tham khảo các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viếttrên các tạp chí kinh tế và các văn bản pháp luật có liên quan Đồng thời, tácgiả còn tiến hành nghiên cứu các tài liệu của Công ty Cổ phần thép Hòa Phát,liên quan đến các nội dung như: Quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm

tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh…

+ Phương pháp phỏng vấn: Tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp và giántiếp Tổng giám đốc, kế toán trưởng, nhân viên kế toán tổng hợp và kế toán vật

tư Công ty Cổ phần thép Hòa Phát

+ Phương pháp quan sát: Tác giả tiến hành thực hiện phương pháp quansát trực tiếp tại công ty Mục đích của phương pháp này là thông qua việcquan sát trực tiếp thực trạng KTQT CPSX và tính giá thành sản phẩm tại công

ty để so sánh đối chiếu với tài liệu do công ty cung cấp

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: Tổng hợp các tài liệu thu

được, hệ thống thành các nhóm vấn đề để mô tả thực trạng theo nhóm các vấn

đề được hệ thống Từ đó, tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu giữa thực tế hoạtđộng sản xuất của DN với quy định trong chế độ kế toán, chuẩn mực kế toánhiện hành Phân tích các dữ liệu đã thu thập được từ đó đưa ra các kết luận,các đề xuất phù hợp để khắc phục những tồn tại mà DN đang gặp phải

+ Phương pháp so sánh: Với các dữ liệu trên cơ sở đã phân nhóm các dữliệu tác giả tiến hành so sánh giữa cơ sở khoa học lý thuyết, các quy định, chế

độ kế toán với việc thực hiện trên thực tế tại công ty

+ Phương pháp phân tích, đánh giá: Căn cứ vào những dữ liệu đã thuthập được, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra các nhận xét về vấn

Trang 15

đề nghiên cứu Nếu có nghi ngờ hoặc cảm thấy chưa đủ thông tin đưa ra nhậnđịnh thì tiến hành điều tra lại để làm rõ thêm vấn đề nghiên cứu.

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng KTQT CPSX và giá thành

sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát năm

2016, 2017

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.

Hệ thống hoá một số lý luận chung về KTQT CPSX và tính giá thànhsản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

Đề tài đưa ra nhận xét, đánh giá về thực trạng KTQT CPSX và tính giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát Trên cơ sở đó chỉ ra nhữngtồn tại, nguyên nhân tồn tại trong KTQT CPSX và giá thành sản phẩm, từ đó đềxuất những giải pháp và điều kiện thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiệnKTQT CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

7 Kết cấu đề tài nghiên cứu :

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo,bài nghiên cứu được chia làm 3 chương với nội dung như sau:

- Chương 1 Một số lý luận cơ bản về KTQT CPSX và tính giá thành

sản phẩm trong các DN

Nội dung chương 1 đề cập đến những vấn đề cơ bản của KTQT, nộidung của kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm Đây là tiền đề cho việcnghiên cứu thực trạng công tác KTQT CPSX và tính giá thành sản phẩmtrong các DN sản xuất, cũng như là cơ sở cho việc đưa ra những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả của KTQT CPSX và tính giá thành sản phẩm

Trang 16

- Chương 2 Thực trạng KTQT CPSX và tính giá thành sản phẩm

tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

Thông qua việc tổng hợp, thu thập và phân tích dữ liệu, chương 2 chothấy cụ thể hơn về công tác KTQT CPSX và tính giá thành sản phẩm tại DNđiển hình là Công ty cổ phần thép Hòa Phát Từ đó phân tích để đưa ra nhữngđiểm mạnh và những điểm còn hạn chế trong KTQT CPSX và tính giá thànhsản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát

- Chương 3 Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản

trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần thép Hòa Phát.

Trong chương này, đề tài nghiên cứu đưa ra những cái nhìn khách quancũng như tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toánquản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đối với DN điển hình làCông ty cổ phần thép Hòa Phát

Trang 17

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất

1.1.1 Khái niệm, bản chất của KTQT

Trên thị trường hiện nay để có thể tồn tại và phát triển một cách bềnvững, các DN cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra và duy trì các lợi thếcạnh tranh so với các DN trong ngành Để làm được điều này, các nhà quảntrị DN cần xây dựng và phát triển hệ thống kế toán một cách hiệu quả nhất

Kế toán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh

tế, tài chính Để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững, các DN cầnnâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh so vớicác DN trong ngành Như vậy, KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thốngthông tin kế toán nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các DN kinhdoanh Thông tin KTQT với chức năng cơ bản nhất là công cụ hữu hiệu đểcác cấp quản lý đưa ra quyết định điều hành mọi hoạt động nhằm hướng tớimục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Cho đến nay tồn tại rất nhiều quan điểm khácnhau về KTQT, có thể đưa ra một số định nghĩa sau đây về KTQT:

Theo giáo sư, tiến sỹ Ronald W.Hilton thuộc trường Đại học Cornell –

Mỹ thì: “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổchức, mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt độngcủa tổ chức” [5 - tr10]

Theo các giáo sư, tiến sỹ: Jack J.Smith; Robert M.Keith và William.

L.Slephens ở trường Đại học South – Floria, thì “KTQT là một hệ thống kế

toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần đểhoạch định và kiểm soát” [5 - tr10]

Trang 18

Theo Ray.H.Garrosonviết trong cuốn Managerial Accounting của nhà xuất bản McGraw – Hill năm 2008:: “ KTQT có liên hệ với việc cung cấp cho

các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểmsoát” [5 - tr10]

Theo luật kế toán Việt Nam (năm 2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTCngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN :

“KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tàichính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn

vị kế toán”

“KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin địnhlượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Cácthông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đếnviệc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiệncác hoạt động của đơn vị nhẳm tối ưu hóa các mục tiêu.” (5, tr10)

Theo tập thể tác giả Kế toán trường Đại học Thương mại viết trong giáotrình KTQT năm 2011 thì: “KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán DN,

có chức năng thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thỏa mãn nhu cầu của cácnhà quản trị DN, là những người mà các quyết định và hành động của họ cóliên quan trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của DN”

Từ những quan điểm trên có thể rút ra định nghĩa về KTQT như sau:

“KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế về tình hình

hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, qua đó giúp cho nhà quản trị DN nắm bắt, đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của DN cũng như có cơ

sở để lập kế hoạch và đưa ra các quyết định kinh doanh”.

Bản chất của KTQT thể hiện qua các đặc trưng sau:

- KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của DN, đồngthời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ

Trang 19

DN KTQT được coi như một hệ thống nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý raquyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong DN.

- KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trongphạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một DN Người sử dụng thông tin doKTQT cung cấp là những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý trong DN

- Thông tin của KTQT là nguồn thông tin chủ yếu giúp cho nhà quản trịthực hiện các chức năng quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức và điều hành thựchiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và ra quyết định

Phân biệt KTTC với KTQT

- Kế toán được phân loại thành KTTC (KTTC) và KTQT KTTC liênquan tới quá trình báo cáo hoạt động của một DN cho các cá nhân ở bênngoài Thông tin được trình bày dưới dạng các báo cáo tài chính KTQT baogồm việc tập hợp các thông tin kế toán cho những người sử dụng trong nội bộnhư giám đốc, các giám sát viên Thông tin được sử dụng chủ yếu để giúp choviệc vận hành công việc kinh doanh của DN

- KTTC và KTQT cũng còn khác nhau về đặc điểm của thông tin KTTCtrước hết liên quan đến việc báo cáo các sự kiện mà có thể biểu hiện bằng giátrị KTQT thì bao gồm cả việc báo cáo các sự kiện theo hình thái vật chất.Hình thái vật chất có thể là tổng số giờ lao động của nhân viên trong đơn vị

đã làm việc trong một tháng nào đó hay số nguyên vật liệu được dùng để sảnxuất… Cuối cùng, KTTC thường có các nhân viên kế toán để lập các báo cáohàng năm cho các cổ đông và các tổ chức tài chính KTQT thì liên quan tớicác báo cáo của một kỳ trong thời gian ngắn hơn, thí dụ như tháng, tuần hoặc

cả ngày

1.1.2 Nội dung của KTQT

KTQT cung cấp thông tin một cách cụ thể, chi tiết theo yêu cầu quản lýcủa từng đơn vị Thông tin KTQT không chỉ là thông tin về giá trị mà còn bao

Trang 20

gồm cả những thông tin khác như hiện vật hoặc thời gian lao động và phải đặttrọng tâm cho tương lai Nội dung của KTQT phải được xác định theo yêucầu cụ thể nhằm phát huy tác dụng đích thực của nó trong công tác quản trị.

Về cơ bản nội dung KTQT như sau:

Nếu xét theo mối quan hệ giữa KTTC và KTQT về nội dung các thôngtin mà KTQT cung cấp thì KTQT DN gồm:

- KTQT các yếu tố SXKD như hàng tồn kho, tài sản cố định, chi phí, laođộng và tiền lương

- KTQT chi phí và giá thành sản phẩm

- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh

- KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính

- KTQT các hoạt động khác của DN

Nếu xem xét quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý,KTQT bao gồm các khâu:

Nội dung của kế toán quản trị gồm[5 –tr.12]:

“Lượng hóa và xây dựng dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt độngcủa DN”

“Phân loại và kiểm soát chi phí theo từng loại, từng thành phần, yếu tốchi phí Tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từngcông việc, từng hoạt động dịch vụ.”

“Kiểm soát và cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các dự toán,phân tích giải trình các nguyên nhân gây chênh lệch giữa thực hiện với dựtoán”

“Thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cần thiết, thích hợp giúp các nhàquản trị lựa chọn quyết định kinh doanh hợp lý”

Nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp phải có ích và phù hợp vớitừng bước trong quá trình ra quyết định của nhà quản trị

Trang 21

Xác lập các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản trị.

Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản, được đặt lên hàng đầu và được coi làcương lĩnh hoạt động của mọi DN Từ mục tiêu chung đã xác định sẽ đượcnhà quản trị chính thức hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể Các chỉ tiêu kinh

tế cơ bản được xác lập là chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và không thể bỏ quachỉ tiêu về chi phí Các chỉ tiêu này có mối quan hệ với nhau, chi phối lẫnnhau tạo thành hệ thống các chỉ tiêu và góp phần đảm bảo cho DN thực hiệnđược phương án tối ưu trong kinh doanh Để đạt được các mục tiêu cũng nhưthực hiện tốt các chỉ tiêu đã xác định, các nhà quản trị cần phải phác thảo nêncác bước thực hiện chi tiết theo từng nội dung và từng bộ phận sao cho phùhợp với mục tiêu

Xây dựng các dự toán SXKD.

“Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động

và sử dụng những nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu đã đề ra.” [ tr148] Các chỉ tiêu đã xác định trở thành căn cứ để lập kế hoạch chính thức.Trên cơ sở đó, kế toán soạn thảo văn bản và triển khai bản dự toán chung vàcác bản dự toán chi tiết để làm căn cứ tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giátrong quá trình thực hiện kế hoạch

5-Trong các DN, bao gồm các loại dự toán: “Dự toán tiêu thụ”, “dự toánsản xuất”, “dự toán mua nguyên vật liệu (NVL)”, “dự toán chi phí NVL trựctiếp”, “dự toán chi phí lao động trực tiếp”, “dự toán chi phí sản xuất chung”,

“dự toán hàng tồn kho cuối kỳ”, “dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lýDN”, “dự toán tiền mặt” và “dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”.[5-tr149]

Lập dự toán SXKD trước hết phải xuất phát từ đơn vị cấp cơ sở Các đơn

vị cơ sở căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý cụ thể của mình,nghiên cứu tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình

Trang 22

SXKD để lập dự toán về các chỉ tiêu quản lý, chuyển cho đơn vị cấp trên xemxét và phê chuẩn, nhằm ngăn chặn việc dự toán quá thấp dẫn tới hoạt độngkhông hiệu quả và lãng phí Sau khi đã hoàn chỉnh, được duyệt thì sẽ trởthành dự toán chính thức.

“Trong quá trình xây dựng dự toán, lấy định mức thực tế làm cơ sở đểphân tích so sánh giữa thực hiện với định mức Kết quả tìm được phản ánhnhững hiện tượng không bình thường, những chỗ kém hiệu quả cần xem xét,tìm biện pháp khắc phục hay những tiềm năng cần phát huy Định mức thực

tế còn là cơ sở để các nhà quản trị tiên liệu lập kế hoạch hàng tồn và kế hoạchdòng tiền.” [5- tr150]

Tóm lại, hoạt động của DN là một hoạt động có định hướng bằng kếhoạch dài hạn và được thực hiện thông qua các giai đoạn nối tiếp nhau trongcác kỳ kế hoạch ngắn hạn Việc lập dự toán theo một trình tự nhất định và tuỳtheo trình độ cụ thể, đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng DN để có thể sửdụng các phương pháp thích hợp

Thu nhập các thông tin thực hiện phục vụ yêu cầu quản trị

Nội dung của việc thu thập các thông tin thực hiện phục vụ yêu cầu quảntrị bao gồm:

Thu thập các thông tin ban đầu chủ yếu dựa trên chứng từ của KTTC.Tuy nhiên cần bổ sung thêm thông tin về định mức và chênh lệch giữa thực tếvới định mức

Xử lý hệ thống hoá thông tin trên tài khoản và sổ kế toán, do đó tàikhoản và hệ thống sổ kế toán được KTQT mở chi tiết hơn so với KTTC, sửdụng hỗn hợp cả thước đo hiện vật và thước đo tiền tệ để ghi chép nội dungcho phù hợp với việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin cụ thể Đặcbiệt các chỉ tiêu phản ánh trong sổ KTQT vừa phải thể hiện được số dự toán,vừa phải thể hiện được số thực tế

Trang 23

Báo cáo KTQT DN là phương tiện truyền đạt thông tin đến các nhà quảntrị, chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện Đặc biệt trong báo cáo KTQT, ngoài việcghi chép bằng số liệu cụ thể, có phần diễn giải bằng lời văn, nêu rõ ưu nhượcđiểm và kiến nghị phương án quản lý tối ưu theo từng chỉ tiêu báo cáo nhằmgiúp nhà quản trị lựa chọn phương án quản lý tối ưu theo từng chỉ tiêu báocáo, lựa chọn phương án đúng đắn và có cơ sở khoa học để thực hiện chứcnăng ra quyết định.

Tổ chức phân tích thông tin phục vụ yêu cầu quản trị.

“Để phục vụ cho quá trình phân tích các phương án kinh doanh nhằm raquyết định đúng đắn, nhà quản trị cần phải thu thập, xem xét từ nhiều nguồnthông tin khác nhau Tổng hợp các nguồn thông tin này sẽ giúp cho nhà quảntrị có được cách nhìn toàn diện và tổng thể về phương án cần xem xét Tuynhiên, trong tổng số các thông tin thu được thì việc sử dụng thông tin nào làthích hợp và cần thiết cho việc ra quyết định là vấn đề vô cùng quan trọng đốivới nhà quản trị Chính vì vậy, cần có sự lựa chọn những thông tin thích hợptrong các quyết định quản trị” [5 – tr182, 183] Phân tích thông tin phục vụyêu cầu quản trị được tổ chức như sau:

- Với thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch Đối với những thông tinnày sẽ cung cấp cho các nhà quản trị có cơ sở lập các kế hoạch ngắn hạn, dàihạn Theo đó KTQT cần phân tích những thông tin chủ yếu liên quan tới chiphí và lợi nhuận của từng hoạt động, để phục vụ cho việc phân tích và hướngdẫn cho việc lập kế hoạch

- Để giúp cho các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát thực tếxem xét có phù hợp với kế hoạch hay không, kế toán phải tổng hợp và phântích nhóm thông tin cho việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thông quacác báo cáo thực hiện Trong đó so sánh những kết quả thực tế đạt được với

dự toán, liệt kê tất cả những sự khác biệt và đánh giá tình hình thực hiện

Trang 24

Những thông tin phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch này còn là công cụ đểhoàn thiện hơn việc tổ chức quá trình hạch toán.

- Quyết định của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạtđộng của một tổ chức không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai Vì vậy,

kế toán phải sử dụng và phân tích những thông tin có thể hỗ trợ cho việcchứng minh các quyết định trong SXKD (SXKD) Chúng sẽ được tổng hợp vàtrình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vồn,tình hình kết quả hoạt động sản suất kinh doanh của DN trong một kỳ hạchtoán Từ đó cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánhgiá tình hình và kết quả hoạt động, đánh giá thực trạng tài chính của DN trong

kỳ đã qua và dự toán trong tương lai

1.1.3 Vai trò của KTQT đối với công tác quản trị trong các DN

KTQT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thông tin của một DN

và các nhà quản lý phải dựa vào các thông tin này để hoạch định và kiểm soátcác hoạt động của DN đó KTQT không chỉ thu nhận, xử lý, cung cấp thôngtin quá khứ về tình hình quản lý và sử dụng tài sản trong một đơn vị mà cònthu nhận, xử lý, cung cấp thông tin mang tính chất dự báo tương lai đến tàisản và hoạt động của đơn vị, phục vụ cho nhà quản trị trong việc hoạch định,lập kế hoạch và dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá hoạt động củađơn vị Trên thực tế, các thông tin về KTQT đóng một vai trò thiết yếu để cácnhà quản lý có thể đưa ra các quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanhcủa DN Vai trò của thông tin KTQT đối với các chức năng quản lý được thểhiện trong các khâu của quá trình quản lý cụ thể như sau:

Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán.

Lập kế hoạch tại DN bao gồm: việc xây dựng chiến lược, lựa chọnphương hướng hành động và cụ thể hoá các hành động cần triển khai Một bộphận quan trọng trong hoạt động lập kế hoạch là việc xây dựng các giải pháp

Trang 25

và lựa chọn trong số đó giải pháp phù hợp nhất với chiến lược và mục tiêuphát triển của DN Trong việc lập kế hoạch, nhà quản trị phải đề ra đượcnhững bước cần làm để đưa hoạt động của DN hướng về các mục tiêu đã xácđịnh Để ra quyết định, nhà quản trị phải cân bằng giữa những lợi ích tiềmnăng do thị trường mới mang lại và các chi phí, nguồn lực hiện có của DN.Trong số các dữ liệu quá khứ cần xem xét, KTQT chi phí cung cấp thông tincho các nhà quản trị về doanh số bán hàng, lợi nhuận và các chi phí sản xuấtkinh doanh Trên cơ sở các dữ liệu này, các nhà quản trị sẽ hoạch định ra các

kế hoạch hoạt động trong tương lai của DN

Cung cấp thông tin cho quả trình tổ chức thực hiện

Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch đã được lập đầy đủ và hợp

lý, nhà quản trị phải kiểm tra và đánh giá từng bước thực hiện đảm bảo kếhoạch được thực hiện ở mức tốt nhất và hiệu quả nhất Do đó, nhà quản trịcần được KTQT cung cấp các báo cáo thực hiện để so sánh với kế hoạch đãlập, giúp nhận diện vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý Các báocáo này có tác dụng như một hệ thống phản hồi để nhà quản trị biết được kếhoạch đang được thực hiện như thế nào, đồng thời nắm được các vấn đề hạnchế cần có sự điều chỉnh và thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức vềmục tiêu đã xác định

Cung cấp thông tin trong quá trình ra quyết định

Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp phục vụ chức năng ra quyết địnhcủa nhà quản trị Để có được các quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhàquản trị cần phải có các thông tin đầy đủ, có đủ độ tin cậy và thích hợp.Những thông tin thích hợp thoả mãn nhu cầu ra quyết định của nhà quản trịthường không có sẵn Do đó, KTQT phải thực hiện các nghiệp vụ phân tíchchuyên môn, chọn lọc những thông tin cần thiết và thích hợp, rồi tổng hợptrình bày và gải thích cho các nhà quản trị

Trang 26

Tóm lại, hoạt động quản trị DN là một quá trình liên tục từ lập kế hoạch,

tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định KTQT luôn cung cấp thông tin

cụ thể cho từng khâu của quá trình đó, có thể nói KTQT là một công cụ, mộtphương pháp xử lý các dữ liệu về hoạt động kinh tế tài chính của DN để làm

cơ sở cho việc ra quyết định quản trị hợp lý nhằm phát triển DN theo chiềuhướng có lợi nhất

1.2 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán quản trị chi phí sản xuất

và giá thành sản phẩm trong các DN sản xuất

1.2.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Kế toán quản trị CPSX và GTSP là một bộ phận rất quan trọng của hệthống KTQT Xuất phát điểm của KTQT là kế toán chi phí, nghiên cứu chủyếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sảnxuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho vàKQKD theo từng hoạt động Ngày nay, KTQT ngày càng phát triển theohướng trở thành công cụ quản lý không thể thiếu trong mỗi DN, kế toán quảntrị CPSX & GTSP càng giữ vai trò quan trọng hơn trong công tác quản trị tạicác DN sản xuất

Đối với nhà quản lý, các thông tin về chi phí, giá thành là mối quan tâmhàng đầu vì chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Do đó, vấn đề đặt ra

là làm sao kiểm soát được chi phí Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tậphợp được, các nhà quản lý có thể luôn biết được hoạt động và kết quả thực tế,

từ đó đề ra các biện pháp có hiệu quả, kịp thời nhằm hạ thấp CPSX và giáthành sản phẩm, đề ra các quyết định phù hợp với phát triển sản xuất kinhdoanh và yêu cầu quản trị DN Việc phân tích đánh giá đúng kết quả hoạtđộng SXKD chỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác Về phía mìnhgiá thành sản phẩm lại phải chịu sự ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sảnxuất Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá

Trang 27

thành sản phẩm sẽ đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấuthành trong giá thành sản phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí đã đượcchuyển dịch vào sản phẩm có ý nghĩa quan trọng và sẽ cung cấp được nhữngthông tin trọng yếu cho nhà quản trị ra các quyết định.

“Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phíthích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị DN.”[1, tr 286]

Mục tiêu của các nhà quản trị DN là luôn hướng tới tối đa hóa lợi nhuận

Vì vậy, các nhà quản trị DN cần phải quản lý “chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm” để biết được DN đang phát sinh những khoản mục chi phí nào vớimức độ cao hay thấp và kết quả sản xuất kinh doanh như thế nào? Nhưng,nếu như các nhà quản trị chỉ có bằng đó thông tin thì chưa thể đảm bảo manglại hiệu quả cho quá trình SXKD của DN Vì vậy, yêu cầu của quản lý DN làcần phải cụ thể hóa các khoản mục về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmcủa từng loại sản phẩm hoặc dịch vụ

KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là nội dung vô cùng quantrọng trong công tác tổ chức kế toán của DN và mang lại ý nghĩa to lớn chocác nhà quản trị DN Để đạt được mục đích này, việc tổ chức KTQT chi phí,giá thành cần phải đảm bảo được các yêu cầu sau: [10, tr 7]

“Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình chi phí, giá thành củadoanh nghiệp cho các cấp quản trị”

“Cung cấp kịp thời và đầy đủ về định mức chi phí, dự toán, kế hoạch đểcác nhà quản trị có phương hướng phân tích, đánh giá, đưa ra các quyết địnhphù hợp”;

“Các thông tin cung cấp về chi phí, giá thành đều phải xuất phát từ nhucầu của các nhà quản trị và đặc thù kinh doanh cụ thể của các doanh nghiệp”;

Trang 28

“Thông tin cung cấp về chi phí và giá thành phải thuận tiện cho quá trìnhphân tích, đánh giá đưa ra các quyết định phù hợp cho từng mục tiêu khác nhau”

1.2.2 Nhiệm vụ của KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

KTQT là công cụ quan trọng không thể thiếu trong công tác quản lý nội

bộ DN Để hoạt động quản lý DN đạt hiệu quả cao, các DN cần thiết phải tổchức hệ thống KTQT Hệ thống KTQT DN trước hết phải thiết lập hệ thống

dự toán ngân sách phù hợp với mục tiêu và điều kiện cụ thể của DN theo từngthời kỳ, bao gồm dự toán chi phí, dự toán doanh thu và kết quả , sau đó phảitheo dõi suốt quá trình thực hiện các dự toán từ khâu thu mua NVL, hàng hóa;quá trình sản xuất, tính toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm; cho đếnkhâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, xác định kết quả kinh doanh theo từng loạisản phẩm, hàng hóa, từng hoạt động dịch vụ Từ đó, KTQT phải phân tíchtình hình thực hiện dự toán, rút ra nguyên chênh lệch giữa thực hiện với dựtoán, kết hợp với việc thu thập xử lý những thông tin cần thiết khác (tình hìnhthị trường, giá cả, chính sách tiếp thị, cạnh tranh, chính sách kinh tế của Nhànước ) để giúp các nhà quản trị DN dự kiến phương hướng phát triển của

DN trong tương lai

Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí, giá thành:

Lập các dự toán ghi chép số liệu chi tiết theo từng chỉ tiêu đã lập dựtoán, phân tích số liệu đã lập báo cáo KTQT, cung cấp thông tin chi tiết vềtình hình thực hiện các chỉ tiêu liên quan

Xây dựng các định mức chi phí chuẩn, hệ thống dự toán ngân sách khoahọc, kế hoạch phù hợp trong một kỳ xác định

Tổ chức, phối hợp thực hiện tốt các khâu công việc trong doanh nghiệpnhằm đạt được các mục tiêu tối thiểu hóa chi phí

Thu thập, xử lý thông tin về tình hình biến động của chi phí theo phạm vi

bộ phận và toàn doanh nghiệp

Trang 29

Kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các định mức chi phí, dự toán ngânsách, kế hoạch đã xây dựng.

“Phân tích đánh giá thông tin, cung cấp cho các nhà quản trị thông qua hệthống báo cáo kế toán quản trị Tư vấn cho các nhà quản trị đưa ra quyết định”Mục đích của KTQT trong lĩnh vực chi phí là nhằm cung cấp thông tin thíchhợp, hữu ích và kịp thời cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quảntrị Vì thế, đối với KTQT, chi phí không chỉ đơn giản được nhận thức theoquan điểm của KTTC, mà nó còn phải được nhận diện theo nhiều phươngdiện khác nhau để đáp ứng thông tin một cách toàn diện cho các nhà quản trịtrong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định Khi nhận thức chi phí theoquan điểm KTQT, chúng ta còn phải chú trọng đến mục đích sử dụng, đếnnhu cầu quản của các nhà quản trị cũng như ảnh hưởng của môi trường kinhdoanh đến sự hình thành và biến động của chi phí chứ không chỉ căn cứ vàochứng từ Do đó, việc phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằmđáp ứng mục tiêu quản lý khác nhau là một yêu cầu cần thiết của KTQT chiphí sản xuất

1.3 kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các DN sản xuất.

KTQT có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin vềhoạt động của DN, giúp các nhà quản lý thực hiện chức năng quản trị DN Đa

số các thông tin mà các nhà quản lý cần thường có liên quan tới các chi phícủa DN vì chi phí là nhân tố có ảnh hưởng xuất trực tiếp đến lợi nhuận thuđược Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thể kiểm soát được tất cả cáckhoản chi phí Nhận diện, phân tích các hoạt động phát sinh ra chi phí là điềumấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn tronghoạt động sản xuất kinh doanh của DN Là một nội dung quan trọng của

Trang 30

KTQT trong DN, KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp cácnhà quản trị giải quyết được vấn đề này

1.3.1 Nhận diện và phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm phục vụ quản trị DN

1.3.1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.

a Khái niệm chi phí sản xuất

“Bất kỳ một DN nào, để tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có đủ bayếu tố cơ bản đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống.Quá trình sản xuất là quá trình tiêu hao của bản thân các yếu tố trên Vì Vậy

để tiến hành sản xuất sản phẩm người ta phải bỏ chi phí về thù lao lao động,

tư liệu lao động và đối tượng lao động.” [1 – tr 283]

“Chi phí lao động sống là: chi phí tiền công, tiền lương phải trả chongười lao động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh.” [5 – tr.31]

“Chi phí lao động vật hoá là: toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu haonhư khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu, CCDC ” [5 – tr.31]

“Các khoản chi phí khác như các khoản trích theo tiền lương: BHXH,BHYT, KPCĐ, BHTN; các khoản thuế có tính chất chi phí như: thuế tàinguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, chi phí lãi vay” [5 – tr.31]

Mặc dù các loại hao phí bỏ ra cho hoạt động SXKD bao gồm nhiều loại,nhiều yếu tố khác nhau, trong điều kiện quan hệ hàng hoá – tiền tệ thì chúngvẫn được biểu hiện dưới hình thức giá trị

Tóm lại: “Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao độngvật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN phải chi ra trong quá trình hoạtđộng kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.” [5 –tr.31] CPSX và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu có mối quan hệ mật thiếtvới nhau CPSX và giá thành sản phẩm giống nhau về chất vì chúng đều làbiểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà DN

Trang 31

đã bỏ ra để chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ Nhưng chúng khácnhau về lượng, CPSX bao gồm CPSX dở dang đầu kỳ, cuối kỳ, chi phí sảnxuất cho sản phẩm hoàn thành và sản phẩm hỏng, còn giá thành sản phẩm chỉgồm chi phí sản xuất tính cho lượng sản phẩm đã hoàn thành

b Phân loại chi phí sản xuất.

Để quản lý tốt được chi phí, cần thiết phải nhận diện được chi phí và cócác cách phân loại chi phí khác nhau trong KTQT vì mỗi cách phân loại chiphí đều cung cấp thông tin dưới nhiều góc độ để các nhà quản trị ra quyếtđịnh thích hợp

Trong KTQT, chi phí sản xuất được sử dụng theo nhiều cách khác nhautheo nhu cầu quản lý và được phân loại theo các tiêu thức sau:

* Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng [5 – tr.34-35]

“Cách phân loại này căn cứ vào vai trò của chi phí với từng chức năngSXKD của DN Phân loại chi phí theo chức năng là cơ sở để tập hợp chi phí

và xác định giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp thông tin có hệ thống choviệc lập báo cáo tài chính (BCTC) Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất kinhdoanh của DN được chi thành các loại sau:” [5 – tr.34]

“+ Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các bộ phận sảnxuất, gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của DN Chi phísản xuất bao gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản đó là:” [5 – tr.34]

“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT): đó là các khoản chi phí về vậtliệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… mà kế toán có thể tập hợp thẳng cho các đốitượng chịu phí.” [5 – tr.34]

“Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT): gồm các khoản tiền lương, phụcấp và các khoản trích theo lương… của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm.Các khoản chi phí NCTT kế toán có thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịuchi phí.” [5 – tr.35]

Trang 32

“Chi phí sản xuất chung (SXC): là các khoản chi phí phục vụ cho cácphân xưởng, tổ, đội trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm và dịch vụ” [5 –tr.35] Các khoản chi phí SXC nếu theo mối quan hệ của chi phí với đối tượngchịu chi phí thì đây thường là chi phí gián tiếp Do đó, cuối mỗi kỳ hoạt độngmuốn xác định giá thành của các sản phẩm, dịch vụ cần phân bổ các khoảnmục chi phí này theo các tiêu thức phù hợp tùy theo tính chất của các loại chiphí và điều kiện cụ thể của các DN.

Cách phân loại này có tác dụng cho việc phục vụ quản lý chi phí theođịnh mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm theokhoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành vàđịnh mức CPSX cho kỳ sau

* “Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động”.Cách phân loại này thì chi phí sản xuất được chia thành: “Chi phí biếnđổi” (chi phí khả biến/ biến phí), “chi phí cố định” (định phí/ chi phí bất biến)

và chi phí hỗn hợp

+ “Chi phí biến đổi (biến phí): Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ

lệ với thay đổi của mức độ hoạt động” [5 – tr.43] Nghĩa là khi khối lượnghoạt động tăng thì chi phí cũng tăng và ngược lại Để công tác KTQT đượcthuận lợi trong việc lập báo cáo kiểm soát chi phí, biến phí được chia làm hailoại là “biến phí tỷ lệ” và “biến phí cấp bậc”

“Biến phí tỷ lệ là: các khoản biến phí hoàn toàn tỷ lệ thuận với kết quảsản xuất hoặc quy mô hoạt động.” [5 – tr.43]

“Biến phí cấp bậc: Là các khoản biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạtđộng thay đổi đến một phạm vi giới hạn nào đó.” [5 – tr.44] Đây cũng làcác khoản chi phí biến đổi nhưng không tỷ lệ thuận với kết quả sản xuấtmột cách rõ rệt

Trang 33

+ “Chi phí bất biến (chi phí cố định/ định phí): là những khoản chi phíkhông thay đổi về tổng số khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phùhợp Phạm vi phù hợp là khoảng cách giữa mức độ hoạt động tối thiểu và mức

độ hoạt động tối đa mà DN có thể thực hiện với năng lực hoạt động hiện có.”[5 – tr.44]

“Xét về tổng chi phí, định phí không thay đổi, ngược lại, nếu xét địnhphí trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạtđộng Như vậy, dù DN có hoạt động hay không thì vẫn tồn tại định phí Địnhphí trong DN được chia làm 2 dạng cơ bản đó là định phí tùy ý và định phíbắt buộc.” [5 – tr.45]

“Định phí bắt buộc là định phí không dễ dàng thay đổi bằng hành độngquản trị Định phí bắt buộc thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức

cơ bản của một DN” [5 – tr.45] Do vậy khi một bộ phận trong tổ chức hoạtđộng không tồn tại thì định phí bắt buộc vẫn phát sinh

“Định phí tùy ý: Là những định phí có thể thay đổi một cách nhanhchóng bằng hành động quản trị Định phí tùy ý có thể được thay đổi trongquyết định hàng năm của nhà quản trị Như chi phí quảng cáo, nghiên cứu,đào tạo…” [5 – tr.45] Khi bộ phận trong tổ chức hoạt động không tồn tại thìđịnh phí đó cũng không tồn tại

+ “Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tốcủa định phí và biến phí Thông thường ở mức hoạt động căn bản thì chi phíhỗn hợp thể hiện định phí, khi vượt khỏi mức độ hoạt động căn bản thì chi phíhỗn hợp bao gồm cả biến phí.” [5 – tr.49] Muốn lập kế hoạch, kiểm soát chiphí và thực hiện được KTQT thì các nhà quản lý phải phân tích chi phí hỗnhợp thành “định phí” và “biến phí”, vận dụng các phương pháp phù hợp đểphân tích chi phí này

Trang 34

Cách phân loại này quan tâm đến cách ứng xử của chi phí và dựa vào đó

để nghiên cứu “mối quan hệ chi phí - khối lượng – lợi nhuận” Điều này có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác khả năng tiềm tàng của DN, là

cơ sở cho việc ra quyết định ngắn hạn nhằm làm tối đa hóa lợi nhuận

* “Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kếtquả”

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:

“+ Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sảnxuất chế tạo sản phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán Đối với DN sảnxuất thì chi phí sản phẩm chính là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung, còn đối với các DN thương mại thì chi phísản phẩm chính là giá mua hàng hóa và chi phí mua hàng hóa” [5 – tr.39]

“+ Chi phí thời kỳ: Là những chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳkhông tạo nên giá trị hàng tồn kho mà trực tiếp làm giảm lợi nhuận của kỳ màchúng phát sinh”, ví dụ như: CP bán hàng và CP quản lý DN

* “Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định” [5 – tr.56]Theo cách phân loại này, thì chi phí được phân loại thành 2 loại, đó là:

“chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được”

+ “Chi phí kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lýnào đó là chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng đến chiphí đó” [5 – tr.56]

+ “Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở mộtcấp quản lý nào đó là chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó không có thẩm quyền chiphối và ra quyết định” [5 – tr.56]

“Việc xác định chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

ở từng cấp quản lý có thể sẽ giống không nhau ở các DN, vì nó phụ thuộc vào

sự phân cấp quản lý ở mỗi DN Các nhà quản trị cấp cao có phạm vi và quyền

Trang 35

hạn rộng đối với các chi phí hơn là các nhà quản trị cấp thấp và thường ở cáccấp quản lý thấp mới có những chi phí không kiểm soát được.” [5 – tr.56]

“Việc phân biệt chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

có ý nghĩa quan trọng trong tính toán và lập báo cáo kết quả (lãi, lỗ) bộ phận.”[5 – tr.56]

* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các quyếtđịnh kinh doanh

Theo tiêu thức này, CPSX được chia thành các dạng sau:

+ Chi phí cơ hội: Trong thực tiễn kinh doanh của các DN hầu như cáckhoản chi phí phát sinh đều được ghi nhận vào hệ thống sổ kế toán Tuynhiên, có những loại chi phí rất quan trọng thường tồn tại bên cạnh các nhàquản trị trong việc đưa ra quyết định nhưng không được ghi vào sổ kế toán đó

là chi phí cơ hội

“Chi phí cơ hội có thể được hiểu là: một lợi ích tiềm tàng bị mất hoặcphải hy sinh khi lựa chọn một hành động này để thay thế cho một hành độngkhác.” [5 – tr 57]

“Khác với các khoản chi phí khác, chi phí cơ hội không được phản ánhtrên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng cần phải được xem xét cân nhắcmỗi khi lựa chọn quyết định kinh doanh” [5 – tr 57]

“+ Chi phí chênh lệch là những chi phí có ở phương án này nhưng không

có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác.” [5 – tr 57]

“Chi phí chênh lệch” có thể là “biến phí” hay “định phí” hoặc “chi phíhỗn hợp” “Chi phí chênh lệch” là “thông tin thích hợp” cho việc quyết định

để lựa chọn phương án tối ưu

“+ Chi phí chìm là các loại chi phí mà DN phải chịu và sẽ vẫn phải chịucho dù DN chọn phương án hay hành động nào” [5 – tr 57] Đây là những

Trang 36

khoản chi phí các nhà quản trị DN phải chấp nhận mà không có sự lựa chọnnào khác

Trong các doanh nghiệp, CPSX gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, mụcđích và công dụng trong quá trình sản xuất khác nhau Việc phân loại CPSX

ra thành các khoản mục khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý

và hạch toán các khoản chi phí này Phân loại CPSX nhằm kiểm tra, phân tíchquá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm, nhằm nhận biết

và động viên mọi khả năng tiềm tàng hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệuquả của DN Mỗi cách phân loại CPSX nêu trên đều đáp ứng ít, nhiều chomục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát của DN Vì thế, các cáchphân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lýCPSX và giá thành sản phẩm

1.3.1.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành

a Giá thành sản phẩm

“Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản haophí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng côngtác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.” [7 - tr 88]

Giá thành là một thước đo mức chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của

DN, là căn cứ để DN xác định hiệu quả SXKD và đề ra các phương hướngkinh doanh phù hợp Qua đó, DN lựa chọn loại sản phẩm để sản xuất và quyếtđịnh khối lượng sản phẩm sản xuất nhằm đạt lợi nhuận tối đa

Giá thành là một công cụ quan trọng để kiểm soát tình hình hoạt độngSXKD Điều này được thực hiện thông qua việc phân tích sự biến động củagiá thành giữa các kỳ

Giá thành là một căn cứ rất quan trọng để DN xây dựng chính sách giá

cả của DN đối với từng loại sản phẩm

b Phân loại giá thành sản phẩm [7 – tr 90]

Theo GS.TS Đặng Thị Loan: “Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạchtoán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa,

Trang 37

giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khácnhau”, như:

* “Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành”:

Theo cách này, giá thành SP được chia thành các loại:

“Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên

cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán của kỳ kếhoạch.”

“Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mứccũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, khác vớigiá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến

và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xâydựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất địnhtrong kỳ kế hoạch (thường là đầu tháng) nên giá thành định mức luôn luônthay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quátrình sản xuất sản phẩm.”

“Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sảnxuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm”Như vậy, giá thành thực tế được tính trên cơ sở số liệu CPSX thực tế đãphát sinh và tập hợp được trong kỳ Giá thành thực tế chỉ có thể tính toánđược sau khi kết thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và được tính toáncho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị Giá thành thực tế là chỉ tiêukinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của DN trong việc tổ chức và sửdụng các biện pháp kinh tế kỹ thuật, tổ chức và công nghệ…để thực hiện quátrình sản xuất sản phẩm

Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phíxác định các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán Từ

đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp

Trang 38

* “Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí”

Theo cách này, giá thành SP được chia thành các loại sau:

“Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cảnhững chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trongphạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp,nhân công trực tiếp và CP SXC”

“Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ cáckhoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (chiphí sản xuất, quản lý và bán hàng) Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giáthành đầy đủ hay giá thành toàn bộ và được tính theo công thức”:

“Giá thành toàn

bộ của SP tiêu thụ =

Giá thành sản xuất sản phẩm +

Chi phí quản lý DN +

Chi phí tiêu thụ sản phẩm”

Như vậy, giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định và tínhtoán khi sản phẩm, công việc đã được xác định là tiêu thụ Giá thành toàn bộcủa sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán xác định mức lợi nhuận trướcthuế của DN

1.3.2 Xây dựng dự toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm

Dự toán được sử dụng cho hai mục đích: lập kế hoạch và kiểm soát Lập

kế hoạch bao gồm phát triển các mục tiêu và lập các dự toán khác nhau chocác mục tiêu này Kiểm soát bao gồm các bước được thực hiện bởi nhà quảntrị nhằm tăng khả năng phối kết hợp giữa các bộ phận trong tổ chức để đạtđược các mục tiêu đề ra Lập dự toán CP là quá trình tính toán chi tiết cho kỳtới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu, kế hoạch đề

ra trong từng thời kỳ cụ thể Dự toán chi phí là một nội dung quan trọng trongKTQT chi phí Dự toán CPSX giúp DN có thể chủ động trong việc sử dụngcác nguồn lực giới hạn và có cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng CPSX Các

dự toán chi phí này được lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, sản xuất của

DN trong kỳ

Trang 39

Lập dự toán chi phí được thực hiện cho các khoản mục CPSX sau:

+ Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Chi phí NVLTT là giá trị nguyên vật liệu tiêu hao liên quan trực tiếp đếnquá trình sản xuất sản phẩm, là yếu tố thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổngCPSX và giá thành sản phẩm Chi phí NVLTT bị ảnh hưởng bởi số lượngNVL tiêu hao tính cho một đơn vị sản phẩm, đơn giá NVL xuất dùng cho sảnxuất và khối lượng sản phẩm cần sản xuất Khối lượng sản phẩm tỷ lệ thuậnvới chi phí NVL Dự toán CP NVL trực tiếp được xác định theo công thức:

kế hoạch

x

Định mứclượngNVL/ sảnphẩm

x

ĐơngiáNVLQuản lý chặt chẽ và tiết kiệm chi phí NVL là cơ sở để hạ giá thành sảnphẩm nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh của DN Do đó, đòihỏi phải quản lý theo dự toán, định mức đã xác định, phát hiện kịp thời nhữngbiến động so với dự toán, định mức

+ Dự toán chi phí nhân công trực tiếp:

Dự toán CPNCTT là việc dự kiến tổng chi phí nhân công cần thiết đểhoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá nhân công trực tiếp (đơngiá giờ công) Khi lập dự toán CPNCTT phải tính đến kết cấu công nhân,trình độ thành thạo của từng loại công nhân và đơn giá giờ công của từng loại

Dự toán CPNCTT được xác định theo công thức sau:

kế hoạch

x

Định mức thờigian lao động/

sản phẩm

x

Đơn giá tiềnlương/ giờ laođộng+ Dự toán chi phí sản xuất chung:

Chi phí sản xuất chung gồm: nhiều khoản chi phí có liên quan đến nhiềuđối tượng chịu chi phí Dự toán CPSX chung sẽ chỉ ra mức độ dự kiến của tất

cả các CPSX gián tiếp Việc xây dựng dự toán CPSX chung tùy thuộc vào trình

Trang 40

độ quản lý và xây dựng các định mức chi phí ở DN, có thể xây dựng dự toán chotừng yếu tố CPSX chung, nhưng để đơn giản cho quá trình dự toán và thuận tiệncho việc phân tích kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí, dựtoán CPSX chung được xây dựng riêng cho biến phí và định phí.

Trong điều kiện sản xuất không vượt công suất thiết kế, do định phí sảnxuất chung thường không thay đổi so với thực tế, nên khi lập dự toán chi phísản xuất chung chỉ cần lập dự toán cho phần biến phí theo công thức trên Sau

đó, tổng hợp lại để xác định dự toán CPSX chung CPSX chung được dự toáncho từng loại sản phẩm Vì vậy, trước hết phải dự toán theo tổng số, sau đóphân bổ cho từng loại sản phẩm theo tiêu thức hợp lý

1.3.3 Thu thập thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ yêu cầu quản trị DN

1.3.3.1 Thu thập thông tin về chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp CPSX là theo từng công đoạn, từng bộ phận sản xuất

mà thường là theo từng phân xưởng sản xuất

Tài khoản và sổ kế toán sử dụng: các tài khoản chi phí nguyên liệu, vậtliệu trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp;chi phí sử dụng máy thi công;chi phísản xuất chung;chi phí SXKD dở dang mở chi tiết cho từng sản phẩm, phânxưởng và các tài khoản liên quan được sử dụng để phản ánh CPSX và giáthành sản phẩm

Ngày đăng: 02/02/2020, 08:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w