Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm nhữngvấn đề lý luận về BHTN và pháp luật về BHTN, phân tích và đánh giá các quy địnhcủa pháp luật hiện hành về BHTN và thực tiễn áp dụng các quy định, nghiên
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG THANH
QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế này là do chính bản thân thựchiện, các thông tin, số liệu đều có trích dẫn và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịutrách nhiệm về tính nguyên bản và xác thực của luận văn
Tác giả
Nguyễn Phương Thanh
Trang 4- Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hiền đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài luận văn.
- Các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, trường Đại học Thương Mại, Hà Nội
- Gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ về mặt tinh thần
- Các cô, chú, anh, chị, em trong BHXH TP Hà Nội đã giúp đỡ tổng hợp cácthông tin, tài liệu số liệu để hoàn thành luận văn
MỤC LỤC
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ SỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI MỘT CƠ QUAN QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 11
1.1 Một số vấn đề về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp 11
1.1.1 Thất nghiệp 11
1.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2 Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của một tỉnh 18
1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp 18
1.2.2 Nguyên tắc của quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp 22
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước cấp tỉnh về chi bảo hiểm thất nghiệp 25
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của một tỉnh 33 1.2.5 Tiêu chí đánh giá kết quả quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của một tỉnh 38 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012 – 2016 41
2.1 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của Thành phố 41
Trang 62.1.1 Khái quát về Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội 41
2.1.2 Đặc điểm các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của Thành phố Hà Nội 46
2.2 Phân tích thực trạng quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 57
2.2.1 Quản lý đối tượng nhận bảo hiểm thất nghiệp 57
2.2.2 Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 62
2.2.3 Quản lý thực hiện chi bảo hiểm thất nghiệp 65
2.2.4 Kiểm tra, kiểm soát chi bảo hiểm thất nghiệp 74
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội 77
2.3.1 Những kết quả đạt được 77
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 84
3.1 Bối cảnh và phương hướng hoàn thiện công tác quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 84
3.1.1 Những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
84
3.1.2 Mục tiêu phát triển của bảo hiểm thất nghiệp thành phố Hà Nội 86
3.1.3 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm thất nghiệp của thành phố Hà Nội 88
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 89
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quản lý đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp 89
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 91
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý thực hiện chi trả bảo hiểm thất nghiệp 92
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát quản lý chi BHTN 95
Trang 73.2.5 Các giải pháp khác 97
3.3 Một số kiến nghị 101
3.3.1 Kiến nghị với UBND TP Hà Nội 101
3.3.2 Kiến nghị với BHXH Việt Nam 101
KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH : An sinh xã hội
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT
CNH-HĐH
: Bảo hiểm y tế: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóaCNTT : Công nghệ thông tin
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn TP Hà Nội trong giai đoạn 2012 – 2016 46 Bảng 2.2 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang hoạt động trong các khu vực kinh tế trên địa bàn TP Hà Nội 51 Bảng 2.3 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo nhóm tuổi tại Hà Nội năm 2016 52 Bảng 2.4 Số lượng người hưởng BHTN tại Hà Nội 57 Bảng 2.5 Đối tượng hưởng các chế độ BHTN theo nội dung chi trả trên địa bàn TP Hà Nội 59 Bảng 2.6 Đối tượng hưởng chuyển đi, chuyển đến, tạm dừng, chấm dứt hưởng BHTN trên địa bàn TP Hà Nội 61 Bảng 2.7 Kết quả thu chi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội 64 Bảng 2.8 Kết quả chi trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng tại BHXH TP Hà Nội 67 Bảng 2.9 Chi BHYT cho đối tượng hưởng BHTN trên địa bàn TP Hà Nội 69 Bảng 2.10 Chi hỗ trợ tìm việc làm tại BHXH TP Hà Nội 70 Bảng 2.11 Chi trả hỗ trợ học nghề cho người lao động tại BHXH TP Hà Nội 73 Bảng 2.12 Tình hình nợ đọng BHTN đối với khu doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TP Hà Nội 76 Bảng 2.13 Kết quả kiểm tra phát hiện sai phạm thuộc quỹ BHTN trên địa bàn
TP Hà Nội 77
Trang 10DANH MỤC SƠ SỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH TP Hà Nội 43
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý BHTN trên địa bàn TP Hà Nội 55
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Đối với mỗiquốc gia, dù nền kinh tế trong giai đang tăng trưởng và phát triển tốt thì vẫn luôntồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định Thất nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển kinh tế, xã hội của một quốc gia Thất nghiệp tăng có nghĩa là gia tăng sự lãngphí nguồn lực lao động làm cho nền kinh tế tiếp tục rơi vào trình trạng suy thoái vàtổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng Thất nghiệp không chỉ ảnhhưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế mà nó còn gây ra nhiều vấn đề bất cập như:thu nhập của người lao động giảm sút, gia tăng tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèongày càng sâu sắc, tỷ lệ lạm phát ngày càng cao, tăng chi tiêu của Chính phủ để trợcấp cho thất nghiệp và xã hội phải chi các khoản chi phí cho đào tạo, bồi dưỡng, cácdịch vụ việc làm… Như vậy, thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội tác độngtiêu cực đến phát triển kinh tế và nhiều mặt của đời sống xã hội Theo Báo cáo Kinh
tế xã hội năm 2016, do Tổng cục Thống kê công bố thì tỷ lệ thất nghiệp của laođộng trong độ tuổi là 2,3% (năm 2015: 2,31%; năm 2014: 2,10%; năm 2013:2,18%); trong đó, khu vực thành thị là 3,18% (năm 2015: 3,29%; năm 2014: 3,40%;năm 2013: 3,59%), khu vực nông thôn là 1,86% (năm 2015: 1,83%; năm 2014:1,49%; năm 2013: 1,54%) Ở nước ta hiện nay, thất nghiệp có ảnh hưởng rất lớnđến cuộc sống của người lao động Người lao động bị thất nghiệp sẽ mất đi nguồnthu nhập, đời sống của bản thân và gia đình gặp rất không ít khó khăn, gánh nặngtài chính sẽ làm cho chất lượng cuộc sống bị giảm sút về mặt tinh thần và vật chất.Bên cạnh đó, nếu như người lao động bị thất nghiệp trong một thời gian dài thì cóthể sẽ làm giảm năng lực làm việc, kỹ năng, tay nghề và khó quay lại với thị trườnglao động Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy cho đời sống xã hội, áp lực về tài chính cộngthêm tâm lý tự ti, bất ổn sẽ dẫn họ đến những hành vi tiêu cực Thực tế cho thấy, khithất nghiệp gia tăng thì tệ nạn xã hội ngày càng nhiều như trộm cắp, cờ bạc, mạidâm… Đây là hệ lụy ảnh hưởng rất xấu đến đời sống nhân dân và tiến trình phát
Trang 13triển kinh tế Một trong những biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp chính làBảo hiểm thất nghiệp (BHTN) BHTN ra đời nhằm mục đích hỗ trợ một khoản tàichính cho người lao động khi bị thất nghiệp, hỗ trợ BHYT, tư vấn giới thiệu việclàm và hỗ trợ học nghề để người lao động sớm quay lại thị trường lao động Nhưvậy, BHTN không chỉ giúp người thất nghiệp vượt qua khó khăn về thu nhập màcòn giúp họ sớm tìm được việc làm, giảm bớt các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây
ra BHTN là một loại hình bảo hiểm xuất hiện từ rất lâu và áp dụng rộng rãi tạinhiều nước phát triển Tại Việt Nam, năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội được banhành trong đó đã quy định về BHTN Tuy nhiên, đến 01/01/2009 thì BHTN chínhthức được thực hiện tại Việt Nam Người lao động được hưởng BHTN sẽ được chế
độ như: trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm và được hưởng bảohiểm y tế trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp Như vậy, BHTN là một chínhsách ưu đãi lớn mà Chính phủ hỗ trợ cho người lao động bị thất nghiệp
Hà Nội là một trong những thành phố lớn nhất cả nước, nơi đây tập trungnhiều lao động với sự đa dạng ngành nghề, thành phần kinh tế khác nhau Tỷ lệ thấtnghiệp tại các thành phố như Hà Nội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với khu vực nôngthôn Từ khi đi vào thực hiện BHTN, BHXH TP Hà Nội luôn cố gắng không ngừng
để tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn nhân lực, thường xuyên tập huấn cho cán bộ đểtriển khai hiệu quả công tác quản lý chi BHTN cho người lao động Hiện nay mặc
dù được Chính phủ quan tâm nhưng quản lý chi BHTN vẫn còn gặp nhiều khókhăn Nguyên nhân xuất phát từ chỗ BHTN là một loại hình bảo hiểm mới ở nước
ta, do đó cơ quan quản lý chi bảo hiểm này vẫn chưa thực sự có nhiều kinh nghiệm,hơn nữa, thị trường lao động của nước ta còn nhiều bất cập, cơ sở dữ liệu về ngườilao động thiếu thốn dẫn đến tình trạng khó kiểm soát những đối tượng thất nghiệpđược hưởng bảo hiểm dẫn đến tình trạng quỹ BHTN bị lạm dụng Xuất phát từ
những thực trạng bất cập đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý chi bảo hiểm thất
nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản
lý kinh tế
Trang 142. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề BHTN
Qua tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề liên quan đến quản lý chi BHTN, tác giả
đã thu thập được một số bài viết, đề tài liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Đề tài: “Bảo hiểm thất nghiệp trong luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Ngô Thu Phương
năm 2014 Luận văn đánh giá các quy định của pháp luật về BHTN và việc áp dụngchúng trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm nhữngvấn đề lý luận về BHTN và pháp luật về BHTN, phân tích và đánh giá các quy địnhcủa pháp luật hiện hành về BHTN và thực tiễn áp dụng các quy định, nghiên cứuchỉ ra những vướng mắc, khó khăn còn tồn tại như: Đối tượng áp dụng BHTN hiệnnay còn tương đối hạn chế; Nhận thức trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dâncòn hạn chế; Vấn đề chốt sổ BHXH cho người lao động để làm hồ sơ đăng kýhưởng BHTN còn nhiều vướng mắc; Tình trạng nợ đóng BHTN của doanh nghiệpđang trở nên ngày càng nhức nhối; Quy định căn cứ tính đóng vào quỹ BHTN dựatrên mức tiền lương, hợp đồng lao động dẫn đến nhiều bất cập; Vấn đề quản lýngười lao động thất nghiệp hiện nay còn nhiều điểm chưa hợp lý; Chế độ hỗ trợ họcnghề và hỗ trợ việc làm chưa phát huy tính tích cực của nó;… Trên cơ sở những bấtcập trong việc triển khai thực hiện pháp luật BHTN tại Việt Nam hiện nay thì tácgiả đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật vềBHTN ở Việt Nam như: Hoàn thiện các quy định về điều kiện, các chế độ, quỹBHTN và thủ tục hưởng BHTN; Hoàn thiện nguồn nhân lực phục vụ công tácBHTN; Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật BHTN; Nâng cao hiệu quả côngtác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách BHTN; Cần có những chính sách thúcđẩy và gắn trợ cấp thất nghiệp với giải quyết việc làm; Triển khai các hoạt độngngăn chặn thất nghiệp
Nghiên cứu: “Tổ chức bộ máy thực hiện BHTN ở Việt Nam” của tác giả
ThS Trương Thị Thu Hiền đăng trên Trang 44, mục Nghiên cứu và Trao đổi, Tạpchí quản lý Nhà nước Số 251 tháng 12/2016 Theo tác giả thì tổ chức bộ máy thựchiện BHTN là một trong những nội dung quan trọng của QLNN về BHTN Tổ chức
Trang 15bộ máy tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về BHTN và ngược lại Ở ViệtNam hiện nay thì bộ máy thực hiện BHTN được tổ chức theo quy định của LuậtViệc làm năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) Nghiên cứu đã chỉ ra nhữngthành công và bất cập trong tổ chức bộ máy thực hiện BHTN ở Việt Nam, từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về BHTN ở nước ta
Cụ thể như sau:
Những thành công đạt được trong việc tổ chức bộ máy BHTN bao gồm:Việcchuyển đổi bộ máy tiếp nhận, giải quyết chế độ BHTN từ Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội sang Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai chính sách BHTN cho ngườilao động; Công tác tổ chức tiếp nhận, giải quyết hồ sơ được thực hiện chặt chẽ vớiquy trình làm rõ ràng và liên tục được cải tiến vì quyền lợi của người lao động mấtviệc làm; Công tác hướng dẫn và giải quyết thắc mắc của người lao động cũng đượcchú trọng; Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm được thực hiện tốt với sự chủ động,linh hoạt trong từng thời kỳ
Bên cạnh một số thành tựu thì trong tổ chức thực hiện BHTN tại Việt Namcòn một số bất cập sau: Công tác phối hợp giữa BHXH và trung tâm dịch vụ việclàm ở một số địa phương còn chưa chặt chẽ; Quy trình thủ tục chi trả BHTN cònrườm rà, qua nhiều đầu mối; Cơ quan trực tiếp thực thi công tác tiếp nhận, giảiquyết các chế độ BHTN nhưng trung tâm dịch vụ việc làm lại không có đầy đủ cơ
sở dữ liệu để đối chiếu nhằm phát hiện các trường hợp người lao động không trungthực khi khai báo tình trạng việc làm
Để khắc phục những bất cập về tổ chức thực hiện BHTN thì tác giả đưa ramột số giải pháp kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về BHTN ởViệt Nam như: Phân công nhiệm vụ giữa trung tâm dịch vụ việc làm và BHXH cấptỉnh hợp lý hơn theo hướng đẩy mạnh phân cấp cho trung tâm dịch vụ việc làmtrong chi trả BHTN; Bộ LĐTB&XH, BHXH Việt Nam và UBND cấp tỉnh cần xâydựng, hoàn thiện Quy chế phối hợp thực hiện BHTN tại các địa phương; BộLĐTB&XH cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động, việc làm để xây dựng
Trang 16hệ thống quản lý BHTN hiện đại, xây dựng cơ chế kiểm soát đối với người lao động
bị mất việc làm, đảm bảo giải quyết chế độ BHTN đúng người, đúng đối tượng
2.2 Các nghiên cứu liên quan đến quản lý chi BHTN
Đề tài: “Quản lý Nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay”
của tác giả Nguyễn Quang Trường, Luận án tiến sỹ năm 2016, Viện nghiên cứuquản lý kinh tế Trung ương Đề tài luận án này đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu mộtcách có hệ thống từ cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế, từ thực tiễn QLNN vềBHTN, qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp có tính khoa học và tính khảthi Cụ thể như sau:
- Luận án đã tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đếnQLNN về BHTN trong đó có khái niệm, đặc điểm, tiêu chí, nội dung các nhân tốảnh hưởng đến QLNN về BHTN; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và quản lýchính sách BHTN của các quốc gia để đưa ra bài học cho Việt Nam
- Tác giả tập trung phân tích đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước vềBHTN ở nước ta hiện nay theo các nội dung: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýBHTN; Hoạch định chính sách; Thực thi chính sách; Công tác tuyên truyền; Kiểmtra, giám sát BHTN Trong đó quản lý chi BHTN được phân tích chi tiết trong nộidung thực thi chính sách BHTN Đối với quản lý chi BHTN, tác giả tập trung phântích về thực trạng xây dựng quy trình, thủ tục chi BHTN, các loại hình trợ cấp vàđánh giá kết quả thực hiện chi BHTN trong giai đoạn 2010 – 2014, phân tích thựctrạng xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin đăng ký thất nghiệp để thực hiện công tácquản lý chi BHTN
- Trên cơ sở những hạn chế từ quản lý Nhà nước về BHTN nói chung vàquản lý chi BHTN nói riêng, tác giả hệ thống hóa các biện pháp để nâng cao chấtlượng quản lý BHTN Đối với quản lý chi BHTN, tác giả đưa ra một số giải phápnhư: Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành để xây dựng quy trình chuẩntrong việc thực hiện chi BHTN; Xây dựng và kết nối phần mềm giữa chi và thuBHTN; Đa dạng hóa hình thức chi để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động;Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động chi, đảm bảo an toàn tiền
Trang 17mặt; Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện công tác chiBHTN.
Tác giả Lê Thị Hoài Thu với nghiên cứu: “Vấn đề quản lý bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” đăng trên Trang 57, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005.
Tác giả cho rằng BHTN vừa có tính kinh tế lại vừa có tính xã hội Nghiên cứu đãchỉ ra các vấn đề quản lý BHTN ở Việt Nam như sau:
- Việc quản lý BHTN gồm hai mặt: QLNN về BHTN và quản lý sự nghiệpBHTN Chính phủ thống nhất QLNN về BHTN và giao cho Bộ LĐTB&XH là cơquan giúp Chính phủ trực tiếp thực hiện QLNN về BHTN Theo đó, nhiệm vụ của
Bộ LĐTB&XH là xây dựng, trình và ban hành các văn bản pháp quy về BHTN;hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN.Việc quản lý sự nghiệp BHTN bao gồm: quản lý quỹ BHTN và thực hiện chế độcho người thất nghiệp
- Tác giả nêu ra một số phương án về tổ chức, quản lý chế độ BHTN nhưsau: Một là, cơ quan BHXH có trách nhiệm thực hiện chế độ BHTN, các trung tâmdịch vụ việc làm thực hiện chính sách việc làm và giải quyết yêu cầu xin hưởng trợcấp Hai là, Bộ LĐTB&XH thành lập một hệ thống quản lý sự nghiệp BHTN hoàntoàn mới Và về lâu dài, khi nền kinh tế thị trường đã đồng bộ có thể xây dựng mộtluật riêng về BHTN Khi đó mô hình BHTN sẽ như sau: Ở Trung ương thì BHTNtrực thuộc Bộ LĐTB&XH; Ở cấp tỉnh thì BHTN cấp tỉnh trực thuộc BHTN Trungương; Ở cấp huyện, quận, tổ chức thành chi nhánh BHTN trực thuộc BHTN tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương
Như vậy, đây là những ý kiến về tổ chức quản lý BHTN có thể lựa chọn để triểnkhai Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện chế độ BHTN phải đặt trong điều kiệnnhất định và Chính phủ phải đóng vai trò quan trọng trong việc QLNN về NHTN
Nghiên cứu: “Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
năm 2014, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đề tài tập trung nghiên cứu công tácquản lý BHTN cho đối tượng được hưởng BHTN trên địa bàn tỉnh Hải Dương bao
Trang 18gồm quy trình quản lý và nội dung quản lý trong việc chi BHTN tại BHXH tỉnh HảiDương Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề sau:
- Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến quản lý chi BHTNnhư: một số khái niệm về thất nghiệp, BHTN, quản lý chi BHTN; Vai trò, nguyêntắc của quản lý chi BHTN; Nội dung quản lý chi BHTN bao gồm: Quản lý mức chi,Quản lý đối tượng hưởng, tạm dừng và chấm dứt trợ cấp thất nghiệp; Quy trìnhquản lý chi BHTN bao gồm: Công tác lập dự toán BHTN, Tổ chức thực hiện chi,Nội dung và mức chi, Thanh tra, kiểm tra, giám sát thu chi BHTN, Tổng kết đánhgiá tình hình thực hiện quản lý BHTN
- Trên cơ sở các lý luận cơ bản thì tác giả tiến hành phân tích, đánh giá thựctrạng quản lý chi BHTN trên địa bàn tỉnh Hải Dương với những kết quả như sau:Tìm hiểu cơ sở pháp lý cho việc quản lý chi BHTN tỉnh Hải Dương, Tổ chức bộmáy quản lý quỹ BHTN, Thực trạng công tác lập kế hoạch chi BHTN, thực hiện chiBHTN, Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra chi BHTN tại BHXH tỉnh HảiDương Sau khi phân tích thực trạng quản lý chi BHTN tại BHXH tỉnh Hải Dương,tác giả đã đánh giá những kết quả như sau: BHXH tỉnh Hải Dương luôn thực hiệnnghiêm túc từ khâu lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát quản lýBHTN Mặc dù đối tượng chi BHTN tăng lên qua các năm nhưng công tác quản lýchi tốt, mức độ hài lòng của người lao động tương đối cao về thời gian chi trả vàthái độ phục vụ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì công tác quản lý chiBHTN còn gặp một số hạn chế cần phải khắc phục như: tình trạng vi phạm LuậtBHTN vẫn còn diễn ra, quản lý đối tượng hưởng BHTN chưa chặt chẽ, công tácquản lý thu chưa đảm bảo an toàn, tình trạng doanh nghiệp cùng người lao động viphạm trốn đóng và nợ đọng khá cao
- Từ những hạn chế từ thực trạng quản lý chi BHTN tại tỉnh Hải Dương, tácgiả đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quản lý BHTN như sau: Giải pháp hoàn thiệntrong lập kế hoạch chi BHTN; Hoàn thiện tổ chức thực hiện chi BHTN; Quản lýchặt chẽ đối tượng hưởng BHTN; Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sátthực hiện BHTN; Nâng cao trình độ và kỹ năng đối với cán bộ BHXH; Tăng cườngcông tác tuyên truyền; Nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn quỹ nhàn rỗi Bên cạnh đó,
Trang 19tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị đối với BHXH Việt Nam: Nghiên cứu và mởrộng đối tượng được tham gia BHTN; Quản lý phù hợp đối với nhóm lao động chủđộng nghỉ việc; Cần sửa đổi thời gian chốt sổ cho người lao động và thời gian hoànthiện hồ sơ; Tăng thời gian kể từ ngày ghi trong phiếu trả kết quả đến khi nhậnquyết định hưởng trợ cấp Một số kiến nghị đối với UBND tỉnh Hải Dương: Quantâm hơn trong công tác chỉ đạo, định hướng quản lý Nhà nước đối với BHTN; Đẩymạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BHTN; Kiên quyết xử lý đúngtheo quy định của pháp luật đối với các vi phạm về BHTN.
Như vậy, qua tìm hiểu về vấn đề liên quan đến BHTN thì đã có nhiều tác giảnghiên cứu, tuy nhiên, Quản lý chi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội thì chưa có côngtrình nào được công bố từ trước đến nay Do vậy, đề tài có tính mới, có ý nghĩa lýluận và thực tiễn cao
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
để đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện quản lý chi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội
Để thực hiện mục tiêu này thì nhiệm vụ cụ thể của nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi BHTN
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi BHTN trên địa bàn TP HàNội, đưa ra những đánh giá về thành công, hạn chế về quản lý chi BHTN trên địabàn TP Hà Nội, tìm hiểu nguyên nhân của các hạn chế đó
- Từ những hạn chế về công tác quản lý chi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội,nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lýchi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi BHTN trên địa bàn thành phố
Trang 20- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài phân tích dữ liệu trong giai đoạn
từ năm 2012 đến năm 2016, các giải pháp đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Các dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp bao gồm dữ liệu về
cơ sở lý luận về thất nghiệp, BHTN, quản lý chi BHTN Thu thập thông tin chung
về cơ quan BHXH TP Hà Nội, các hoạt động, quy trình quản lý chi BHTN chongười lao động… Những thông tin này, tác giả thu thập thông qua giáo trình, các bộluật, đề án, báo cáo, các bài viết trên tạp chí, website, các phòng ban của Bảo hiểm
xã hội TP Hà Nội và một số đơn vị có liên quan như Trung tâm giới thiệu việc làm
Hà Nội, Cục thống kê TP Hà Nội, Tổng cục thống kê…
5.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, mô tả số liệu: Từ những số liệu thứ cấp
mà tác giả thu thập được từ các nguồn khác nhau, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp,thống kê, mô tả các số liệu đó nhằm phục vụ cho việc phân tích thực trạng công tácquản lý chi BHTN trên địa bàn TP Hà Nội thông qua các bảng biểu, đồ thị trongphần mềm tính toán Excel
- Phương pháp phân tích số liệu: Bằng việc sử dụng phương pháp quy nạp,diễn dịch, tác giả phân tích nội dung cơ bản của quản lý chi BHTN trên địa bàn TP
Hà Nội để đưa ra những đánh giá khái quát về thực trạng của công tác này Ngoài
ra, từ những số liệu thực tế thu thập được của cơ quan Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội,Trung tâm giới thiệu việc làm, Tổng cục thống kê, tác giả sẽ sử dụng phương phápđối chiếu, so sánh để đánh giá đúng thực trạng quản lý chi BHTN trên địa bàn TP
Hà Nội nhằm rút ra những thành công và hạn chế của công tác này và là cơ sở quantrọng để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của quản lýBHTN trên địa bàn TP Hà Nội trong thời gian tới
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, các danh mục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thìkết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại một cơ quan quản lý bảohiểm xã hội địa phương cấp tỉnh
Trang 21Chương 2 Thực trạng quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thànhphố Hà Nội giai đoạn 2012-2016
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địabàn thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI MỘT CƠ QUAN QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1.1 Một số vấn đề về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Thất nghiệp
Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp là một vấn đề kinh tế xã hội mà hầu hết các quốc gia quan tâm,hiện nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức đưa ra những khái niệm về thấtnghiệp như sau:
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một
số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việclàm ở mức lương thịnh hành” [29] Như vậy, theo định nghĩa của ILO thì bản chấtcủa thất nghiệp là thị trường không tạo ra được việc làm cho người lao động có khảnăng làm việc và chấp nhận một mức tiền công theo giá hiện hành
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổilao động có khả năng lao động, nhu cầu việc làm nhưng đang không có việc làm” [36]
Trang 22Theo Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam thì quy địnhngười thất nghiệp là: “Người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứthợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [26] Tuynhiên, định nghĩa này chỉ bó hẹp trong quy định đối tượng được hưởng BHTN vàchưa đề cập đến bản chất của thất nghiệp.
Như vậy, kế thừa các khái niệm thất nghiệp trên thì dưới góc độ tiếp cận của
quản lý chi BHTN, có thể hiểu “Thất nghiệp là tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được công việc phù hợp, đã đang ký tại các cơ sở quản lý lao động và trung tâm hỗ trợ việc làm” Khái niệm này vừa bao quát được nội hàm
bản chất của thất nghiệp vừa có cơ sở dữ liệu thực tế để thống kê tỷ lệ thất nghiệp.Theo đó thì tại Việt Nam, người thất nghiệp sẽ được hiểu là:
- Người tuổi từ 15 đến 55 đối với nữ, từ 15 đến 60 đối với nam không cóviệc làm, có khả năng lao động và đang tìm kiếm việc làm
- Người lao động trước đây đã có việc làm nhưng vì một số lý do nào đó mà
bị mất việc như doanh nghiệp phá sản, bị chấm dứt hợp đồng lao động… và đangtích cực tìm kiếm một công việc để có thu nhập
- Người lao động đến độ tuổi lao động vừa tốt nghiệp các trường phổ thông,trung cấp, cao đẳng, đại học, những đối tượng hết nghĩa vụ quân sự nhưng vẫn chưatìm được việc làm
- Lao động hết thời gian xuất khẩu đã về nước nhưng chưa có việc làm,những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ của sản xuất
Phân loại thất nghiệp
Trong nền kinh tế có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau và tùy theo mụcđích nghiên cứu thì thất nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, cụthể như sau:
Căn cứ vào tính chất thất nghiệp thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
- Thất nghiệp tự nhiên: Đây là loại thất nghiệp để dùng để chỉ mức thất
nghiệp mà bình thường nền kinh tế trải qua Nó xảy ra do quy luật cung - cầu trên
Trang 23thị trường lao động, không mất đi trong dài hạn và tồn tại ngay cả khi thị trường laođộng cân bằng Thông thường tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với tỷ
lệ lạm phát, có thể thay đổi theo thời gian và chính sách kinh tế của Nhà nước
- Thất nghiệp tạm thời: Dạng thất nghiệp này bắt nguồn từ sự dịch chuyển
bình thường của thị trường lao động Một nền kinh tế vận hành tốt là có sự ăn khớp
về lao động và việc làm Tuy nhiên trên thị trường khó xảy ra sự ăn khớp đó và luônxảy ra tình trạng thất nghiệp Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi lao động dịch chuyểngiữa các vùng miền, thuyên chuyển công tác hoặc thay đổi giai đoạn từ công việcnày sang công việc khác Như vậy, loại thất nghiệp này thường xuyên xảy ra và phổbiến trong xã hội
- Thất nghiệp cơ cấu: là dạng thất nghiệp phát sinh từ sự không ăn khớp giữa
cung và cầu lao động Cầu của lao động này tăng lên, lao động khác giảm đi làmcho cung lao động không kịp điều chỉnh Cung và cầu không gặp nhau trên thịtrường là do khác biệt nhau về địa lý, ngành nghề, trình độ, kỹ năng Tăng trưởngkinh tế làm thay đổi cơ cấu của cầu lao động Cầu lao động tăng lên ở các khu vựcđang mở rộng và có triển vọng và giảm ở khu vực bị thu hẹp hoặc ít triển vọng hơn.Trong nền kinh tế thị trường, sẽ có những ngành thu hút lao động và có nhữngngành bị thu hẹp lại tạo nên sự dư thừa lao động Thất nghiệp cơ cấu tăng lên nếutốc độ chuyển dịch cơ cấu của cầu về lao động tăng hoặc tốc độ thích ứng của laođộng đối với sự thay đổi về cơ cấu kinh tế diễn ra chậm
- Thất nghiệp chu kỳ: Dạng thất nghiệp này dùng để chỉ những biến động của
thất nghiệp từ năm này đến năm khác xung quanh mức thất nghiệp tự nhiên và nógắn liền với những biến động kinh tế trong ngắn hạn Thất nghiệp chu kỳ xảy ra domức cầu lao động giảm xuống và theo chu kỳ của nền kinh tế Sau thời kỳ phát triểnhưng thịnh, nền kinh tế đi đến giai đoạn suy thoái, rơi vào khủng hoảng, do đó lạmphát và thất nghiệp tăng lên Do đó, bản chất của loại thất nghiệp này theo chu kỳ
và mang tính quy luật của nền kinh tế Như vậy, khi nền kinh tế mở rộng, phát triểnthì thất nghiệp chu kỳ biến mất; ngược lại khi nền kinh tế thu hẹp thì thất nghiệpchu kỳ tăng cao
Trang 24Căn cứ vào ý chí của người lao động thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
- Thất nghiệp tự nguyện: Đây là dạng thất nghiệp mà người lao động từ chối
một công việc có mức lương không mong muốn, không thỏa đáng hoặc không phùhợp với trình độ chuyện độ mặc dù họ vẫn đang có nhu cầu về việc làm
- Thất nguyện không tự nguyện: Là dạng thất nghiệp người lao động có khả
năng lao động, ở độ tuổi lao động, có nhu cầu làm việc và chấp nhận một mức thùlao cụ thể nào đó nhưng không có người sử dụng lao động hoặc người sử dụng laođộng không chấp nhận
Ngoài ra, trong quá trình phân tích các chỉ tiêu thất nghiệp, một số loại thấtnghiệp đặc trưng cần chú trọng phân tích vì chúng có những tác động nhất định đếnchính sách lao động, việc làm và tăng trưởng của nền kinh tế Những thất nghiệpđặc trưng gồm:
- Thất nghiệp thanh niên: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thanh niên
gồm những người từ 15 đến 24 tuổi Thất nghiệp thanh niên là chỉ tiêu được sửdụng để đo lường: Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên, Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên so với
tỷ lệ thất nghiệp người trưởng thành, Tỷ trọng thanh niên trong số người thất nghiệp
và Tỷ trọng thanh niên thất nghiệp trong tổng dân số thanh niên Thường chỉ tiêunày phân bố theo giới tính, khu vực, trình độ chuyên môn kỹ thuật Thực tế tỷ lệ laođộng không có chuyên môn kỹ thuật chiếm đa số trong những người thất nghiệp cả
ở nông thôn và thành thị
- Thất nghiệp dài hạn: Tỷ lệ thất nghiệp cao và thời gian thất nghiệp dài là
vấn đề trầm trọng của nền kinh tế Thất nghiệp kéo dài 1 năm được coi là thấtnghiệp dài hạn Loại thất nghiệp này gây khó khăn tài chính nêu như không đượctrợ cấp BHTN Thất nghiệp dài hạn là chỉ tiêu để tính Tỷ lệ thất nghiệp dài hạntrong tổng lực lượng lao động và Tỷ trọng thất nghiệp dài hạn trong tổng số ngườithất nghiệp
- Thất nghiệp phân theo trình độ học vấn: Dạng thất nghiên này được quan
tâm và sử dụng nhiều ở Việt Nam Thất nghiệp phân loại theo trình độ học vấn gópphần cho biết những yếu tố thay đổi trong cầu về lao động Chỉ tiêu này có ý nghĩaquan trọng khi đánh giá cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, việc đào tạo, cung
Trang 25ứng và sử dụng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật Nói cách khác, dạng thấtnghiệp này phản ánh cơ cấu cung và cầu lao động của nền kinh tế
1.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp
Khái niệm Bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là khái niệm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, tuy nhiên, ở Việt Namthì khái niệm này xuất hiện từ 2006 khi Chính phủ ban hành Luật Bảo hiểm xã hội.Theo đó, BHTN là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH Việt Nam có mụcđích hỗ trợ thu nhập cho người lao động do thất nghiệp
Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận về khái niệm BHTN, dưới góc độ pháp lý,theo Giáo trình Luật An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND2012: “Chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp
và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp cho người lao động bịthất nghiệp và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc” [20]
Theo Luật BHXH năm 2006: “BHTN là chế độ bù đắp thu nhập cho ngườilao động do thất nghiệp và hỗ trợ để họ sớm tìm được công việc phù hợp thông quacác quy định đối tượng được hưởng BHTN, điều kiện hưởng, mức trợ cấp thấtnghiệp, chính sách việc làm” [26]
Theo Luật việc làm năm 2013: “BHTN là chế độ bù đắp một phần thu nhậpcủa người lao động khi mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì làmviệc, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN” [27] Theo Luật việc làm thìBHTN được hình thành trên nguyên tắc chia sẻ những rủi ro về thất nghiệp giữanhững người tham gia BHTN, tiền lương là cơ sở để tính mức đóng BHTN và mứchưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN
Dưới góc độ tiếp cận kinh tế - xã hội: “BHTN là quá trình tổ chức, sử dụngnguồn quỹ tiền tệ gọi là quỹ BHTN được hình thành bởi sự tham gia đóng góp củacác bên như người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước để giải quyết tìnhtrạng thất nghiệp nhằm trợ giúp kịp thời cho người lao động khi bị mất việc làm vàtạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới” Như vậy, theo cách tiếp cậnnày thì BHXH là một biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, xuất phát từ
Trang 26quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động và trợ cấp của chính phủ.Việc tổ chức và sử dụng quỹ BHTN thông qua một bộ máy nhằm quản lý việc thu
và chi BHTN Chi trả trợ cấp thất nghiệp luôn được gắn với giải quyết việc làm chongười lao động cụ thể là tổ chức thực hiện các biện pháp để đưa người mất việcquay trở lại thị trường lao động
Như vậy, mặc dù tiếp cận ở những góc độ khác nhau nhưng điểm chung củaBHTN là hỗ trợ một khoản tài chính cho người lao động gặp rủi ro về việc làm, ổnđịnh cuộc sống cho họ trong thời gian bị mất việc làm và tổ chức các hoạt động tưvấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để sớm đưa người thất nghiệp quay lại thịtrường lao động Ở Việt Nam, BHTN là một chế độ thuộc BHXH, hoạt động theo
cơ chế chung và nằm trong khuôn khổ của BHXH quốc gia Cũng theo cơ chế củaBHXH, BHTN cũng thực hiện theo chế độ đóng – hưởng Người sử dụng lao động
và người lao động phải đóng góp theo như quy định về mức đóng, thời gian đóng đểđược hưởng trợ cấp thất nghiệp khi bị mất việc làm Mức hỗ trợ thất nghiệp dựatrên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp Do vậy, có thể đúc
kết khái niệm BHTN như sau: “BHTN là một chế độ thuộc hệ thống BHXH dựa trên sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và hỗ trợ từ phía Chính phủ nhằm hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động sau khi bị thất nghiệp và giúp cho họ sớm tìm được việc làm mới thông qua các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề”.
Ý nghĩa của BHTN
Tại Việt Nam, BHTN là một chế độ mới thuộc chính sách ASXH của Nhànước có tác động trực tiếp đến người sử dụng lao động và người lao động BHTNvừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết tình trạng thất nghiệp vừa là một chính sáchASXH rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
- Ý nghĩa của BHTN đối với người lao động
Hàng năm, thị trường lao động đón nhận hàng triệu người bước vào độ tuổilao động nhưng cơ hội việc làm lại có hạn Mặt khác, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế,phát triển đất nước theo hướng CNH-HĐH, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 27để theo hướng hiện đại hơn thì có một bộ phận không nhỏ lao động sẽ bị thất nghiệp
do nhiều nguyên nhân khác nhau Điều này là một hệ quả xấu cho nền kinh tế xãhội và chính bản thân, gia đình người lao động bị thất nghiệp Do vậy, BHTN ra đời
có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động Mục đích đầu tiên của BHTN là hỗ trợmột phần tài chính cho người lao động sau khi bị thất nghiệp, trong thời gian hưởngchế độ BHTN, người lao động không chỉ nhận được khoản trợ cấp mà còn được cấpthẻ BHYT, được tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để sớm tìm được côngviệc phù hợp Những chế độ này không chỉ giúp cho người lao động giảm bớt mộtphần khó khăn trước mắt khi bị tạm thời mất việc làm mà còn tạo điều kiện cho họ
có việc làm mới để ổn định cuộc sống
Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập chủ yếu của người lao động là tiềnlương, do đó, khi mất việc làm đồng nghĩa với việc họ sẽ không có thu nhập Đây làgiai đoạn khó khăn của chính bản thân và gia đình của người lao động Khi thấtnghiệp, người lao động phải tích cực tìm kiếm việc làm nhưng không ít trong số họrơi vào cảnh khó khăn, túng quẫn khi mà việc làm ngày càng hạn hẹp, yêu cầu củanhà tuyển dụng ngày càng cao Như vậy, BHTN có ý nghĩa tích cực đối với cá nhânngười lao động khi bị mất việc làm, không chỉ giải quyết một phần khó khăn trongcuộc sống mà bản thân người lao động sẽ thấy được trách nhiệm của xã hội đối vớimình, tạo cho họ sự ổn định về tâm lý để tích cực tìm kiếm việc làm
- Ý nghĩa của BHTN đối với người sử dụng lao động
BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn cả với người sửdụng lao động Khi người lao động bị thôi việc, quỹ BHTN sẽ chế độ cho người laođộng thay vì người sử dụng lao động theo Luật lao động Do đó, các doanh nghiệp,
tổ chức sẽ giảm bớt gánh nặng khi hoạt động sản xuất kinh doanh không tốt buộcngười lao động phải nghỉ việc Mặt khác, khi người sử dụng lao động tham giaBHTN thì người lao động sẽ cảm thấy yên tâm hơn, hiệu suất công việc tốt hơn thìcác tổ chức, doanh nghiệp sẽ sử dụng lao động hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho các
tổ chức, doanh nghiệp phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh
Trang 28Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng nhận thức được đúng đắn bảnchất của BHTN, nhiều đơn vị, tổ chức, vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình vềBHTN Đây không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà nó còn ảnh hưởng rất lớnđến uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp về trách nhiệm đối với người lao động nóiriêng và toàn xã hội nói chung
- Ý nghĩa của BHTN đối với Nhà nước
Nhà nước là một chủ thể quan trọng trong việc xây dựng, tổ chức và sử dụngquỹ BHTN Theo đó, Nhà nước ban hành những quy định liên quan đến đối tượngtham gia, đối tượng hưởng chế độ, tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHTN một cáchchặt chẽ để đảm bảo công bằng cho người lao động, người sử dụng lao động Thấtnghiệp là một vấn đề mà tất cả các nước đều quan tâm, các Chính phủ luôn tìm cách
để giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế trong đó có chính sách BHTN BHTN rađời không chỉ đảm bảo hài hòa lợi ích cho người lao động và người sử dụng laođộng mà nó còn đảm bảo mục tiêu ASXH của Nhà nước
Đối với Nhà nước thì việc hỗ trợ vào quỹ BHTN sẽ tạo ra một nguồn ngân sáchphục vụ cho việc giảm áp lực tiêu cực của thất nghiệp đối với toàn xã hội Do đó, khitình trạng thất nghiệp thường xuyên xảy ra, BHTN sẽ làm giảm gánh nặng chi tiêu củaChính phủ cho việc giải quyết vấn đề thất nghiệp và việc làm cho người lao động
Hệ lụy của thất nghiệp thường đi cùng với các vấn nạn về xã hội Khi ngườilao động thất nghiệp tức là không có nguồn thu nhập, họ dễ đi vào cạm bẫy nhưtrộm cắp và một số tệ nạn xã hội khác Một số nhóm người lao động có thể bất mãn
sẽ tổ chức các buổi biểu tình, chống phá lại doanh nghiệp gây mất trật tự xã hội…Đây là một gánh nặng cho Nhà nước Do đó, nếu như BHTN được áp dụng thì cuộcsống người lao động sau khi thất nghiệp sẽ ổn định hơn, sớm tìm kiếm được côngviệc mới và hơn hết là tránh xa được các tệ nạn xã hội Như vậy, Nhà nước sẽkhông phải đối mặt với các vấn đề cẳng thẳng về vấn nạn thất nghiệp, không phảichi nhiều ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm, gây rối trật tự an ninh
do thất nghiệp gây nên
Trang 29Với các ý nghĩa như trên thì BHTN là một chính sách lớn của Đảng và Nhànước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Chính sách này có ýnghĩa thiết thực và thể hiện tính nhân văn sâu sắc Tính nhân văn của BHTN được thểhiện ở chỗ, nó không chỉ là đảm bảo mức sống cho người lao động sau khi bị thấtnghiệp mà còn là sự chia sẻ rủi ro giữa người đang có việc làm và những người bịmất việc Chính vì thế, các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp và người lao động cần nângcao nhận thức về BHTN, tích cực tham gia đề nhằm giảm bớt khó khăn cho người laođộng khi bị mất việc làm, góp phần đảm bảo ASXH Tóm lại, BHTN là một chế độrất quan trọng, là một loại hình bảo hiểm tiến bộ có ý nghĩa giúp cho người lao độngvượt qua khó khăn khi thất nghiệp mà nó còn góp phần ổn định chính trị - xã hội, tạotiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hiện nay.
1.2 Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp của một tỉnh
1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp
Khái niệm quản lý chi BHTN
Hiện nay, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, nói đến quản lý lànói đến sự tác động của chủ thế quản lý và đối tượng quản lý, nó là tập hợp nhữnghoạt động của con người để thực hiện một mục tiêu thông qua các hoạt động xâydựng kế hoạch, tổ chức, phối hợp, lãnh đạo, kiểm soát để thúc đẩy hoạt động củanhững người tham gia trong tổ chức đó
Quản lý chi BHTN là một hoạt động quản lý Nhà nước về chi BHTN Theocách hiểu thông thường thì quản lý Nhà nước về quản lý chi BHTN là các hoạt động
mà chủ thể là Nhà nước tác động lên cơ quan chi BHTN sao cho hoạt động này diễn
ra theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo mục tiêu của BHTN Quỹ BHTN làmột nguồn quỹ thuộc hệ thống tài chính quốc gia, để nguồn quỹ ổn định và phát triểnthì Nhà nước cần phải tăng cường quản lý nguồn quỹ này không chỉ để đảm bảo cácquyền lợi của người lao động mà nó còn giúp Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm
vụ và mục đích vì sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Do đó, quản lý Nhà nước
về chi BHTN có ý nghĩa rất quan trọng Như vậy, quản lý Nhà nước về chi BHTN làtập hợp những hoạt động của Nhà nước nhằm hoạch định tổ chức thực hiện và kiểm
Trang 30tra, giám sát hoạt động chi BHTN, góp phần đảm bảo nguồn quỹ BHTN, tạo sự côngbằng cho người lao động, đảm bảo mục tiêu ASXH, góp phần lớn trong công cuộc cảicách và phát triển kinh tế của đất nước
Theo tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa: “Quản lý chi BHTN được hiểu là tácđộng của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động như: lập,xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chitrả các chế độ BHTN nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc vàphương pháp nhất định” [22]
Theo tổng hợp của tác giả thì: Quản lý chi BHTN là một hoạt động quản lý Nhà nước về chi BHTN Nhà nước tiến hành các hoạt động quản lý các cơ quan chuyên trách về BHTN theo đúng pháp luật, đảm bảo cho BHTN phát huy được vai trò và mục đích mà Nhà nước đã đề ra Dưới góc độ tiếp cận của nghiên cứu thì quản lý chi BHTN bao gồm toàn bộ các hoạt động quản lý đối tượng nhận BHT; quản lý quỹ BHTN; quản lý thực hiện chi BHTN; kiểm tra, kiểm soát chi BHTN nhằm đạt được các mục tiêu của BHTN, đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy trình theo quy định của pháp luật
Theo đó, nội hàm của khái niệm quản lý chi BHTN bao gồm các khía cạnh sau:
Thứ nhất là, chủ thể quản lý là Nhà nước, có quyền lập pháp, nghiên cứu,
xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN, quản lý BHTN Đối tượng quản lý là các cơquan chuyên ngành BHTN như BHXH Việt Nam, BHXH các cấp là người trực tiếp
tổ chức thực hiện chi BHTN
Thứ hai là, quản lý chi BHTN thông qua công cụ là văn bản quy phạm pháp
luật và đảm bảo được thực hiện theo đúng nguyên tắc, đúng quy trình mà Nhà nước
đã ban hành
Thứ ba là, nội dung quản lý chi BHTN bao gồm: Quản lý đối tượng nhận BHTN;
Quản lý quỹ BHTN; Quản lý thực hiện chi BHTN; Kiểm tra, kiểm soát chi BHTN
Thứ tư là, mục tiêu của quản lý chi BHTN là phải đảm công bằng, bảo vệ
quyền lợi cho người lao động khi bị thất nghiệp Bên cạnh đó, thực hiện quản lý chi
Trang 31BHTN phải hiệu quả nhằm ổn đinh và phát triển quỹ BHTN, đảm bảo ASXH, ổnđịnh và phát triển kinh tế quốc gia.
Vai trò của quản lý chi BHTN
Như đã phân tích ở trên, BHTN là một loại bảo hiểm tiến bộ để giải quyếttình trạng thất nghiệp và là một chính sách ASXH nhằm ổn định xã hội, tạo tiền đềcho kinh tế quốc gia phát triển bền vững Hiện nay, nền kinh tế các quốc gia bị ảnhhưởng sâu sắc bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thị trường lao động cũng có nhiềubiến động, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên Do đó, BHTN ra đời có ý nghĩa rất lớnđối với người lao động Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng thực hiện được tốtquy trình chi BHTN để đạt được hiệu quả như đúng bản chất của nó Nếu như công tácquản lý chi BHTN tốt thì việc sử dụng quỹ BHTN sẽ đảm bảo được tính hiệu quả cao
Do đó, quản lý chi BHTN có vài trò rất quan trọng, cụ thể như sau:
- Đối với người thụ hưởng chế độ BHTN
Mục đích đầu tiên của BHTN là hỗ trợ cho người thất nghiệp một phần tàichính và giúp họ sớm tìm được việc làm mới thông qua tư vấn, giới thiệu việc làm
và đào tạo nghề Như vậy, nếu như người lao động và người sử dụng lao động chấphành đúng thủ tục, quy trình, đóng góp vào quỹ theo như pháp luật quy định thìngười lao động sẽ được hưởng BHTN sau khi bị mất việc làm Theo đó, người sửdụng lao động và người lao động thuộc đối tượng tham gia BHTN, phải đóngBHTN thì người lao động mới được hưởng trợ cấp và các chế độ của BHTN sau khi
bị thất nghiệp Do đó, thực hiện tốt quản lý chi BHTN thì sẽ đảm bảo được quyềnlợi mà người lao động được hưởng Đây là vai trò đầu tiên và ảnh hưởng trực tiếpđến người lao động Theo luật định, để người lao động được hưởng chế độ BHTNthì cơ quan chi trả BHTN phải thực hiện các quy trình trong quản lý chi như: xácđịnh đúng đối tượng được hưởng, tính toán chính xác thời gian đóng, mức hưởng đểchi đủ số tiền được hưởng trợ cấp Bên cạnh đó, cơ quan chi trả BHTN cũng phảixác định các chi phí cho công tác tổ chức thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm, chiphí đào tạo nghề cho người thất nghiệp Nếu như cơ quan chi trả BHTN thực hiện
Trang 32tốt được công tác quản lý chi thì người lao động sẽ được hưởng quyền lợi mà mìnhđược hưởng.
- Đối với Nhà nước và xã hội
Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc hình thành và sử dụng quỹ BHTN.Nhà nước đưa ra các luật định, quy định chế độ BHTN và là chủ thể quản lý việcthu chi quỹ BHTN trong hệ thống BHXH Nhà nước quản lý BHTN là để đảm bảomục tiêu hiệu quả trong quá trình xử lý các vấn đề về thất nghiệp Mục tiêu củaBHTN là Nhà nước tạo ra một nguồn ngân sách để giải quyết tình trạng thất nghiệp,việc chi trả BHTN là một chính sách ASXH, góp phần ổn định xã hội, chính trị,tăng thêm niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Nhà nước, hỗ trợ người laođộng thất nghiệp sớm tìm được việc làm phù hợp Khi thực hiện tốt công tác quản
lý chi BHTN thì sẽ tránh được sự lãng phí và thất thoát quỹ tiền mặt, sử dụng đúngmục đích theo quy định, góp phần đảm bảo sự tồn tại và phát triển quỹ BHTN Bêncạnh đó, các khoản chi hợp lý sẽ góp phần tiết kiệm chi phí quản lý hành chính liênquan đến việc thực hiện BHTN
Tình trạng thất nghiệp gây ra nhiều hệ lụy lớn cho xã hội như tệ nạn xã hội,bất đình đẳng, phân hóa giàu nghèo, bất ổn xã hội… nếu như không giải quyết sớmthì sẽ gây ra hậu quả nặng nề, tạo gánh nặng cho Nhà nước BHTN hình thành và sửdụng để giải quyết vấn đề đó, tuy nhiên nếu như chi BHTN không đúng mục đích,xác định sai hoặc nhầm đối tượng được hưởng chế độ sẽ gây ra sự bất công trong xãhội Do đó, quản lý chi BHTN là một hoạt động có vai trò rất lớn, nếu thực hiện tốt
sẽ là một trong những công cụ giải quyết hiệu quả vấn đề liên quan đến quyền lợicủa người lao động khi tình trạng thất nghiệp xảy ra
- Đối với nền kinh tế
Quản lý chi BHTN không chỉ có vai trò rất lớn đối với người lao động, Nhànước và xã hội, nó còn có vai trò đối với nền kinh tế Thất nghiệp là tất yếu của sựphát triển kinh tế thị trường BHTN ra đời không chỉ đơn thuần là một chính sáchASXH mà nó có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế Khi thực hiện tốt các chínhsách ASXH sẽ là tiền đề cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế và thực
Trang 33hiện tốt chủ trương của Đảng về mục tiêu phát triển đất nước Hiện nay, nền kinh tếnước ta phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo đó, cácthành phần kinh tế được thiết lập và phát triển mạnh mẽ Cùng với đó là sự bùng nổcủa khoa học công nghệ nên đặt ra nhiều thách thức cho nguồn lao động Nếu nhưlực lượng lao động không đáp ứng được trình độ phát triển của nền kinh tế thì dẫnđến sự đào thải lao động và tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên BHTN ra đời đểbảo vệ người lao động nhưng phải được quản lý một cách chặt chẽ để hài hòa giữaASXH và sự phát triển kinh tế quốc gia Do đó, việc chi trả BHTN cần phải đượcquản lý chặt chẽ và được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước.
Thực hiện tốt công tác quản lý chi BHTN sẽ hỗ trợ kịp thời cho người laođộng bị mất việc làm, giúp họ yên tâm tìm kiếm công việc mới, kích thích sự sángtạo, tự giác nhằm nâng cao hiệu suất lao động cho nền kinh tế
1.2.2 Nguyên tắc của quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp
Quản lý chi BHTN có vai trò rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xãhội của đất nước Do đó, công tác chi trả BHTN cần phải thực hiện tốt, đúng quytrình, quy định để phát huy vai trò của nó Đây là một trong những nhiệm vụ quantrọng của cơ quan BHXH và việc chi trả BHTN được thực hiện theo các nguyên tắcnhất định Theo Điều 4, Quyết định số 828/QĐ-BHXH ngày 27/05/2017 của Tổnggiám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý chi trả các chế độBHXH, BHTN thì nguyên tắc quản lý chi BHTN có 5 nguyên tắc cơ bản như sau:
Nguyên tắc 1: Đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng người được hưởng
Đây là nguyên tắc cơ bản của quản lý chi BHTN để đảm bảo mục tiêu màNhà nước đã đề ra Quản lý chi BHTN phải đảm bảo đúng chế độ, xác định đúngngười được hưởng sẽ tránh được thất thoát, góp phần ổn định và phát triển quỹBHTN Thực hiện chi đúng chế độ, đúng đối tượng sẽ đảm bảo công bằng trongviệc hưởng chính sách BHTN, tránh được các trường hợp gian lận, lợi dụng quỹBHTN để trục lợi cá nhân Cũng theo nguyên tắc này, quản lý chi BHTN được tiếnhành phải đúng quy trình, đúng thủ tục theo quy định hiện hành, đảm bảo vai tròquản lý của Nhà nước đối với công tác quản lý chi BHTN Như vậy, để thực hiện
Trang 34nguyên tắc này, cơ quan chi trả BHTN phải lấy các văn bản pháp luật làm cơ sởthen chốt, thường xuyên cập nhật chính sách mới, chính sách sửa đổi trong việc chitrả BHTN để xác định đúng chế độ và người được hưởng BHTN nhằm phát huyđúng vai trò của BHTN đối với người lao động.
Nguyên tắc 2: Bảo đảm chi trả kịp thời và đầy đủ chế độ của người hưởng
Bên cạnh nguyên tắc đúng đối tượng, đúng người được hưởng thì nguyêntắc bảo đảm chi trả kịp thời và đầy đủ chế độ của người hưởng cũng có ý nghĩaquan trọng Đối với nguyên tắc này thì cơ quan chi trả phải nắm rõ các quy định
về thời gian để tổ chức thực hiện Trên cơ sở thời gian thực hiện kịp thời, thì cơquan quản lý phải đảm bảo được nguyên tắc chi trả đầy đủ chế độ cho người đượchưởng Nội dung cả nguyên tắc này là đối tượng tham gia BHTN khi được xétduyệt hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ khoản trợcấp cho người lao động Cơ sở của nguyên tắc này là chế độ đóng – hưởng Theo
đó, người lao động muốn hưởng trợ cấp thất nghiệp thì phải tham gia đóng gópBHTN trong một thời gian nhất định theo quy định của Nhà nước Mức đóng góp
sẽ là căn cứ để tính toán mức chi trả BHTN cho người lao động, mức đóng gópcao thì được hưởng trợ cấp ở mức cao và ngược lại Khi xác định được mức hưởngtrợ cấp, cơ quan BHXH phải chi trả đúng số tiền trên cơ sở xét duyệt hồ sơ xácđịnh đúng đối tượng hưởng, thời gian tham gia Như vậy, để thực hiện tốt nguyêntắc này thì quỹ BHTN phải đảm bảo đầy đủ tiềm lực tài chính để chi trả kịp thời
và đầy đủ cho người được hưởng chế độ BHTN
Nguyên tắc 3: Thủ tục chi trả đơn giản, thuận tiện
Thủ tục chi trả cũng là một hoạt động quan trọng trong quản lý chi BHTN.Khi cơ quan BHXH đã xác định đúng đối tượng hưởng, đúng mức trợ cấp thì sẽ tiếnhành chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp Ngoài nguyên tắc chi đủ,đúng, kịp thời thì cơ quan BHXH phải thực hiện nguyên tắc thủ tục chi đơn giản vàthuận tiện Muốn chi trả kịp thời cho người hưởng chế độ thì thủ tục chi có vai tròrất lớn Nếu như thủ tục chi trả gây khó khăn, phiền hà cho người lao động thì thờigian làm hồ sơ, xét duyệt hồ sơ và thực hiện chi trả rất lâu, phát sinh nhiều chi phíkhông đáng có Do đó, để kịp thời giúp cho người hưởng chế độ vượt qua khó khăn
Trang 35trong thời gian thất nghiệp thì cơ quan quản lý cần phải quy định thủ tục chi trả mộtcách đơn giản, thuận tiện nhưng đồng thời phải đảm bảo được đúng đối tượng vàmức trợ cấp người lao động được hưởng.
Nguyên tắc 4: Đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả
Nguyên tắc an toàn tiền mặt trong chi trả có vai trò rất quan trọng trong quản
lý chi trả nói chung và quản lý chi BHTN nói riêng Nhà nước và cơ quan BHXH cóquyền quản lý tiền mặt để đảm bảo nhu cầu chi trả cho người hưởng chế độ Mọikhoản chi trả đều phải thông qua quỹ tiền mặt BHTN và phải có căn cứ chứng từ kếtoán Trước khi chi trả chế độ, cán bộ BHXH phải kiểm soát tính hợp lệ, hợp phápcủa chứng từ kế toán Đây là một thủ tục hành chính bắt buộc trong việc chi trả chế
độ nhằm đảm bảo an toàn tiền mặt, tránh thất thoát quỹ Số tiền mặt chi trả phảiđúng với số tiền bằng số, bằng chữ, khớp với thời gian trên chứng từ kế toán, sổ kếtoán, sổ quỹ Trước khi chi tiền mặt, chứng từ kế toán phải có chữ ký của người lĩnhtiền, thủ quỹ hoặc nhân viên chi tiền mặt, đảm bảo đúng quy trình, nguyên tắc chi
Nguyên tắc 5: Chi trả chế độ BHTN được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch
Quỹ BHTN được hình thành trên sự đóng góp của các bên là: người lao động,người sử dụng lao động, Nhà nước nên việc chi trả chế độ BHTN phải được quản lýthống nhất từ Trung ương đến địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước và phảiđược dân chủ công khai, minh bạch Các chính sách về chi trả chế độ BHTN được tậptrung, thống nhất trong cả nước thông qua các quy định pháp luật Chế độ đóng góp
và mức chi trả phải được công khai rộng rãi đến toàn thể nhân dân và phải được thựchiện công bằng, không phân biệt độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo… Công tác chitrả chế độ BHTN cần phải minh bạch trong các cơ quan quản lý, sử dụng đúng mụcđích đảm bảo ASXH Để đạt được nguyên tắc công khai, minh bạch thì các cơ quanchuyên trách cần phải thường xuyên tổ chức công tác thanh kiểm tra, giám sát quytrình chi trả chế độ BHTN để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, đảm bảoquyền lợi cho người hưởng chế độ, tạo niềm tin của người lao động vào chính quyền
và khuyến khích họ tích cực tham gia BHTN
Trang 361.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước cấp tỉnh về chi bảo hiểm thất nghiệp
1.2.3.1 Quản lý đối tượng nhận BHTN
Quản lý đối tượng nhận BHTN là công tác có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Để thực hiện đúng nguyên tắc, cơ quan quản lý chi BHTN phải thực hiện tốt côngtác quản lý đối tượng hưởng BHTN Đối tượng hưởng BHTN phải đảm bảo đầy đủcác điều kiện được quy định chi tiết tại Điều 49 Luật Việc làm 2013 Theo đó, đểđược hưởng BHTN, người lao động phải đăng ký hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệptại TTGTVL tỉnh và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ, đápứng đủ điều kiện về thời gian tham gia BHTN theo quy định Để thực hiện tốt côngtác quản lý đối tượng nhận BHTN, cán bộ quản lý cần phải nắm rõ các quy địnhpháp luật về đối tượng hưởng BHTN để khi nhận được hồ sơ giải quyết chế độ thấtnghiệp của người lao động, cán bộ sẽ xác định đúng đối tượng đó có thuộc diệnhưởng chế độ BHTN hay không Bên cạnh việc xác định điều kiện được hưởngBHTN, cán bộ quản lý chi trả chế độ cũng cần phải rà soát lại tính hợp lệ của hồ sơ
đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động Hồ sơ này được quy định tạiĐiều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/03/2015 của Chính phủ về quy định chitiết thi hành một số điều của Luật việc làm, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệpbao gồm: Giấy đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Laođộng – Thương binh và Xã hội quy định; các giấy tờ liện quan đến việc chấm dứthợp đồng; Sổ BHXH để xác nhận việc đóng BHTN và cơ quan quản lý sẽ trả lại chongười lao động trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy đề nghị củangười lao động
Như vậy, khi thực hiện quản lý chi BHTN thì đầu tiên cán bộ quản lý tại cơquan BHXH cấp tỉnh cần phải rà soát thông tin về tính hợp lệ của hồ sơ hưởngBHTN mà người lao động đã nộp tại TTGTVL Sau đó, cán bộ quản lý rà soát, cậpnhật các thông tin đến việc đóng góp vào quỹ BHTN của người lao động Nếu nhưcác đối tượng đó đủ điều kiện mà pháp luật quy định thì cán bộ quản lý tập hợpdanh sách để cho vào diện đối tượng hưởng chế độ BHTN
1.2.3.2 Quản lý quỹ BHTN
Trang 37Quỹ BHTN là một nguồn tài chính tập trung được huy động từ sự đóng góp củangười lao động, các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động và Nhà nước Ngoài ra,nguồn quỹ này có thể được phát triển từ sự đầu tư quỹ Sự đóng góp này thể hiệnquyền và nghĩa vụ của các đối tượng tham gia Hàng tháng, các đối tượng này phải cótrách nhiệm đóng vào nguồn quỹ BHTN chung để chia sẻ gánh nặng cho người laođộng, tạo niềm tin, động lực để làm việc hiệu quả hơn Quỹ BHTN do một cơ quanquản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo cơ chế tài chính Nhà nước Đây
là một nguồn quỹ độc lập, tự thu, tự chi ngoài NSNN để giải quyết vấn đề thất nghiệp
và không sử dụng cho mục đích khác Pháp luật quy định mức đóng góp BHTN nhưsau: Đối với người lao động thì trích 1% tiền lương của tháng làm việc, đối với tổ chức
sử dụng lao động thì đóng 1% quỹ tiền lương vào quỹ BHTN của người lao động thamgia BHTN Nhà nước sẽ hỗ trợ 1% quỹ tiền lương, số tiền này được lấy từ Ngân sách
và mỗi năm chuyển một lần Mục đích sử dụng quỹ BHTN được quy định cụ thể tạimục 5 Luật việc làm 2013 Quỹ BHTN được sử dụng để chi trả chế độ cho ngườihưởng BHTN; Chi phí quản lý BHTN thực hiện theo quy định của BHXH; Đầu tư
để phát triển quỹ Theo đó, thì quản lý quỹ BHTN được thực hiện như sau: QuỹBHTN được hạch toán độc lập, tổ chức BHXH thực hiện việc thu, chi, quản lý và
sử dụng Quỹ BHTN, hoạt động đầu tư từ quỹ phải đảm bảo tính an toàn, hiệu quả
và có thể thu hồi được khi cần thiết Tuy nhiên, đối với phạm vi quản lý của cơ quanBHXH cấp tỉnh thì việc quản lý quỹ BHTN được tổ chức thông qua công tác quản
lý thu và quản lý chi BHTN Cơ quan BHXH cấp tỉnh thường xuyên báo cáo tìnhhình thu chi quỹ BHTN lên BHXH Việt Nam để cơ quan quản lý cấp trên có kếhoạch sử dụng quỹ vào các hoạt động đầu tư, không ngừng phát triển quỹ, đảm bảonguồn tài chính vững mạnh, kịp thời chi trả cho người được hưởng chế độ BHTN
1.2.3.3 Quản lý thực hiện chi bảo hiểm thất nghiệp
Quản lý thực hiện chi BHTN là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với công tác quản lý chi BHTN Nếu như công tác này không được quản
lý chặt chẽ thì dẫn đến việc chậm trễ chi trả, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống củangười thất nghiệp và có thể làm thất thoát quỹ BHTN Do đó, cơ quan BHXH cần
Trang 38phải phân bổ đầy đủ nguồn lực để thực hiện quản lý chi trả chế độ BHTN một cáchhiệu quả nhất BHXH cấp tỉnh, cấp huyện là cơ quan tổ chức chi trả các chế độBHTN Cơ quan BHXH cấp huyện chi trả trực tiếp hoặc hợp đồng với đại diện các
xã để chi trả chế độ BHTN cho người được hưởng tại địa phương đó BHXH cấptỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, giám sát tất cả quytrình chi trả của cơ quan BHXH cấp huyện và đại diện chi trả của xã theo quy định.Bên cạnh đó, BHXH cấp tỉnh phối hợp với Sở LĐTB&XH, TTGTVL để tiến hànhthực hiện quy trình tiếp nhận hồ sơ và giải quyết nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện
để người lao động hưởng đúng chế độ BHTN
Quy trình tổ chức thực hiện chi trả
- TTGTVL tỉnh hướng dẫn người lao động kê khai các thông tin theo mẫu vàtiếp nhận hồ sơ đăng ký thất nghiệp Hướng dẫn họ về thủ tục hồ sơ, thời gian nộp
hồ sơ BHTN Giám đốc TTGTVL tỉnh dự thảo quyết định hưởng BHTN và trìnhGiám đốc Sở LĐTB&XH tỉnh Khi có quyết định thì gửi cho BHXH tỉnh 1 bản vàngười lao động 1 bản Trước ngày 25 hàng tháng, TTGTVL lập danh sách ngườihưởng trợ cấp thất nghiệp cùng đề nghị chi trả trợ cấp kèm theo phiếu tư vấn, giớithiệu việc làm, hồ sơ đăng ký của người lao động đến BHXH tỉnh nơi quản lý trựctiếp chi trả
- Quy trình tổ chức thực hiện chi trả tại cơ quan BHXH tỉnh
+ Phòng Chế độ BHXH là nơi sẽ tiếp nhận và căn cứ vào danh sách, quyếtđịnh, thông báo do TTGTVL chuyển sang, sau đó lập danh sách tăng hưởng trợ cấpBHTN đồng rà soát, kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ theo dõi việc tham gia và hưởngBHTN, điều kiện hưởng, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp rồi chuyển cho Phòng Kếhoạch – Tài chính trước ngày 28 và chuyển cho BHXH huyện trước ngày 30 cùngthẻ BHYT của người hưởng BHTN BHXH tỉnh tiếp nhận sổ BHXH của ngườiđăng ký hưởng trợ cấp do BHXH huyện chuyển lên để xác định chế độ trợ cấp theoquy định, sau đó trả về cho BHXH huyện Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ từTTGTVL mà phát hiện những sai sót thì làm văn bản trình Giám đốc BHXH tỉnh đểgửi Sở LĐTB&XH để điều chỉnh kịp thời Phòng Kế hoạch tài chính tiếp nhận các
Trang 39mẫu biểu, kiểm tra, rà soát và cấp kinh phí cho BHXH huyện Nếu là chi trả trợ cấpthất nghiệp hàng tháng thì chế độ BHTN được thực hiện chi trả cùng với lương hưu,trợ cấp BHXH hàng tháng Nếu là chi trả trợ cấp một lần thì Phòng chế độ BHXHcăn cứ vào quyết định của TTGTVL để lập danh sách đối tượng hưởng trợ cấp mộtlần, kiểm tra đối chiếu về mức hưởng, thời gian hưởng của từng người gửi choPhòng Kế hoạch – Tài chính cấp kinh phí chỉ trả một lần cho người được hưởngBHTN.
+ Chi hỗ trợ học nghề: Phòng Chế độ BHXH lấy quyết định của SởLĐTB&XH do TTGTVL chuyển sang làm căn cứ để thực hiện lập danh sách ngườithất nghiệp được hưởng chế độ hỗ trợ học nghề trong các Cơ sở nghề tại địaphương, sau đó chuyển lên Phòng Kế hoạch – Tài chính để cấp kinh phí cho BHXHhuyện đối chiếu và chi trả
+ Chi hỗ trợ việc làm: Cũng như chi hỗ trợ học nghề, Phòng Chế độ BHXHlập danh sách chuyển sang Phòng Kế hoạch – Tài chính để chi trả kinh phí hỗ trợviệc làm cho TTGTVL tỉnh và ghi vào sổ chi BHTN, sau đó chuyển trả choTTGTVL tỉnh danh sách người được hưởng hỗ trợ việc làm, phiếu tư vấn giới thiệuviệc làm để lưu trữ
Như vậy, theo như quy trình tổ chức chi trả BHTN tại cơ quan BHXH cấptỉnh thì việc quản lý chi trả BHTN cho đối tượng hưởng sẽ có sự tham gia của SởLĐTB&XH, TTGTVL và BHXH cấp tỉnh TTGTVL sẽ phụ trách tiếp nhận, quản lýđối tượng đến nộp hồ sơ đăng ký thất nghiệp Sở LĐTB&XH tiếp nhận hồ sơ từTTGTVL chuyển đến để xem xét và làm quyết định hưởng chế độ cho người laođộng Cơ quan BHXH cấp tỉnh tiếp nhận danh sách và quyết định hưởng chế độ đểtiến hành làm thủ tục chi trả Thực hiện việc chi trả và quản lý các khoản chi trả sẽ
do phòng Chế độ BHXH và Phòng Kế hoạch tài chính thực hiện Phòng Chế độBHXH sẽ rà soát các đối tượng, mức chi, các khoản chi để lập danh sách cho Phòng
Kế hoạch tài chính chi trả
- Quy trình tổ chức thực hiện chi trả tại BHXH cấp huyện
+ Cơ quan BHXH cấp huyện là đơn vị thực hiện chi trả trực tiếp chế độ BHTNcho người lao động hoặc ủy quyền chi trả cho xã nơi mà người hưởng chế độ sinh sống
Trang 40theo danh sách của BHXH tỉnh chuyển xuống BHXH huyện có trách nhiệm tiếp nhận
sổ BHXH của người đăng ký hưởng trợ cấp chuyển lên BHXH tỉnh để xác nhận việchưởng chế độ, sau đó nhận lại sổ BHXH và thẻ BHYT để trả cho người hưởng BHTN
+ Đối với chi trả một lần: Căn cứ vào danh sách những người được hưởngtrợ cấp một lần do BHXH tỉnh chuyển xuống để thực hiện chi trả và ghi vào sổ chiBHTN Nếu chi trả qua tài khoản cá nhân thì lưu mẫu số 22-CBH cùng với chứng
từ chi Cuối năm tiến hành đối chiếu danh sách người hưởng chế độ một lần củanăm trước so với số đã chi tra trong năm để rà soát, kiểm tra nhũng đối tượng chưanhận trợ cấp thất nghiệp để quản lý và thực hiện chi trả vào năm sau
+ Chi cho hỗ trợ học nghề: Hàng tháng, BHXH cấp huyện tiếp nhận danh sáchngười hưởng chế độ hỗ trợ học nghề từ tỉnh chuyển xuống và đối chiếu với danh sách
đề nghị chi trả hỗ trợ học nghề có đầy đủ chữ ký của người hưởng hỗ trợ do Cơ sở đàotạo nghề chuyển đến để thống nhất lập danh sách người được hưởng hỗ trợ học nghề.Sau đó chuyển trả cho Cơ sở họ nghề để lưu và chi trả kinh phí cho cơ sở đào tạo nghềtiến hàng công tác hỗ trợ học nghề cho người hưởng BHTN
Như vậy, quản lý thực hiện chi BHTN là một hoạt động vô cùng quan trọng vìthực hiện chi trả ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người hưởng chế độ và quỹBHTN Để quản lý được hiệu quả thì cơ quan quản lý thực hiện tổ chức, kiểm tra, ràsoát quy trình thực hiện chi để đảm bảo chi đúng, đủ, kịp thời cho người thất nghiệp
Quản lý mức chi BHTN
Mức chi BHTN là một nội dung có vai trò rất quan trọng, nếu như cán bộ quản
lý chi trả tính toán xác định không chính xác mức chi sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi củangười hưởng trợ cấp hoặc gây thất thoát quỹ BHTN Cụ thể mức chi các khoản trợ cấpBHTN được Nhà nước quy định:
- Chi trả trợ cấp thất nghiệp
BHXH sẽ dựa vào quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp để tiến hành đốichiếu, kiểm tra hồ sơ tham gia BHTN để xác định thời gian tham gia, thời gianhưởng, mức trợ cấp cho người được hưởng chế độ BHTN