1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh hà tĩnh

198 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 831,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2001[86], [20] đã nhấn mạnh trong chính sách phát triển của các quốc gia đã gắn nông nghiệp với chức năng phát triển kinh tế và xã hộinông thôn, xem xét nền nông nghiệp của các nước đang

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-HOÀNG NGỌC HÀ

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TÀI

CHÍNH CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-HOÀNG NGỌC HÀ

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TÀI

CHÍNH CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA

Trang 3

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .1

1 Tính cấp thiết của đề tài: .1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: .2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án .2

3 Các câu hỏi nghiên cứu của luận án .3

4 Các kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được của luận án .3

5 Kết cấu của luận án .3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NLTC CHO XD NTM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .4

1.1.Tổng quan các nghiên cứu: .4

1.1.1 Các nghiên cứu có liên quan đến đề vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và XD NTM 4

1.1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM: 8

1.1.3.Những vấn đề đã được đề cập trong các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 12

1.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án .15

1.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 15

1.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 16

CHƯƠNG 2 CÁC NLTC CHO XD NTM Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH .21

2.1 Một số vấn đề chung về XD NTM .21

2.1.1 Nông thôn và NTM 21

2.2 Huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa phương cấp tỉnh .26

2.2.1 Quan niệm về NLTC và vai trò của các NLTC cho XD NTM 26

2.2.2 Nội dung huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa phương cấp tỉnh 30

2.2.2.2 Các NLTC chủ yếu cho XD NTM 30

2.2.2.3 Huy động các NLTC cho XD NTM: 31

Trang 5

2.2.2.4 Sử dụng NLTC cho XD NTM 35

2.3 Quản lý NLTC cho XD NTM .39

2.3.1 Quan niệm về quản lý NLTC cho XD NTM 39

2.3.2 Các công cụ quản lý các NLTC cho XD NTM 40

2.3.3 Nội dung quản lý đối với các NLTC cho XD NTM trên địa bàn cấp tỉnh 42

2.3.4 Phân cấp trong huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM 45

2.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM 51

2.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM

52

2.4 Kinh nghiệm về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại một số quốc gia và địa phương ở Việt Nam .56

2.4.1 Kinh nghiệm huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại một số quốc gia 56

2.4.2 Kinh nghiệm huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại một số địa phương ở Việt Nam 59

2.4.3 Một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hà Tĩnh trong huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .66

CHƯƠNG 3THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NLTC CHO XD NTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH .67

3.1 Thực trạng XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh .67

3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản của tỉnh Hà Tĩnh 67

3.1.2 Thực trạng về chương trình XD NTM tại Hà Tĩnh 69

3.2 Thực trạng về quản lý huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh .74

3.2.1 Cơ chế, chính sách về huy động và sử dụng NLTC 74

3.2.2 Kế hoạch huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM: .81

3.2.3 Kết quả huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

Trang 6

82

3.2.4 Thực trạng công tác kiểm tra giám sát việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM 101

3.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM từ kết quả điều tra khảo sát .110

3.3.1 Các biến số của mô hình nghiên cứu .110

3.3.2 Đánh giá thang đo và phân tích nhân tố 112

3.3.3 Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết 115

3.4 Đánh giá chung về thực trạng huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh .118

3.4.1 Những kết quả đạt được: 118

3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân: 120

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .124

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NLTC CHO XD NTM TẠI TỈNH HÀ TĨNH .126

4.1 Phương hướng, mục tiêu XD NTM và quan điểm về huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 .126

4.1.1 Phương hướng, mục tiêu XD NTM tại Hà Tĩnh giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 126

4.1.2 Quan điểm về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2030 127

4.2.1 Chính quyền các cấp của Hà Tĩnh thực hiện tốt công tác lập kế hoạch XD NTM gắn với các NLTC và phân cấp đầu tư cho cấp xã, trao quyền cho cộng đồng 128

4.2.2 Hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện tốt huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh 130

4.2.3 Kiện toàn bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ các cấp về xây dựng NTM và phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể 151

4.2.4 Tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát các NLTC cho XD

Trang 7

NTM 153

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 .155

KẾT LUẬN .156

TÀI LIỆU THAM KHẢO .158

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nằm ở khu vực duyên hải Bắc Miền trung, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh cónền kinh tế dựa vào nông nghiệp nhiều nhất trong cả nước Hầu hết trong số 1,2triệu người trên toàn tỉnh sống ở khu vực nông thôn và dựa vào nông nghiệp Gần2/3 tổng số lao động của tỉnh (63%) đang làm việc trong các ngành nông, lâm, ngưnghiệp Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp của Hà Tĩnh cao hơn trung bình cảnước (49%) và vượt xa trung bình thế giới (35%) GDP Hà Tĩnh cũng có tỷ lệtương tự: 34% GDP tỉnh đến từ nông nghiệp, so với mức 20% trung bình cả nước,

và chỉ có 6% trung bình thế giới[39]

Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp, nông thôn Hà Tĩnh phát triển còn thiếu bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ

hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Chương trình MTQG XD NTM được thực hiện theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ Hoạt động XD NTM trong cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng trong những năm vừa qua đã đạt được một số thành tựu nhất định Bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu được nâng cấp, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, thu nhập và điều kiện sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao

Trong bước đường đó, Hà Tĩnh hiện đang còn gặp phải nhiều khó khăn và thách thức trong việc huy động các nguồn lực để đạt được 19 tiêu chí của Chính phủ về NTM Thực tế, vấn đề quan trọng để XD NTM là phải đáp ứng đủ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực-nhất là các NLTC Tuy nhiên việc huy động và sử dụng các NLTC trong thời gian vừa qua còn tồn tại nhiều khó khăn và hạn chế - chưa đáp ứng yêu cầu đang ngày một gia tăng - đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có giải pháp để tháo gỡ

Từ những lý do trên đề tài: “Huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 9

2.1 Mục đích

Trên cơ sơ luận giải các cơ sở khoa học và phân tích thực trạng huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh, đề xuất các định hướng, các giải pháp nhằm tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn tới 2030

2.2 Nhiệm vụ

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về XD NTM và việc huy động, sử dụngcác NLTC cho XD NTM tại một địa phương cấp tỉnh

- Tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước

về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM; từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm

có thể áp dụng vào quá trình XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

- Đánh giá thực trạng huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh

Hà Tĩnh, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh

- Đề xuất các quan điểm và một số giải pháp về huy động, sử dụng các NLTC nhằm đẩy nhanh quá trình XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Huy động và sử dụng các NLTC vào XD NTM ở một địa phương cấp tỉnh, được nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hà Tĩnh

- Về thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011-2016, từ đó đề xuất các quan điểm và các giải pháp về huy động, sử dụng các NLTC nhằm thúc đẩy quá trình XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 và những năm tiếp theo

Trang 10

3 Các câu hỏi nghiên cứu của luận án

Câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài luận án:

Một là, cơ sở lý luận về huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở một địa phương cấp tỉnh?

Hai là, kết quả và những hạn chế trong huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh?

Ba là, giải pháp nào để huy động và sử dụng hiệu quả các NLTC nhằm XD thành công NTM tại Hà Tĩnh?

4 Các kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được của luận án

Về lý thuyết: Luận án phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về XD NTM; luận giải vai trò của NLTC đối với quá trình XD NTM và tác động của các NLTC đối với

XD NTM; đúc rút những bài học kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong nước về việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM

Về thực tiễn: Luận án phân tích thực trạng việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh; đánh giá tác động của việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM này trên cả hai mặt kết quả thực hiện và hạn chế cần khắc phục đồng thời chỉ ra các nguyên nhân của những hạn chế Từ đó, luận án đề xuất các quan điểm hoàn thiện các giải pháp huy động và sử dụng các NLTC để thúc đẩy nhanh quá trình XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

Luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong điều kiện Đảng và Nhà nước đang nỗ lực thực hiện thúc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nước nhà, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Quan điểm và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án hy vọng sẽ góp phần rút ngắn quá trình XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, bảng biểu và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày theo 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động và sử dụng các NLTC cho

Trang 11

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NLTC CHO XD NTM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan các nghiên cứu:

1.1.1 Các nghiên cứu có liên quan đến đề vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và XD NTM

Theo David Ricardo (1817)[55], Jonh Keyney (1936) [17], Johnston và Mello(1961)[88] đã đưa ra những lý thuyết kinh tế đánh giá cao vai trò của của nông nghiệp trong phát triển kinh tế Thứ nhất, nông nghiệp cung cấp lương thực vànguyên liệu đầu vào cho các ngành của nền kinh tế Hai là, nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản Ba là, lĩnh vực nông nghiệp là thị trường trong nước quan trọng cho các ngành công nghiệp, như sản xuất hàng tiêu dùng, máy móc và vật tư nông nghiệp Bốn là nông nghiệp là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho công nghiệp Năm là, nông nghiệp tạo ra một lượng vốn thặng dư để đầu tư cho quá trình công nghiệp hóa

Ellis, F và Biggs, S (2001)[86], [20] đã nhấn mạnh trong chính sách phát triển của các quốc gia đã gắn nông nghiệp với chức năng phát triển kinh tế và xã hộinông thôn, xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với thị trường nông sản thế giới; bên cạch

đó, rút ra bài học kinh nghiệm trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân ở các quốc gia này

Cát Chí Hòa (2009)[25], Cù Ngọc Hưởng(2006) [31], Đỗ Tiến Sâm(2008)[56], Nguyễn Xuân Cường (2010) [12], Lê Thế Cương(2013) [11], Nguyễn Kim Bảo(2004)[3], trên cơ sở phác họa bức tranh toàn cảnh thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử đã tập trung làm rõ khái niệm, nguồn gốc hình thành và đặc trưng của vấn đề “tam nông”, làm rõ vấn đề vì sao XDNTM xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ lịch sử trong tiến trình hiện đại hóa ở Trung Quốc Tác giả chỉ ra công cuộc XD NTM ở Trung Quốc chủ yếu có bốn nội dung: lấy quy hoạch làm đầu tàu; thực hiện “làm việc vì quần chúng nông dân”; chú trọng tăng thu nhập của nông dân; lấy việc phát triển lực lượng sản xuất nông thôn làm căn bản Các tác giả cho rằng, cho dù là các quốc gia đi trước hay đi sau trong tiến trình hiện đại hóa, họ đều tương đối chú trọng vào công cuộc XD và phát triển nông thôn Các cách làm này chủ yếu bao gồm: Kịp thời điều chỉnh mối quan

hệ giữa thành thị và nông thôn, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp; Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hiện đại; Nâng cao thu nhập cho nông dân; Nâng cao

Trang 12

trình độ tổ chức cho người nông dân; Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, bồi dưỡng nông dân theo các mô hình mới, hiện đại

Trần Quang Minh(2011)[38], Cao Hy Quân, Lý Thành(1992)[49], khi nghiên cứu về nông nghiệp Đài Loan đã khẳng định vấn đề nông nghiệp và nông thôn bao gồm cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục cho nên nó vô cùng quan trọng

và phức tạp Trong tương lai, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân sẽ ngày càng thu nhỏ, nhưng nó vẫn là lực lượng chủ yếu quyết định sự ổn định của nền kinh tế, xã hội và là yếu tố quan trọng để đảm bảo môi trường, cân bằng sinh thái.Các tác giả Trần Quang Minh(2011)[13, 38], Chong-Hyuk Suh, Hyung-Mo Kim (2014) [13] đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của nền nông nghiệp Hàn Quốc và những chính sách nông nghiệp mà Hàn Quốc áp dụng trong giai đoạn

1998 – 2008 đã trình bày các nội dung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc, xu hướng phát triển NTM và phân tích rõ phong trào XD “làng mới” của Hàn Quốc Các giải pháp chính làm cho phong trào này thành công được đúc kết lại gồm: Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực; Phát triển cộng đồng xã hội; Phân cấp phân quyền quản lý

và thực hiện dự án; Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương; Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân Từ đó tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp Những thành công của các chính sách nông nghiệp mà Chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng, mang lại sự phát triển vượt bậc cho nền nông nghiệp Hàn Quốc đó là: chính sách mở rộng chương trình chi trả trực tiếp, bảo vệ thu nhập nông nghiệp trước các thiên tai, ổn định giá cả sản phẩm nông nghiệp, phát triển và mở rộng các nguồn thu phi nông nghiệp và các chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp

Cuốn "Agriculture and Development"(2008)[92], tập hợp những nghiên cứu điển hình về phát triển nông nghiệp của các nhà khoa học trong Hội thảo: "Báo cáo tình hình phát triển của thế giới năm 2008" do World Bank tổ chức tại Berlin Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, nông nghiệp là một yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế ở các quốc gia nghèo Ba phần tư người nghèo ở các quốcgia đang phát triển sống tại các vùng nông thôn Để đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa nông nghiệp, các chính sách phát triển nông nghiệp phải xuất phát từ việc giải quyết những thách thức, khó khăn trong tương lai mà sản xuất nông nghiệp gặp phải, đó là sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên và những thách thức của quá trình toàn cầu hóa

Nguyễn Quan Ngọc, Phan Doãn Đại(1994) [42], Nguyễn Sinh Cúc(2003)[9],

Trang 13

đã có những nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta Các nghiên cứu này đã cung cấp những dữ liệu rất có giá trị về vai trò của Nhà nước, tính cộng đồng và tính bền vững của mô hình làng xã Việt Nam; những yếu tốtác động đến việc hình thành thiết chế làng xã và mô hình hoạt động của chúng, quátrình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.

Lưu Văn Sùng(2003)[61], Nguyễn Thiện Nhân(2015)[45], Tổ chức Oxfam

và Viện Nghiên cứu và Tư vấn Phát triển (RCD)(2015)[46], Hoàng Văn

Hoan[26], Vũ Quốc Tuấn(2011) [82] đã đánh giá ngành nông nghiệp Việt Nam hiện đang đối mặt với các thách thức mới về chất lượng nông sản và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và tác động của biến đổi khí hậu Cácnghiên cứu này cũng chỉ ra rằng: nếu được tạo môi trường phát triển thuận lợi với các can thiệp chính sách đúng hướng, thông qua các tổ chức nông dân và hợp tác liên kết,người dân sẽ phát huy tiếng nói và hiệu quả sản xuất, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tự nhiên và xã hội, từ đó được hưởng lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách công bằng hơn Phát triển hợp tác, liên kết nông dân bền vững được xác định là một nút thắt chính sách quan trọng, nhằm tổ chức lại sản xuất, đổi mới mối quan hệ sản xuất vốn đã tồn tại những bất hợp lý sau một thời gian dài Giải quyết bài toán này sẽ giúp giải phóng năng lượng, phát huy tiềm năng và nội lực của các tác nhân, phát huy tối đa những giá trị tích lũy qua nhiều đời, tăng sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam, củng cố điểm tựa tinh thần, vật chất vững chắc cho phát triển xã hội trong thời kỳ mới

Tác giả Chu Hữu Quý [52], Đặng Kim Sơn[57-59], Nguyễn Ngọc Hà[23], Phan Đại Doãn [14], Phạm Văn Nam[40] Nguyễn Danh Sơn [60] Nguyễn Thị

Tố Quyên[54], Trần Ngọc Ngoạn[41] Phạm Ngọc Dũng, [18] Vũ Văn Phúc[21] nhìn nhận và xem xét vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt trên tổng thể toàn nền kinh tế, trong mối quan hệ biện chứng giữa nông nghiệp, nông thôn vớicông nghiệp, đô thị Trên cơ sở phân tích thực trạng một số điểm trọng tâm nổi bật trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân thời gian từ năm 2000 đến năm 2010 các tác giả đã chỉ ra những tồn tại của nông nghiệp, nông thôn nước ta: thứ nhất, nông nghiệp vẫn manh mún, lạc hậu với giá trị đóng góp cho GDP trong nền kinh tế ngàycàng giảm, cơ cấu nông nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực những vẫn còn chậm, nông thôn vẫn nghèo nàn, lạc hậu và ô nhiễm, thu nhập của nông dân

Trang 14

thấp và đời sống cực khổ; thứ hai, những vấn đề còn tồn tại trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân hầu hết là nằm ở mặt chất của vấn đề (chất lượng chuyển dịch cơ cấu; chất lượng lao động; chất lượng giáo dục, dạy nghề; chất lượng cơ sở

hạ tầng; thu nhập thấp và chất lượng đời sống nông dân kém,…) Để giải quyết những vấn đề tồn tại trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và thách thức mới trong một mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2020, đề tài đề xuất một số chính sách như: 1) Phân bổ các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt chú trọng đến việc phân bổ nguồn lực đất đai; 2) Quy hoạch vùng; 3) Phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn hiện đại; 4) Nâng cao thu nhập cho nông dân; 5) Thay đổi tư duy, cách thức thực hiện khuyếnnông; 6)Tăng hiệu lực, hiệu quả của chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội cho nông dân; 7) Nâng cao năng lực của hệ thống chính quyền nông thôn-phát triển dân chủ và xã hội pháp quyển ở nông thôn…

Tác giả Nguyễn Thành Lợi [35], Vũ Văn Phúc [48], Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng[78] đã nêu những vấn đề lý luận chung về XD NTM; Kinh nghiệm quốc tế về XD NTM; Thực trạng XD NTM ở Việt Nam… trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp về phát triển kinh tế nông thôn, về đầu tư XD kết cấu hạ tầng và

XD người nông dân mới – là chủ thể của XD NTM Các tác giả đề xuất các giải pháp triển khai XD NTM như: Tổ chức XD và thực hiện quy hoạch phát triển nông thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với kinh tế thị trường; Áp dụng mô hình kinh doanh đa dạng và tổ chức quản lý phù hợp; Khơi dậy nguồn lực phát triểnmới thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân để tạo động lực thúc đẩy nông thôn đi lên

Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung[7], Phạm Tất Thắng[65] đã khẳng định, qua 3 năm thực hiện, Chương trình XD NTM của Việt Nam vẫn chưa đạt được như kết quả trông đợi Trên cơ sở đánh giá thực trạng triển khai chương trình NTM, bài viết đã chỉ ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm hoàn thiện chương trình NTM ở nước ta Sự chưa phù hợp trong bộ tiêu chí đánh giá, cách tiếp cận “dội ở trên xuống”, sự thiên lệch trong lựa chọn các xã điểm; chất lượng quy hoạch NTM thấp, chưa phát huy thật tốt sự tham gia của dân, chưa chú trọng đầu tư vào phát triển kinh tế, nhân lực và thể chế, thiếu sự phối kết hợp giữa các cấp và các ngành, trình độ và năng lực quản lý của cán bộ cơ sở còn hạn chế là những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả các chương trình phát triển nông thôn thấp Thực hiện cách tiếp cận có sự tham gia, lấy dân là trung tâm cho sự phát triển,

Trang 15

bổ sung và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá, ban hành các chính sách hướng dẫn, triển khai XD NTM phù hợp với từng vùng miền, tập trung nhiều hơn vào mục tiêu kinh tế, coi trọng vấn đề xã hội, thực hiện phối kết hợp giữa các cấp và các ngành, lồng ghép hữu cơ các chương trình dự án, phát triển nguồn nhân lực địa phương được các tác giả cho là những giải pháp quan trọng góp phần triển khai thắng lợi chương trình và đảm bảo cho nông thôn phát triển bền vững.

Trong tác phẩm: “Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay-nhữngtrăn trở và suy ngẫm” [33], tác giả Vũ Trọng Khải đã khẳng định: Sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững hay XD NTM là một tiến trình dài lâu, không phải một danh hiệu thi đua Quá trình ấy chỉ kết thúc khi không có sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn về đời sống vật chất và văn hóa

Các tác giả Nguyễn Tuấn Anh[1], Nguyễn Văn Hùng (2015)[30], Trần Hồng Quảng (2015) [51], Nguyễn Cao Chương (2012)[8], Nguyễn Trọng Thừa[69], Đoàn Tranh (2012) [80], đã hệ thống hóa cơ sở khoa học về phát triển nông

nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cấp tỉnh Trên cơ sởđánh giá thực trạng và nhận diện những vấn đề đang đặt ra đối với phát triển nông thôn ở một số địa phương, đã đề xuất một số giải pháp nhằm XD nông thôn đến năm 2020 gồm: (1) XD quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn trong XD NTM; (2) Phát triển kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng hiện đại; (3) Huy động các nguồn vốn và đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; (4) XD, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; (5) Đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế nông thôn; (6) Tổ chức thực hiện hiệu quả hệ thống các chính sách; (7) Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; (8) Tăng cường năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước và các tổ chức đoàn thể

1.1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM:

Các tác giả Bernard, Connie, Lawrence, Andrés (2006)[84], Raduvoicu, Iulya, Mariana (2011)[91] nghiên cứu đầu tư cho phát triển nông nghiệp bền vững

ở Trung Mỹ, Đông Âu, đưa ra kết luận, đầu tư cho phát triển nông nghiệp đã đóng góp vào gia tăng thu nhập cho người sản xuất, góp phần quan trọng đối phó với khủng hoảng trong công nghiệp, vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp tác động đến phát triển công nghệ, kỹ thuật cho nông nghiệp, nâng cao đời sống những ngườisản xuất kinh doanh nông nghiệp

Trang 16

Các tác giả đã chứng minh rằng, thiếu vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

là nguyên nhân dẫn đến giảm sút trong sản xuất, dịch vụ nông nghiệp và cần một quá trình dài cung cấp vốn đầu tư cho phát triển cho kỹ thuật, đào tạo nhằm nâng cao năng suất, chất lượng trong phát triển nông nghiệp Do đó, cần mở rộng đầu tư

tư nhân về phương tiện kỹ thuật, nhằm phát triển cung ứng dịch vụ khoa học công nghệ trong hoạt động nông nghiệp

Gupta trong một nghiên cứu nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

Ấn Độ [87] kết luận, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng nông nghiệp rất lớn(tỷ trọng khoảng 30%-40% vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp) vượt xa khả năng nền kinh tế của các nước đang phát triển, việc đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đầu tư cho phát triển nông nghiệp của tư nhân và hợp tác công tư đang chứng minh được hiệu quả và tăng nhanh từ năm 2008 đến nay

Các tác giả Valin, Halisk, Mosnier, Herreror, Schmid, và Obersteiner (2013)[93], nghiên cứu năng suất nông nghiệp và khí thải, đưa ra kết luận, đầu tư cho phát triển nhằm nâng cao năng suất nông nghiệp là nguồn tiềm năng làm giảm nhẹ những tác hại của ô nhiễm môi trường đến cây trồng, vật nuôi và sử dụng đất, thay đổi khí thải và tác động cung cấp, đảm bảo an ninh lương thực Kết quả các chỉ tiêu như số việc làm tạo mới do sử dụng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, số lao động được đào tạo, sản lượng, giá trị các sản phẩm thiết yếu cho xã hội, tỷ lệ che phủ rừng, diện tích rừng trồng mới,…đã được nghiên cứu và thể hiện trong các báo cáo của các tổ chức quốc tế như UN, WB, IMF, FAO

Nguyễn Ngọc Luân (2011), trong đề tài“Nghiên cứu kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng trong XD NTM nhằm đề xuất cơ chế chính sách áp dụng cho

XD NTM” [36] đã đưa ra một số kết luận: Kinh nghiệm ở các xã thí điểm cho thấy để huy động tốt các nguồn lực từ cộng đồng, ở mỗi xã khi XD NTM cần thực hiện tốt các công việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch; thực hiện tốt vai trò cán bộ, đoàn thể, người lãnh đạo; nâng cao năng lực cán bộ cơ sở; lựa chọn ưu tiên trong XD NTM; huy động sự tham gia của dân dựa theo đặc điểm văn hoá, tín ngưỡng Khi XD kế hoạch XD NTM, cần xác định rõ khả năng của cộng đồng, các nguồn lực của cộng đồng, mức độ nhận thức, đặc điểm văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng Đây chính là mộtnội dung quan tâm khi tiến hành đánh giá thực trạng xã hội Về các nội dung XD NTM, kết quả nghiên cứu thể hiện rõ nét nhất sự tham gia của cộng đồng cho XD

Trang 17

CSHT Về cơ chế chính sách, mặc dù đã có nhiều văn bản quy định về sự tham giacủa người dân nhưng chưa đầy đủ và chưa cụ thể Ngay cả trong chương trình MTQG XD NTM, Thông tư liên tịch số 26 cũng chỉ nêu ra một số hoạt động cần lấy ý kiến của người dân, chưa nêu rõ quy trình thực hiện Cơ chế huy động vốn cũng chưa được ban hành Các nội dung huy động tiền, tài sản, lao động cũng do từng địa phương tự thực hiện.

Chu Tiến Quang (2005), trong cuốn sách “Huy động và sử dụng các nguồn lựctrong phát triển kinh tế nông thôn, thực trạng và giải pháp”[50], đã luận giải nội dung huy động và sử dụng các nguồn lực: đất nông nghiệp, lao động nông thôn, vốncho phát triển nông thôn; đưa ra nhóm các giải pháp nhằm phân bổ và sử dụng các nguồn lực trên một cách có hiệu quả Xét về mặt lý luận, điều cần nhấn mạnh ở cuốn sách này đó là đã đưa ra những phương thức huy động chủ yếu và một số kinh nghiệm sử dụng các nguồn lực hiệu quả, trong đó, nguồn lực đất đai, nguồn nhân lực và nguồn vốn là ba nguồn lực quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta

Nguyễn Hoàng Hà (2014), trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy động vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM giai đoạn đến năm 2020”[22] đã cho rằng những nguyên nhân chính làm hạnchế kết quả huy động vốn của Chương trình giai đoạn 2011- 2013 là khả năng của ngân sách trung ương; tư tưởng trông chờ vào nguồn đầu tư từ trung ương của các địa phương; khả năng hạn chế của ngân sách địa phương Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp cụ thể hoàn thiện chính sách huy động vốn đối với các nguồn trong thời gian tới

Đoàn Thị Hân (2013),trong bài “Giải pháp huy động NLTC cho thực hiện chương trình XD NTM, trường hợp nghiên cứu điểm tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”[24] cho rằng các xã có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội thì việc huy động sự đóng góp của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn đạt kết quả khá tốt; ngược lại, ở những xã nghèo thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho XD NTM là hết sức khó khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình XD NTM chủ yếu phải trông chờ vào nguồn đầu tư từ ngân sách

Nguyễn Mậu Thái (2015) trong luận án: “Nghiên cứu XD NTM các huyện phía Tây thành phố Hà Nội”[63], cho rằng ngoài sự hỗ trợ của NSNN, nguồn lực

để XDNTM tại các xã trong vùng chủ yếu trông chờ vào nguồn lực đất đai, dựa vào các dự án đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Vũ Nhữ Thăng (2015) trong đề tài: “Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy

Trang 18

động và quản lý các NLTC phục vụ XD NTM“[66], cho rằng cơ chế, chính sách cóảnh hưởng rất lớn đến kết quả huy động và quản lý các NLTC phục vụ XD NTM của cả nước Tác giả cho rằng vấn đề mẫu chốt để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho XD NTM thì cần hoàn thiện các chính sách chính sách

về huy động quản lý và sử dụng các NLTC

Lê Sỹ Thọ (2016) trong luận án: “Huy động và sử dụng vốn đầu tư XD cơ sở

hạ tầng NTM trên địa bàn thành phố Hà Nội”[67], đã làm rõ cơ sở khoa học về huyđộng và sử dụng vốn đầu tư XD cơ sở hạ tầng NTM Đồng thời, đánh giá đúng thựctrạng những vấn đề đang đặt ra trong huy động và sử dụng vốn đầu tư XD cơ sở hạ tầng NTM trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư XD cơ sở hạ tầng NTM, góp phần thực hiện thành công chương trình

XD NTM trên địa bàn Hà Nội Nhưng luận án chỉ đề cập đến việc huy động và sử dụng vốn đầu tư cho riêng nội dung về XD cơ sở hạ tầng trong quá trình thực hiện chương trình XD NTM

Các tác giả Đoàn Phạm Hà Trang [79], Nguyễn Quốc Thái [64] Trương Duy Hoàng[27] Trần Ngọc Minh (2012)[37] Lê Minh Đức (2014) [15] Lâm Chí Dũng[16] Ngô Việt Hương (2015)[32] Bùi Mạnh Cường (2012)[10] đã nêu hiện trạng

và nhu cầu vốn XD NTM ở Việt Nam; Để thực hiện tốt chương trình, nguồn vốn sẽ được huy động bằng nhiều cách như: Nhà nước, nhân dân đóng góp, các nguồn tài trợ, sự hỗ trợ vốn từ các ngân hàng với phương châm vẫn phải phát huy nội lực là chính Chính phủ cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ để thu hút các DN trong

và ngoài nước vào đầu tư ở khu vực nông nghiệp, nông thôn để có thêm nguồn lực trực tiếp giải quyết các khâu chế biến, giải quyết việc làm cho nông dân trong quá trình XD NTM

Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề huy động NLTC cho phát triển kinh tế nông thôn như của tác giả Võ Hoàng Khiêm (2005); Nguyễn Văn Phận (2008), Trương Hoàng Lương (2010) Hà Thị Thu (2014) [68] …, đã nghiên cứu xác định thực trạng huy động NLTC cho đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương nêu trên, dự báo nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn và các giải pháp huy động NLTC cho đầu tư phát triển kinh

tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các giải pháp này chú trọng vào các nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn từ tín dụng, các nguồn vốn xã hội hóa từ DN và cộng đồng dân cư chưa được quan tâm nhiều

Kết quả các nghiên cứu liên quan hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông

Trang 19

nghiệp của một số tác giả: Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương[44],

NguyễnVăn Huân [28], Nguyễn Công nghiệp, Phạm Thị Khanh, Nguyễn Văn Hùng, Phạm Thị Khanh [34], Bùi Mạnh Cường [10], Trần Viết Nguyên (2015)[43], đề xuất hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước về mặt xã hội là: nâng cao mức sống người dân, tạo việc làm, giảm đói nghèo, bình ổn giá cả kiềm chế lạm phát, tăng năng suất lao động, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội Về mặt môi trường: hạn chế mức độ gia tăng

ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái Về phát triển bền vững: đóng góp vào phát triển bền vững hệ thốngkinh tế, đảm bảo duy trì sự tăng trưởng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và mức độ nợ công, quản lý bền vững tài nguyên, bền vững đa dạng sinh học, đóng góp vào khoa học công nghệ

1.1.3.Những vấn đề đã được đề cập trong các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.1.3.1 Những vấn đề đã được đề cập trong các công trình đã công bố

Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã xem xét nền nông nghiệp củacác nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền vớithương mại nông sản trên thế giới, thành công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân; vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và Việt Nam; về quá trình XD NTM

ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… những vấn đề lý luận còn tranh cãi Những công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sáchphát triển nông thôn nước ta hiện nay như: tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông dân, các hình thức sở hữu đất đai, những

mô hình tiến hóa nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa Đồng thời, các giải pháp được các tác giả chỉ ra như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền; đổi mới và hoàn thiện chính sách chính sách, đổi mới chính sách kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện một cách đồng bộ, nghiêm túc, quyết liệt những chính sách và chương trình kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn để phát triển sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn

Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã nêu khái quát đặc điểm, tình hình, quá trình thực hiện đường lối về nông dân, nông nghiệp, nông thôn của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ khác nhau Các kết quả nghiên cứu thể hiện sự nhận định, đánh giá sắc đáng nhất là về những hạn chế, yếu kém trong quá trình

Trang 20

thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, qua đó gợi mở phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nôngthôn nước ta hiện nay.

Với cách nhìn khái quát, các công trình đã phản ánh khá đầy đủ, toàn diện, có thống kê số liệu qua các thời kỳ lịch sử XD, phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan

hệ sản xuất, chính sách quản lý Đặc biệt đã nêu lên được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng Đó là cơ

sở lý luận để khẳng định vị trí, vai trò của nông thôn trong phát triển KT - XH của đất nước, đặt ra yêu cầu XD NTM

Các công trình đã phân tích tình hình sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân

và một số đặc điểm về KT - XH nông thôn Việt Nam trong thời gian gần đây phần nào cho thấy được những thuận lợi, khó khăn và xu thế phát triển hiện nay Đây là những gợi ý ban đầu để luận án tiếp cận đến bức tranh tổng thể về nông thôn Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Một số công trình đã tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý, chính sách đất đai đã cung cấp những luận điểm có giá trị cho tác giả nhằm xác định phương hướng và những vấn đề ở nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Nhiều công trình đã rút ra bài học cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam - một trong những yếu tố nhận diện NTM Bài học cho thấy, trong suốt quá trình CNH, phải gắn kết chặt chẽ phát triển công nghiệp, đô thị với nông nghiệp, nông thôn Công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp, nông thôn, lấy thị trường nông thôn nuôi công nghiệp phát triển, thu hẹp khoảng cách thu nhập nông thôn và đô thị

Một số công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề NTM tuy không nhiều nhưng

đã đề cập đến một số khía cạnh cơ bản như: khái niệm, đặc trưng của NTM, kinh nghiệm XD NTM ở một số nước châu Á, kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai XDNTM ở một số tỉnh trong thời gian gần đây về các mặt: thành công, hạn chế, những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các tiêu chí XD NTM tại từng địa phương Đây là những tài liệu tham khảo hữu ích khi phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn về XD NTM

Trang 21

1.1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Mặc dù đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hay vấn đề NTM sau khi Nghị quyết số 26-NQ/TƯ được ban hành, nhưng trên thực tế các kết quả nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn, trong khi đó từ lý luận đến thực tiễn triển khai XD NTM đang đặt ra nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ Trong giới hạn, phạm vi nghiên cứu, luận án cần tiếp tục làm rõ những vấn đề đặt ra như sau:

Thứ nhất, cơ sở lý luận về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa phương cấp tỉnh

Thứ hai, thực tiễn vấn đề huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, những kết quả đạt được, những vấn đề tồn tại, phát sinh và

nguyên nhân của những tồn tại đó Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn đến năm 2016-2020 tầm nhìn đến năm 2030

Tóm lại, các công trình nghiên cứu khoa học đã nêu đều thể hiện sự công phu

và tính hệ thống dưới nhiều góc độ khác nhau về các nội dung liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu của NCS như: phát triển kinh tế nông nghiệp, NLTC cho phát triển nông thôn, XD NTM Các nghiên cứu này, đã gợi mở nhiều vấn đề cho NCS XD cơ sở lý luận, vận dụng lý luận vào nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này có đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũngnhư cách thức tiếp cận đề xuất các giải pháp hoàn toàn khác với đề tài mà NCS đã lựa chọn Các nghiên cứu này chủ yếu đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp, nông thôn, mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đánh giá kết quả thực hiện và các chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn Tính đến thời điểm thực hiện luận án, NCS chưa thấy có một công trình khoa học nào đề cập một cách có hệ thống việc huy động và sử dụngcác NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh Đề tài nghiên cứu của NCS không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học, luận văn, luận án nào đã được bảo vệ và công bốtrước đó Các công trình nghiên cứu và các tài liệu có liên quan đến đề tài được NCS kế thừa, chọn lọc như là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện luận án

Trang 22

1.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

1.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa, xử lý, phântích, đánh giá tất cả các số liệu có sẵn theo định hướng nghiên cứu Tìm hiểu các lý thuyết, lý luận liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và XD NTM nói chung

và vấn đề huy động, sử dụng NLTC cho XD NTM nói riêng; Rà soát các văn bản chínhsách liên quan đến XD NTM; Sử dụng niên giám thống kê hàng năm của cả nước và của tỉnh Hà Tĩnh, những số liệu điều tra về nông nghiệp, nông thôn của Tổng cục Thống kê, Cục thống kê Hà Tĩnh liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát và điều tra thực địa: Căn cứ vào tình hình XD NTM ở

Hà Tĩnh, nghiên cứu sinh nhận thấy có thể chia ra làm 4 nhóm xã: xã điểm của tỉnh, xã điểm của huyện, xã thường và các xã khó khăn Do đó phương pháp khảo sát và tập trung vào điều tra được tiến hành với quy mô và hình thức của bốn nghiên cứu tình huống tại 4 xã: Thạch Châu (huyện Lộc Hà); Trường Sơn(huyện Đức Thọ), Hương Vĩnh (huyện Hương Khê), Cẩm Hòa (Cẩm Xuyên)

Để thu thập thông tin về XD NTM ở cấp xã và sự tham gia của cư dân nông thôn vào XD NTM, đề tài áp dụng phương pháp định tính để thu thập thông tin là chủ yếu, và phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu phi xác xuất, cụ thể

là phương pháp chọn mẫu định mức không tỷ lệ kết hợp với chọn mẫu theo kinh nghiệm Nguyên tắc chọn mẫu là chọn được những nhóm người đại diện hoặc cá nhân đại diện cho các tầng lớp xã hội hoặc các nhóm nghề nghiệp khác nhau trong vùng nông thôn.Ở mỗi xã mục tiêu, chọn 5 nhóm cho phỏng vấn nhóm, bao gồm đại diện của chính quyền, các đoàn thể - tổ chức dân sự xã hội; DN trên địa bàn; nông dân và cư dân phi nông nghiệp Mẫu điều tra tại mỗi xã gồm đại diện Ban chỉ đạo XD NTM xã, Ban giám sát cộng đồng, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên và 50 hộ,

10 cán bộ, 5 DN Các nhóm được tổ chức phỏng vấn chủ yếu tại thôn 20 cán bộ công tác liên quan đến lĩnh vực huy động, sử dụng các NLTC cho xây dựng NTM

từ cấp huyện đến cấp tỉnh và 40 DN điển hình trong tỉnh hoạt động ở lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn

- Phương pháp đánh giá có sự tham gia: Thu thập ý kiến đánh giá của nông dân về sự thành công và thất bại của các chính sách, những nguyên nhân dẫn đến

sự thất bại của các chính sách; những chính sách nào là quan trọng đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Trang 23

Bảng hỏi được thiết kế kết hợp cả định lượng và định tính để vừa đi sâu, tìm

ra được những vấn đề mới, vừa tính được tần suất lặp lại của một số vấn đề trong huy động, sử dụng NLTC cho XD NTM Những tính toán thống kê từ điều tra đượckiểm chứng thông qua phỏng vấn sâu, quan sát của NCS cũng như nhận xét của cáccán bộ Sở, Ban, Ngành, Chính quyền địa phương Nội dung phỏng vấn chính bao gồm hai nhóm chính: (i) nhóm các chỉ tiêu đánh giá việc huy động NLTC và (ii) nhóm chỉ tiêu đánh giá hoạt động sử dụng NLTC cho XD NTM

- Phương pháp phỏng vấn, chuyên gia: Nhằm hoàn thiện các luận cứ của luận án, nghiên cứu sinh đã phỏng vấn và thảo luận nhóm với nhiều sở và cơ quan ban ngành như Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Lao động, Cục Thuế, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách và Xã hội và Chính quyền các xã, Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh đã tiếp thu ý kiến của các Thầy/Cô trong Trường, các nhà khoa học của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam về các vấn đề liên quan đến luận án

1.2.2 Phương pháp xử lý thông tin

Tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước

Từ các dữ liệu thu thập được theo mục tiêu đã xác định, NCS đã tập hợp và sàng lọc những dữ liệu thứ cấp để hình thành nên cơ sở lý luận và kinh nghiệm về huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở một số địa phương trong nước và ngoài nước; là tư liệu quan trọng để phân tích những nội dung về thực trạng huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh Bên cạnh đó dữ liệu thứ cấp còn được sử dụng để làm rõ mục tiêu, và các giải pháp, dự báo, cơ hội thách thức, thuận lợi khó khăn trong XD NTM ở Hà Tĩnh

Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp

Các số liệu trên phiếu điều tra được thu thập, tổng hợp, phân tổ và được nhập vào máy tính, tạo thành cơ sở dữ liệu Sau đó dùng các phần mềm Excel, Eviews để tính toán, tổng hợp đưa ra các bảng biểu, các chỉ tiêu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và nội dung luận án

Thống kê mô tả

Sử dụng để xử lý, tính toán các trị số thể hiện đặc tính của các hiện tượng, mô

tả mức độ, sự biến động của các chỉ số thống kê phục vụ cho việc làm rõ thực trạng huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM, phục vụ cho nội dung nghiên

cứu.Dựa trên các thông tin số liệu mới nhất mà đề tài có thể thu thập được từ các cơquan thống kê, các cuộc điều tra của Ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Trang 24

của Văn phòng điều phối CTMTQG XD NTM và các cơ quan khác tiến hành, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích tình hình XD NTM cũng như thực trạng và xu hướng huy động, sử dụng các NLTC cho XD NTM

Thống kê so sánh:

Sử dụng để so sánh các chỉ tiêu KT-XH theo thứ tự thời gian và không gian

để làm rõ các khía cạnh có liên quan đến nội dung luận án

Phân tích định tính

Phương pháp phân tích định tính dùng để khám phá, điều chỉnh và bổ sung cácbiến quan sát đại diện cho các thành phần của các chính sách Nghiên cứu định tính được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu nhằm tổng hợp phân tích các chính sách có liên quan đến huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh

Phân tích định lượng:

Phương pháp phân tích định lượng bổ sung cho phân tích định tính bằng việc

sử dụng các mô hình, các mô hình được khái quát trên cơ sở các hàm toán học với các biến độc lập và các biến phụ thuộc khác nhau Dữ liệu dùng để phân tích định lượng là bộ số liệu điều tra khảo sát nghiên cứu sinh XD Để đánh giá hoạt động huy động và sử dụng NLTC cho XD NTM ở tỉnh Hà Tĩnh, luận án sử dụng phương pháp phân tích các nhân tố khám phá (Exporatory Factor Analysis - EFA) và phân tích hồi quy

Dựa vào cơ sở lý luận về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM, luận

án XD mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở Hà Tĩnh, bao gồm các yếu tố về chính trị, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên; trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân và sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, DN Việc XD mô hình nghiên cứunhằm kiểm chứng tác động của các yếu tố ảnh hưởng trên đến việc huy động và sử dụngcác NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh Trong đó, các NLTC cho XD NTM tại tỉnh

Hà Tĩnh là biến phụ thuộc, các yếu tố ảnh hưởng đến huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM là các biến độc lập

Trang 25

Nguồn: Tác giả tổng hợp và XD

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến huy động

và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà

Các mối tương quan được mô tả và kiểm chứng trong mô hình là:

- Mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về nhà nước tới việc huy động và sử dụngcác NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

- Mối quan hệ giữa các yếu tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội đến việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

- Mối quan hệ giữa các yếu tố về thuộc về người dân đến việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

- Mối quan hệ giữa các yếu tố về sự phối hợp của các đoàn thể, các DN đến việc huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh

Các yếu tố thuộc về Nhà nước

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế-xã hội

Các yếu tố về người dân

Các yếu tố về sự phối hợpcủa

các đoàn thể, doanh nghiệp

- Sự tham gia của các đoàn thể

- Sự tham gia của doanh nghiệp

Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho XD NTM

Trang 26

Nghiên cứu định tính nhằm kiểm tra và sàng lọc các biến trong mô hình nghiên cứu ban đầu Nghiên cứu định lượng có thể kiểm chứng tính quy luật của các quan sát trong nghiên cứu, giúp kiểm chứng các mối tương quan nêu trên.

NCS XD bảng hỏi trên cơ sở sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ sau: (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) bình thường, (4) đồng ý,(5) hoàn toàn đồng ý để phản ánh ý kiến đánh giá của người dân, DN và người thực thi chínhsách đối với công tác huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại Hà Tĩnh

Mô hình được kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbanch Alpha[81] Để tiến hành phân tích hồi quy một cách tốt nhất, kích thước mẫu phải bảo đảm: (với n là cỡ mẫu, m là số biến độc lập trong mô hinh) Cỡ mẫu 320 là đạt yêu cầu

Luận án sử dụng mô hình phân tích các nhân tố khám phá, kiểm định các yếu

tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố được cho là phù hợp thông qua mô hình phân tích nhân tố sau:

Xi=Ai1F1 + Ai2F2+Ai3F3+Ai4F4+…+AimFm+VuUiTrong đó:

Xi: biến thứ i chuẩn hóa

Aij: Hệ số hồi quy bội chuẩn hóa của yếu tố j đối với biến i

F: Các yếu tố chung

Vi: Hệ số hồi quy chuẩn hóa của nhân tố j đối với biến i

Ui: Yếu tố đặc trưng của biến i-biến quan sát

Thông qua việc nhận diện và đưa ra một số yếu tố có ảnh hưởng đến huy động

và sử dụng các NLTC cho XD NTM tại tỉnh Hà Tĩnh, tác giả XD mô hình hồi quy bội như sau:

A: Các yếu tố thuộc về nhà nước

B: Các yếu tố về điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội

C: Các yếu tố thuộc về người dân

D: Sự tham gia của các đoàn thể và DN

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận án đã làm rõ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quanđến xây dựng NTM nói chung, huy động và sử dụng các NLTC cho xây dựng NTM nói riêng.Các nghiên cứu này, đã gợi mở nhiều vấn đề cho NCS xây dựng cơ sở lý

Trang 27

luận, vận dụng lý luận vào nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại

Hà Tĩnh

Dựa vào tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận về huy động và sử dụng các NLTC cho xây dựng NTM, luận án đã đề xuất phương pháp nghiên cứu gồm phân tích định tính và phân tích định lượng Trong phân tích định lượng, đã xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động, sử dụng các NLTC cho xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, bao gồm các biến độc lập là các yếu tố thuộc về nhà nước, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các yếu tố thuộc về người dân, sự tham gia của các đoàn thể, các DN trong xây dựng NTM và biến phụ thuộc là các NLTC huy động và sử dụng cho xây dựng nôngthôn mới

Trang 28

CHƯƠNG 2 :

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG

CÁC NLTC CHO XD NTM Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH

2.1 Một số vấn đề chung về XD NTM

2.1.1 Nông thôn và NTM

2.1.1.1 Nông thôn và vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội

a2.1.1 1 Nông thôn

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành gồm trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản[9]

Theo tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có hai phương pháp chính định nghĩa nông thôn Thứ nhất, là sử dụng định nghĩa địa chính trị: thành thị được xác định là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và tất cả các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được để xác định vùng thành thị Trong một vùng có các hộ gia đình sống gần nhau tạo nên cộng đồng lớn hơn một

số nhất định nào đó, ví dụ như 2000 người, thì được coi là thành thị, khu vực còn lại được coi là nông thôn Việt Nam hiện nay đang theo phương pháp thứ nhất để phân định thành thị, nông thôn Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành

Trang 29

Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức

xã hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa)[88] Như vậy, nông thôn theo quan niệm này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh

tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị.

Tại các nước đang phát triển, nông thôn thường có các đặc điểm cơ bản

Thứ ba, về tính chất xã hội, dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình của họ, mật độ dân cư thấp hơn thành thị, tính cộng đồng cao, có nhiều yếu tố tập quán riêng biệt

Thứ tư, về môi trường tự nhiên, nông thôn lưu giữ và bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên, làm cho con người gần gũi với thiên nhiên

Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội vàmôi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị

2.1.1.2.b Vai trò của khu vực nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội

Trước hết, nông thôn là một vùng không gian cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp Ở bất kỳ thời đại nào, không ai phủ nhận vai trò của nông nghiệp Vai trò trước tiên và quan trọng nhất của nông nghiệp trong nền kinh tế là cung cấp lương thực, thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần ổn định chính trị, đảm bảo an toàn cho sự phát triển kinh tế-xã hội Hai là, nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản Ba là, nông nghiệp phát triển giúp giảm nghèo nhanh và bền vững, bởi phần lớn lao động tập trung ở nông thôn hay nông nghiệp phục vụ phần lớn cho người lao động Bốn là nông nghiệp là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho công nghiệp Năm là, nông nghiệp tạo thị trường nội địa cho hàng hóa công nghiệp [88]

Thứ hai, nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa

Trang 30

dân tộc Quốc gia nào cũng vậy, các tộc người được sinh ra bắt đầu từ nông thôn, bản sắc văn hóa làng quê vì thế đồng nghĩa với bản sắc văn hóa từng dân tộc Giữ gìn bản sắc văn hóa làng quê là giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc[48].

Thứ ba, nông thôn góp phần bảo vệ sinh thái, môi trường Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái[78] Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, vườn cây, ao cá…,phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất làm cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên

2.1.1.2 NTM và những yêu cầu đặt ra đối với XD NTM

a2.1.2.1 N TMông thôn mới

XD NTM hay phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đa dạng, có sự tham gia của cá nhân, nhóm, tổ chức, đảm bảo sự phát triển cho cộng đồng nông thôn.

Đầu tiên, khái niệm phát triển nông thôn gắn liền với khái niệm phát triển nôngnghiệp, tức là chiến lược nhằm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên để tăng sản lượng

và khả năng tiếp thị Trong đó yếu tố chính sách và xã hội được coi là môi trường không đổi Chiến lược này đạt tới sự thoả mãn và lạc quan cao sau cuộc cách mạng Xanh, giải quyết căn bản vấn đề an ninh lương thực ở nhiều quốc gia Phương pháp phát triển nông thôn trong thập kỷ 1960 đồng nghĩa với hiện đại hoá sản xuất và đời sống cho cư dân nông thôn Sang thập kỷ 1970, các phương pháp phát triển nông thôn dựa vào sự can thiệp và chỉ đạo của chính phủ Thập kỷ 1980 là làn sóng tự do hoá thương mại thị trường của Đồng thuận Washington với các giải pháp của chính sách thị trường Sau đó Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc đưa ra “chiến lược phát triển NTM”, chiến lược nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của dân nghèo nông thôn, phát triển nông thôn là việc cải thiện mức sống của một số đông người có mức thu nhập thấp đang sinh sống ở vùng nông thôn nhằm tạo nên tiến trình phát triển nông thôn một cách tự giác và ổn định Nội dung của hoạt động phát triển nông thôn trở thành chương trình phát triển tổng hợp[4] nhắm vào các hoạt động xóa đói giảm nghèo, vào giảm chênh lệch thu nhập

và việc làm, tăng khả năng tiếp cận hàng hoá và dịch vụ, khác với các chương trình phát triển nông nghiệp và các biện pháp can thiệp của chính phủ để phát triển kinh

Trang 31

tế Phát triển nông thôn vì vậy, bao gồm cả sự biến đổi trong xã hội nông thôn trong

đó có các hoạt động của chính phủ Từ sản xuất nông nghiệp hoạt động phát triển nông thôn tiến sang cả giáo dục, y tế, và dịch vụ xã hội Thập kỷ 1990 đánh dấu bằng sự đề cao các phương pháp huy động nông dân tham gia và tăng cường năng lực cho người dân địa phương Sự thay đổi của hệ thống nông nghiệp bao gồm cả khía cạnh kỹ thuật, môi trường, kinh tế, xã hội Môi trường tự nhiên đóng vai trò khátrực tiếp với hệ thống nông nghiệp so với hệ thống công nghiệp Vấn đề dân số đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống này Mối quan hệ tác động của toàn nền kinh tế,giữa nông nghiệp và thị trường, kể cả thị trường quốc tế là hết sức quan trọng Yếu

tố văn hoá, tinh thần đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống XD NTM hay phát triển nông thôn bao hàm các nội dung:

- Sự phát triển tổng hợp của vùng

- Sự phát triển cuộc sống của cư dân nông thôn

- Tăng sản lượng và thu nhập theo đầu người

- Tăng việc làm, thu hẹp chênh lệch thu nhập giữa thành thị với nông thôn

- Tạo ra tự chủ và tự lực đổi mới kinh tế xã hội nông thôn

- Đô thị hoá nông thôn, thị dân hoá nông dân

- XD nông thôn, nông nghiệp đa chức năng

- Công nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Một vấn đề khác là động lực để phát triển nông thôn, hay nói cách khác, ai là người tổ chức chỉ đạo quá trình phát triển nông thôn? Nhiều tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội và thể chế của vấn đề này Yếu tố cơ bản của phát triển nông thôn lànâng cao mức sống người nghèo bằng cách khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên

tự nhiên và con người của họ … và là sự tham gia tích cực của họ để XD nên các định chế tổ chức và hoạt động của các bộ máy này, sự thay đổi thực chất phải bắt nguồn từ trong thôn xã, từ những người sống tại nông thôn Đây là quá trình tự phát triển và tự lập Tác động bên ngoài chỉ nhằm hướng dẫn, giúp đỡ, tạo nên tia lửa khởi động ban đầu Sự thành bại là tùy thuộc ở khả năng vươn lên, lòng tự tin và khảnăng hợp tác lẫn nhau của nông dân[94]

Ở Việt Nam, nhìn trên giác độ chính sách, cho đến năm 2007, vẫn chưa có chính sách cụ thể đối với nông thôn Chính sách phát triển nông thôn nằm trong khuôn khổ chính sách nông nghiệp Khái niệm “phát triển nông thôn” xuất hiện trong lĩnh vực chính sách của Việt Nam sau năm 2007, khi vấn đề công bằng nổi lên

là một vấn đề then chốt trong nước[83] Nghị quyết số 26 năm 2008 - Nghị quyết

“Tam Nông” của Đảng đã XD phương pháp tiếp cận ba trụ cột, kết hợp nông thôn, nông nghiệp và nông dân Nghị quyết này thể hiện chủ trương của Đảng về sự phát

Trang 32

triển nông thôn theo định hướng người dân, đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao thunhập của nông dân Để thực hiện Nghị Quyết này, Chính Phủ đã quyết định thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia XD NTM, được đánh giá là một chiến lược phát triển nông thôn toàn diện, vượt xa các mục tiêu nông nghiệp cổ điển Chương trình này dựa trên: (i) huy động và sự tham gia của người dân địa phương (ii)thực tế nông nghiệp không còn là hoạt động duy nhất ở nông thôn và (iii)một tầm nhìn bền vững về phát triển, bao gồm cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường[4],.

XD NTM không phải chỉ dựa vào hỗ trợ, trợ cấp, mà là một chương trình phát triển nông thôn bền vững, đó là: (i) xem xét phát triển nông thôn thông qua phương pháp tiếp cận đa ngành để đa dạng hóa nguồn thu nhập và tăng thu nhập nông thôn nói chung; (ii) huy động dân cư nông thôn trong việc XD cơ sở hạ tầng (trường học, trung tâm y tế, vệ sinh, đường xá, thủy lợi ) thông qua sự tham gia hiệu quả vào quá trình ra quyết định; (iii) thực hiện tiếp cận đa chiều để giảm nghèo Cách tiếp cận mới hỗ trợ tái cấu trúc nền kinh tế với tầm nhìn chiến lược và kế hoạch ở cấp xã

và thôn và hỗ trợ các sáng kiến địa phương thông qua các khoản đầu tư công

Dưới giác độ tổng quan, NTM ở nước ta hiện nay, bao gồm năm nội dung cơ bản: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, có hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn ngày càng được nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; Thứ năm, xã hội nông thôn có an ninh tốt, được quản lý dân chủ[78] Năm nội dung này được cụ thể hóa bằng 19 tiêu chí NTM[2]

Chương trình mục tiêu quốc gia về XD NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng được triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc[83]

2.1.2.2.b Những yêu cầu đặt ra đối với XD NTM

- Đảm bảo phát triển nông thôn bền vững XD NTM bao gồm tất cả các vấn đềgắn với đời sống của người dân và môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà cửa, dịch vụ công cộng và cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn phát huy giá trị di sản cũng như các vấn đề kinh tế địa

phương…) XD NTM vừa góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển theo hướng bền vững, hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, phát triển, môi trường được gìn giữ và tái tạo Là một quá trình ổn định và bền vững với những thay đổi kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường hướng tới hiện đại và sự thịnh vượng lâu dài của cả cộng đồng[78]

Trang 33

- Gắn với các quy hoạch, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và chính sách đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế,

kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành) XD NTM phải hướng tới mục tiêu pháttriển KT - XH của địa phương và là nội dung trọng yếu của chiến lược phát triển

KT - XH của địa phương[7]

- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các chính sách, chính sách hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có chính sách, chính sách khuyến khích mạnh mẽđầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư Như vậy, XD NTM chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân

và sự ổn định xã hội Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời, ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo

2.2 Huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa phương cấp tỉnh

2.2.1 Quan niệm về NLTC và vai trò của các NLTC cho XD NTM

2.2.1.1 Quan niệm về NLTC

Tài chính mặc dù được diễn đạt theo các cách khác nhau, song về cơ bản các quan niệm đều có chung một vấn đề - đó là liên quan đến việc ra quyết định và mục đích cuối của mỗi chủ thể gắn liền với các quỹ tiền tệ nhất định trong xã hội Vấn đề

cơ bản và cốt lõi nhất về bản chất của tài chính đều được thể hiện qua các hoạt độngtài chính cụ thể - đó chính là sự phân bổ các NLTC[19]

Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau về NLTC (financial resources) Có quan điểm cho rằng: “NLTC là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế xã hội trong phân phối tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền của các chủ thể trong quá trình tái sản xuất”[62]

Cũng có quan điểm cho rằng: “NLTC là khả năng tài chính mà các chủ thể

Trang 34

kinh tế có thể khai thác, sử dụng dựa trên các quan hệ tài chính, nhằm thực hiện các mục đích nhất định”[29].

Phạm trù NLTC hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ của cải vật chất do lao động của con người sáng tạo ra được tích lũy lại trong một thời kỳ nhất định (biểu hiện giá trị của cả các nguồn lực vật chất và nguồn lực con người) NLTC hiểu theo nghĩa hẹp là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức

và mỗi cá nhân NLTC chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình NLTC có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất

Như vậy, NLTC có thể được hiểu một cách tổng quát là các nguồn vốn tiền tệ (hoặc tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền) trong nền kinh tế có thể huy động để hình thành nên các quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [19].

NLTC để XD NTM là nguồn lực được hình thành từ các quan hệ tài chính trong nền kinh tế, được biểu hiện bằng tiền, được huy động và sử dụng nhằm hoàn thành các tiêu chí XD NTM

2.2.1.2 Vai trò của NLTC đối với XD NTM

Vai trò của NLTC đối với XD NTM được biểu hiện trên các giác độ sau đây:

Một là, NLTC cần thiết để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo định hướng NTM.

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn là tổng thể những cơ sở vật chất quantrọng, có tính chất là điều kiện, tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm nhiều bộ phận hợp thành như hệ thống giao thông nông thôn; Hệ thống điện phục vụ nông thôn; Hệ thống thủy lợi tưới tiêu cho nông nghiệp, cấp thoát nước cho sản xuất, cho sinh hoạt; Hệ thống các trường học ở nông thôn; Hệ thống các cơ sở chăm sóc y tế nông thôn; Hệ thống giao

thương, buôn bán ở nông thôn

Để có thể phát triển được hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo định hướng NTM, đòi hỏi phải tiêu tốn những khối lượng nguồn lực đáng kể của xã hội Các nguồn lực đó vừa có thể được huy động tại chỗ như đất đai, ngày công lao động, những đóng góp bằng tiền trực tiếp của các tổ chức và cá nhân tại nông thôn…, vừa được huy động từ nhiều nguồn bên ngoài Đó là đóng góp của Ngân sách nhà nước, của các tổ chức tài chính tín dụng, của các DN, của vốn ODA, FDI từ nước ngoài…

Hai là, NLTC cung cấp vốn cho việc phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất

Trang 35

Mục tiêu cốt lõi của chương trình XD NTM là tái cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập cho nông thôn Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, các ngành nghề truyền thống và các làng nghề được khôi phục và mở mang; thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn dựa trên năng lực sẵn có, tạo thêm nhiều của cải cho xã hội, tạo ra giá trị gia tăng mới, tăng thêm thu nhập cho người dân Các ngành nghề thuộc lĩnh vực côngnghiệp và dịch vụ NTM cũng có điều kiện khởi sắc, phát triển tại các vùng nông thôn nhằm tận dụng các nguồn nguyên liệu, nhân công, đất đai… sẵn có, như chế biến nông thuỷ sản, may mặc, công nghiệp giải trí… Để làm được như vậy, một trong những điều kiện có tính tiên quyết là các NLTC Đó là các hoạt động góp vốn của các bên tham gia sản xuất kinh doanh; sự tài trợ vốn thông qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng ưu đãi; sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các khoản cho vay ưu đãi, thông qua các chương trình dự án

Ba là, sự phân phối các NLTC là điều kiện khuyến khích, hỗ trợ tích cực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Để gia tăng thu nhập cho người dân, cơ cấu kinh tế vùng nông thôn phải chuyển mạnh từ kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá, đa ngành nghề lấy hiệu quả trên một đơn vị diện tích canh tác làm trọng Muốn làm được như vậy,bên cạnh phải có một lượng NLTC không nhỏ cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cho các hoạt động sản xuất, rất cần phải có những chính sách khuyến khích, ưu đãi

về thuế, phí, lệ phí, giá, tiền thuê đất, lãi suất tín dụng Để đáp ứng yêu cầu này ngoài những chính sách thiết thực của tài chính nhà nước, vai trò của NLTC thôngqua hàng loạt các chương trình tài trợ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cho vay ưu đãi,

hỗ trợ đào tạo, kỹ thuật, giống vốn là hết sức quan trọng

Bốn là,NLTC góp phần đắc lực trong việc đào tạo nguồn nhân lực, phát triển văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Nguồn nhân lực ở nông thôn có tỷ lệ rất lớn chưa qua đào tạo, hoặc chỉ đào tạo qua truyền nghề, không cơ bản Việc phát triển công nghiệp nông thôn nói chung chủ yếu phải dựa vào nguồn lực tại chỗ theo phương châm “ly nông bất ly hương” Muốn vậy đòi hỏi phải có nhiều chương trình đào tạo kiến thức và tay nghề cho người lao động thông qua các cơ sở đào tạo tập trung cũng như phân tán NLTC để thực hiện vấn đề này là theo chủ trương “xã hội hoá”, người lao động

có đóng góp một phần, nhưng phần lớn phải từ nhiều nguồn, như từ Nhà nước chi phí cho XD cơ sở vật chất, trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên, biên soạn các chương trình đào tạo…; từ các DN hỗ trợ về cơ sở vật chất, dụng cụ thí nghiệm, thực hành; Từ các tổ chức tài chính tín dụng với các khoản cho vay ưu đãi với người

Trang 36

học, với cơ sở đào tạo…

Một khi kinh tế được khởi sắc, người dân nông thôn đã có ý thức rõ rệt trong việc nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, thông qua các hoạt động về giáo dục, y

tế, văn hoá, xã hội Các hoạt động khác về y tế, văn hoá và các phúc lợi xã hội giờ đây cũng được quan tâm đầu tư phát triển Đằng sau tất cả những kết quả đó là sự đóng góp tích cực của NLTC như cung cấp tiền vốn, nguồn lực để XD cơ sở vật chất, mua sắm và chi phí duy trì hoạt động

Năm là, NLTC góp phần đắc lực tạo điều kiện cho nông thôn hội nhập kinh

tế với các vùng miền của cả nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Quá trình hội nhập giữa nông thôn và thành thị là một trong những điều kiện

để cả hai khu vực đều phát triển Để làm được điều này cần có vai trò rất lớn của NLTC Nhờ có đầu tư tài chính đủ lớn mà giao thông tại các vùng NTM đáp ứng nhucầu giao lưu, hội nhập giữa các vùng miền Đồng thời, thông qua nhiều con đường khác như đầu tư tài chính của các nhà đầu tư từ các đô thị đầu tư lan toả ra các vùng nông thôn mà hội nhập kinh tế của vùng nông thôn với đô thị gia tăng đáng

kể Cơ cấu kinh tế của vùng nông thôn nhờ sự đầu tư này mà thay đổi nhanh chóng Mặt khác, nhiều nhu cầu khác về thông tin sản phẩm hàng hoá, về du lịch nghỉ dưỡng của các đô thị được đáp ứng bởi vùng nông thôn Thời gian qua, nhiều quần thể du lịch ở các vùng nông thôn đã dần được hình thành với nhiều phân khu du lịch tại các khu bảo tồn về sinh thái hoặc bảo tồn văn hoá làng xóm truyền thống,bảo tồn làng nghề truyền thống Trong tương lai nhiều khu vực nông thôn sẽ được quy hoạch để đầu tư XD thành quần thể vui chơi, giải trí hấp dẫn, góp phần chuyển đổi cơ cầu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang du lịch - dịch vụ Vùng nông thôn vừa thu hút khách du lịch, thúc đẩy giao lưu văn hoá giữa các khu vực trong nước và giao lưu văn hoá quốc tế Chính thông qua du lịch mà hình ảnh về vùng nông thôn được quảng bá nhiều hơn, được nhiều người biết đến và kéo theo nhiều cơ hội đầu tư phát triển kinh tế

Bên cạnh đó cũng nhờ có nhiều NLTC khác nhau của cả trong và ngoài nước cho phép tổ chức nhiều triển lãm, hội chợ, xúc tiến đầu tư… giới thiệu các hoạtđộng và các sản phẩm thuộc các làng nghề truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp “đặc sản” ra cả nước và bạn bè quốc tế Những hoạt động này thực sự tạo

cơ hội cho công nghiệp nông thôn ngày càng sớm từ giã chính sách “tự cung tự cấp”, trở thành sản xuất hàng hoá để nhanh chóng vươn mình ra cả nước và khắp thế giới.[15]

Trang 37

2.2.2 Nội dung huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa

phương cấp tỉnh

2.2.2.1 Quan niệm về huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM

- Quan niệm về huy động các NLTC cho XD NTM

Huy động nguồn lực là quá trình sử dụng các chính sách, biện pháp và các hình thức nhằm tập hợp được các nguồn lực từ các đối tượng có liên quan để thực

hiện các mục tiêu đã đặt ra Huy động các NLTC là một quá trình kinh tế - xã hội

được thực hiện thông qua các chính sách, biện pháp và các hình thức mà Nhà nước, các tổ chức xã hội và các chủ thể kinh tế đưa ra và áp dụng nhằm chuyển dịch các NLTC từ dạng tiềm năng thành các quỹ tiền tệ được sử dụng cho mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội

Với cách hiểu như trên về huy động các NLTC, có thể hiểu: huy động các NLTC cho XD NTM, là sử dụng các cách thức nhất định chuyển các NLTC tiềm năng thành các quỹ tiền tệ sử dụng cho các mục tiêu XD NTM

- Quan niệm về sử dụng các NLTC cho XD NTM

Sử dụng các NLTC cho XD NTM là một quá trình kinh tế - xã hội được thực hiện thông qua các chính sách, biện pháp và các hình thức mà Nhà nước, các tổ chức xã hội và các chủ thể kinh tế đưa ra và áp dụng nhằm chuyển đổi các quỹ tiền tệ thành các nguồn lực vật chất cho việc đạt được mục tiêu

đã đặt ra gắn liền với các nội dung của XD NTM

2.2.2.2 Nội dung huy động và sử dụng các NLTC cho XD NTM ở các địa phương cấp tỉnh

2.2.2.12 Các NLTC chủ yếu cho XD NTM

Ở Việt Nam hiện nay, Chính phủ chủ trương thực hiện đa dạng hóa các

NLTC để triển khai thực hiện Chương trình XD NTM

- NLTC từ NSNN: NSNN hỗ trợ trực tiếp của chương trình này, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ và NLTC từ thực hiện lồng ghép các NLTC của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, như chương trình giảm nghèo; chương trình quốc gia về việc làm; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; chương trình thích ứng biến đổi khí hậu; chương trình về văn hóa; chương trình giáo dục đào tạo

- NLTC từ tín dụng bao gồm từ tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và

cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn; nguồn vay thương mại theo quy định chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn

Trang 38

- NLTC từ các DN đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp;

DN được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển, được ngân sách nhà nước hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn… theo quy định của pháp luật

- NLTC từ cộng đồng dân cư gồm các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong các xã cho từng dự án cụ thể, do Hội đồng nhân dân xã thông qua và các khoản viện trợ không hoàn lại của các DN, tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước[47]

2.2.2.23 Huy động các NLTC cho XD NTM:

a Huy động NLTC từ NSNN (bao gồm Ngân sách TW, tỉnh, huyện, xã)

NSNN cho XD NTM là các khoản chi của NSNN cho đầu tư XD NTM NSNN đảm bảo cung cấp NLTC để XD các hạng mục mang tính “xương sống” của NTM Các hạng mục này bao gồm: Hệ thống giao thông liên huyện, liên xã; Các hạng mục chính của hệ thống thủy lợi: đập, trạm bơm, hồ chứa; Hệ thống lưới điện nông thôn; Hệ thống thông tin, viễn thông nông thôn; Hệ thống chợ nông thôn từ cấp xã; Hệ thống trường học, trạm y tế, nhà văn hóa từ cấp xã; Hệ thống cung cấp nước sạch nông thôn Việc đầu tư những hạng mục này cần rất nhiều vốn đầu tư mà khu vực ngoài nhà nước ở nông thôn chưa đủ khả năng để có thể tự đảm bảo nhu cầu vốn

NSNN cho XD NTM gồm NLTC trực tiếp cho Chương trình và lồng ghép từ các chương trình MTQG và chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai

và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn

Nguồn vốn NSNN có vai trò tạo tiền đề, động lực để thu hút các nguồn vốn ngoài NSNN vào XD CSHT ở nông thôn Khi Nhà nước rót vốn NSNN để làm đường giao thông, người dân sẽ có động lực hiến đất đai, góp sức lao động, DN, hợp tác xã sẽ có động lực góp tài sản, tiền để cùng chung tay XD Nhà nước đầu tư làm đường giao thông liên huyện, liên xã rộng rãi, người dân, cộng đồng sẽ có độnglực để tự bỏ vốn đầu tư làm đường thôn, bản, ngõ, xóm khang trang, sạch đẹp Như vậy, nguồn vốn NSNN đóng vai trò “vốn mồi” để thu hút các nguồn vốn khác vào

XD NTM

b Huy động NLTC từ tín dụng

NLTC từ tín dụng ĐTPT của Nhà nước được trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn và vốn tín dụng thương mại theo quy định về chính sách tín dụng phục

vụ nông nghiệp, nông thôn Mục đích của tín dụng ĐTPT là hỗ trợ các dự án ĐTPT

Trang 39

của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trường kinh tế bền vững Mục tiêu của Chương trình XD NTM phải đạt được các tiêu chí gắn với hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn nhằm trợ giúp cho nông dân có thể thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, từng bước tích lũy vốn, kinh nghiệm để tiến tới CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Qua đó cho thấy, giữa mục đích của tín dụng ĐTPT và mục tiêu của Chương trình XD NTM về cơ bản là đồng nhất Nên tín dụng ĐTPT trở thành một trong những kênh cung ứng vốn từ Nhà nước cho Chương trình XD NTM Là kênh cung ứng tín dụng từ Nhà nước, nên tín dụng ĐTPT luôn có những ưu đãi cho người vay, như: Mức vốn cho vay lớn; thời hạn vay thường được kéo dài; lãi suất tiền vay thường nhỏ hơn lãi suất của tín dụng thương mại cùng loại Ngoài ra, Nhà nước còn

hỗ trợ các chủ dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua hình thức hỗ trợ sau đầu tư Với kỳ vọng được “lợi ích kép” từ vay vốn đầu tư của tín dụng ĐTPT, các chủ dự án thuộc Chương trình XD NTM sẽ luôn cố gắng huy động các NLTC khác ngoài Nhà nước - vốn đối ứng, đế chứng minh tính khả thi về NLTC của các dự án mà họ dự định triển khai, để được lọt vào phạm vi vay vốn đầu tư và hưởng ưu đãi sau đầu tư của tín dụng ĐTPT Nên tín dụng ĐTPT đã trở thành “vốn mồi” để hấp dẫn các NLTC khác cùng tham gia đầu tư XD NTM

NLTC từ vay nợ của chính quyền địa phương Vay nợ của chính quyền địa phương cho XD NTM là cần thiết, bởi nhu cầu NLTC cho chương trình NTM rất lớn, khả năng hỗ trợ trực tiếp từ NSNN cho Chương trình hạn hẹp Vấn đề đặt ra

là Chính phủ cần xác lập chính sách vay nợ cho chính quyền địa phương Mỗi địa phương hàng năm muốn vay nợ để huy động vốn cho ĐTPT nói chung và phân

bổ cho XD NTM nói riêng đều phải tuân thủ theo các quy định mà Chính phủ đã ban hành.

NLTC từ vay thương mại Sự tham gia nguồn vay thương mại cho XD NTM làcần thiết bởi nó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia quan hệ tín dụng và lợi ích tổng thế của cả Chương trình Cụ thể, nó giải quyết nhu cầu về vốn của người đivay, đảm bảo lợi ích của người cho vay thông qua việc bù đắp tiền lãi; việc đầu tư của tư nhân từ NLTC tín dụng đem lại lợi ích của cá nhân cũng là góp phần làm tăng lợi ích tổng thể của Chương trình Nguồn vay thương mại được tài trợ chủ yếu qua các NHTM, việc huy động NLTC của các thành phần kinh tế thông qua kênh vay thương mại được thực hiện theo chính sách lãi suất thị trường

Huy động vốn thông qua kênh vay thương mại, các chủ thể luôn cân nhắc giữa

Trang 40

tỷ suất sinh lời từ sử dụng vốn vay với chi phí vốn vay Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mức độ rủi ro cao, tỷ suất sinh lời thấp hơn với lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Do đó, nhu cầu vay vốn của khu vực tư nhân đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thường thấp[89] Trên thực tế để thu hút nguồn vay thương mại đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn cần phải có sự can thiệp hỗ trợ từ phía Nhà nước thông qua chính sách chính sách ưu đãi đối với người đi vay và các tổ chức tín dụng Cụ thể, Chính phủ có chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua việc hỗ trợ NLTC, sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, chính sách xử lý rủi ro phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các chính sách khác trong từng thời kỳ; theo đó, các thành phần kinh tế tư nhân vay vốn từ các tổ chức tín dụng đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được hưởng các ưu đãi về lãi suất, điều kiện vay vốn, thời hạn vay Với những ưu đãi đó sẽ có tác động tích cực đến việc thu hút nguồn vay thương mại đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

c Huy động NLTC từ DN

Nguồn vốn DN cho XD NTM bao gồm vốn đầu tư của các DN trong và ngoài nước Các DN có thế coi là một đối tượng nhiều tiềm năng có thể hướng tới trong huy động vốn đầu tư XD NTM Các DN thực hiện kinh doanh trên thị trường để tìmkiếm lợi nhuận Trong đầu tư XD NTM, nếu nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư có thể làm gia tăng lợi nhuận cho DN, các DN chắc chắn sẽ coi đây là một cơhội tốt để kinh doanh và họ sẽ bỏ vốn đầu tư XD NTM Trong trường hợp không trực tiếp đầu tư, các DN cũng thường có ý thức tự giác trong việc đóng góp nguồn lực cho các hoạt động đầu tư, XD tại địa bàn mà họ đang sản xuất kinh doanh Do vậy, đây là một kênh huy động vốn quan trọng và nhiều tiềm năng để huy động.NLTC từ DN có thể thông qua đầu tư XD các công trình công cộng có thu phí

để thu hồi vốn như chợ, công trình cấp nước sạch, điện, cầu nhỏ, bến phà, bến đò; đầu tư kinh doanh các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm, cung cấp dịch

vụ như khu trồng rau, hoa công nghệ cao, trang trại chăn nuôi tập trung, nhà máy chế biến nông sản, thức ăn chăn nuôi; đầu tư trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tổ chức đào tạo và hướng dẫn bà con nông dân tiếp cận kỹ thuật tiên tiến…Nguồn vốn DN góp phần làm giảm áp lực cho NSNN trong XD NTM Hiện nay, nhiều hạng mục đầu tư XD có quy mô lớn đã được thực hiện theo chính sách công tư kết hợp dưới nhiều hình thức cụ thể khác nhau Nhà nước đã có chính sách

để nhiều DN với tiềm lực mạnh bỏ vốn đầu tư XD các công trình với quy mô lớn vàtrực tiếp khai thác lợi nhuận từ công trình sau XD Cách làm này vừa làm giảm

Ngày đăng: 02/02/2020, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w