1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại ngân hàng phát triển việt nam

115 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn hoạt động của Ngân hàng Pháttriển Việt Nam đã khẳng định tín dụng đầu tư phát triển ĐTPT của Nhà nước làmột hình thức tín dụng đặc biệt không vì mục đích lợi nhuận mà hướng tới

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên

Hà Nội, Năm 2017.

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Tất cả các số liệu,

dữ liệu nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được thu thập bằng phương pháp khách quan tin cậy.

Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Phương người hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này.

Liên-Tôi xin trân trọng cảm ơn những thầy cô giáo Trường Đại học Thương Mại đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường.Và xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành luận văn.

Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ, HỘP vii

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 3

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN 5

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN BỆNH VIỆN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 6

1.1 Cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước qua Ngân hàng Phát triển 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước qua Ngân hàng phát triển 6

1.1.2 Phân loại cho vay đầu tư phát triển qua Ngân hàng phát triển 11

1.1.3 Nguyên tắc và tổ chức cho vay ĐTPT qua Ngân hàng phát triển 17

1.2 Cho vay và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại NHPT 21

1.2.1 Đặc điểm của các dự án đầu tư phát triển bệnh viện ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHPT 21

1.2.2 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại Ngân hàng phát triển 22

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay dự án bệnh viện tại Ngân hàng phát triển 24

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện qua Ngân hàng Phát triển 28

1.3.1 Các yếu tố thuộc về Ngân hàng phát triển 28

1.3.2 Các yếu tố thuộc về khách hàng vay-các bệnh viện 31

1.3.3 Các yếu tố thuộc về môi trường hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 33

1.4.1 Hoạt động tín dụng ĐTPT của Trung Quốc 35

1.4.2 Hoạt động tín dụng ĐTPT của Hàn Quốc 36

Trang 6

1.4.3 Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhật Bản 36

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 37

CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CHO VAY VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN BỆNH VIỆN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 39

2.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) 39

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển VDB 39

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức VDB 42

2.1.3 Kết quả hoạt động của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 45

2.2 Thực trạng cho vay và hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại VDB 50

2.2.1 Chính sách và quy trình cho vay đối với các dự án bệnh viện 50

2.2.2 Thực trạng cho vay đối với các dự án bệnh viện tại VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 56

2.2.3 Thực trạng hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 60

2.3 Đánh giá thực trạng cho vay và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 66

2.3.1 Những kết quả và nguyên nhân đạt được 66

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71

CHƯƠNG III:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN BỆNH VIỆN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆTNAM 80

3.1 Định hướng về hoạt động cho vay đối với các dự án bệnh viện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn từ năm 2018-2020 80

3.1.1 Định hướng hoạt động của VDB giai đoạn tới 80

3.1.2 Định hướng cho vay các dự án bệnh viện giai đoạn 2018-2020 82

3.1.3 Quan điểm về nâng cao hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện 84

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại VDB 84

3.2.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động của VDB 85

3.2.2 Đào tạo lại trình độ cán bộ của VDB 87

3.2.3 Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của VDB 88

3.2.4 Xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ của VDB 91

3.2.5 Nâng cao nhận thức của khách hàng vay vốn ĐTPT tại VDB 92

3.2.6 Hiện đại hóa ứng dụng công nghệ ngân hàng của VDB 93

3.3 Một số kiến nghị: 95

Trang 7

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 95 3.3.2 Kiến nghị với Bộ, Ban ngành và khách hàng vay 97

KẾT LUẬN 99 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ, HỘP

1 Sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của VDB 44

Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay của VDB 53

2 Bản Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của VDB 45

Bảng 2.2: Tình hình cho vay và thu nợ TDĐT của VDB 47

Bảng 2.3: Tình hình cho vay và thu nợ các dự án bệnh viện của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 57

Bảng 2.4: Các dự án bệnh viện ký hợp đồng tín dụng với VDB 58

Bảng 2.5: Tình hình giám sát giải ngân các dự án bệnh viện của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 59

Bảng 2.6: Tình hình thu nợ gốc và lãi các dự ánbệnh viện của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 60

Bảng 2.7: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án bệnh viện của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 61

Bảng 2.8: Kết quả thẩm định dự án bệnh viện của VDB 66

3 Đồ thị:Y Đồ thị 2.1: Tình hình huy động vốn của VDB 46

Đồ thị 2.2: Tình hình cho vay và thu nợ TDĐT của VDB 48

Đồ thị 2.3: Tình hình cho vay và thu nợ các dự án bệnh viện 57

của VDB giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 57

Đồ thị 2.4: Tình hình thu nợ gốc và lãi các dự án bệnh viện của VDB 61

giai đoạn 2013-10 tháng năm 2017 61

4 Hộp:

Hộp 1:Phỏng vấn Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương PGS.TS Trần Ngọc Lương trên báo Vietnamnet.vn đăng ngày 13/09/2017

Hộp 2:Trong bài “Vươn tới tầm cao” đăng trên Trang chủ giới thiệu về Bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung Ương

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các tổ chức tài chính trung gian đặc biệt là hệ thống ngân hàng, ngày càng đóng vai trò quan trọng Các tổ chức nàyhoạt động như một kênh dẫn vốn hiệu quả, thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư

-và tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững Phầnlớn các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích cho chủ sở hữu, song vìmục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế với cơcấu hợp lý vừa phải đảm bảo các vấn đề xã hội, do đó sự ra đời của các tổ chức hoạtđộng hướng tới các lợi ích an sinh xã hội là một điều tất yếu Để nâng cao hiệu quảhoạt động của tổ chức tài trợ phát triển, phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, ngày 19/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 108/2006/QĐ-TTgthành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợphát triển (QHTPT) để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩucủa Nhà nước

Trong hơn 10 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã đóng góptích cực vào việc triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế thuộc các lĩnh vực,các ngành, các vùng mà Nhà nước ưu tiên Thực tiễn hoạt động của Ngân hàng Pháttriển Việt Nam đã khẳng định tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) của Nhà nước làmột hình thức tín dụng đặc biệt không vì mục đích lợi nhuận mà hướng tới hiệu quả

và công bằng của nền kinh tế quốc gia; tín dụng ĐTPT của Nhà nước là công cụquan trọng của Chính phủ không chỉ trong chỉ đạo, điều hành và triển khai các dự

án đầu tư phát triển lớn, các chương trình trọng điểm quốc gia, mà còn góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội và thực hiện mụctiêu tăng trưởng kinh tế đưa đất nước tiến lên công nghiệp hóa-hiện đại hóa

Bên cạnh việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội, các dự án đầu tư trong lĩnhvực y tế: mở rộng, nâng cấp, đầu tư thiết bị, xây dựng mới bệnh viện cũng ngàyđược quan tâm với việc Chính phủ đặt ra mục tiêu quan trọng trong “Chiến lượcquốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầmnhìn đến năm 2030” là thúc đẩy đầu tư phát triển cơ sở khám chữa bệnh (KCB),giảm quá tải bệnh viện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị của

Trang 11

người dân Tuy nhiên, rất khó bố trí vốn từ ngân sách nhà nước (NSNN), trái phiếuChính phủ để đầu tư các bệnh viện, trung tâm KCB hiện đại, ngang tầm khu vực dotrong điều kiện nguồn vốn từ NSNN hạn chế (30% giá trị công trình) Thực tế chothấy thời gian qua, nhiều bệnh viện đã mạnh dạn lập dự án đi vay vốn từ các tổ chứctín dụng (khoảng 70% giá trị công trình) để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trangthiết bị Nhờ đó, các bệnh viện có cơ sở khang trang, thiết bị hiện đạiphục vụ côngtác khám, chữa bệnh và khi đưa vào sử dụng, các công trình đã bước đầu mang lạihiệu quả tích cực.

Triển khai “Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Thủ tướng Chính phủ,Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã và đang cho vay vốn ĐTPT các dự án bệnh việntrên khắp cả nước Với đặc thù cho vay của các dự án bệnh viện như: xây dựng cơ

sở hai của các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến trung ương, nhất là cácchuyên khoa có khả năng thu và xã hội hóa cao như: nhi, phụ sản, mắt, tai mũihọng, da liễu ; các trung tâm KCB theo yêu cầu, kỹ thuật cao của một số bệnh viện

đa khoa tại các tỉnh, thành phố lớn nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh đa dạngcủa người dân

Tuy nhiên, nhiều bệnh viện đang vay vốn cho rằng các ngân hàng cần điềuchỉnh những ưu đãi cho phù hợp thực tế hơn Nhiều đơn vị chưa mạnh dạn đi vay

do độ rủi ro cao Các đơn vị đã vay đều có thời gian ân hạn ngắn (24 tháng), trongkhi nhiều bệnh viện phải xây ba đến bốn năm mới xong; thời gian trả nợ ngắn (12năm), lãi suất cao Trong khi quy định khấu hao từ 30 đến 40 năm, như vậy phảikhấu hao nhanh thì mới có nguồn trả, tính đầy đủ chi phí thì giá dịch vụ sẽ cao,trong khi giá bảo hiểm y tế thanh toán chưa có khấu hao Các bệnh viện đang vayvốn đề nghị các ngân hàng cho vay cần kéo dài thời gian ân hạn (chưa phải trả gốcvay đến khi bệnh viện đưa vào sử dụng); xem xét lãi suất một cách phù hợp (hiệnnay vẫn khá cao); giãn tiến độ trả gốc vay những năm đầu, không nên chia đều gốcphải trả cho thời gian vay vì nếu không được hỗ trợ lãi suất, lãi suất các năm đầulớn, đơn vị trả cả gốc và lãi vay rất khó khăn Bên cạnh đó, các cơ quan chức năngxem xét, cần có sự ưu đãi (miễn, giảm) về thuế thu nhập đối với khu vực mới đượcxây dựng… Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, việc đánh giá hiệu quả cho vay đốivới các dự án bệnh viện đang là yêu cầu cấp thiết cần được quan tâm

Vì vậy, đề tài “Hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại Ngân

hàng Phát triển Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.

Trang 12

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một loại hình ngân hàng đặc thù, hoạtđộng không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0% (không phần trăm),được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán Triển khai chính sách tín dụng đầu

tư phát triển thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã có nhiều đóng góp tíchcực cho phát triển tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng năng lực sản xuất

xã hội góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và từng bước tạo nền tảng cơ sởvật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc gia Liên quan tới những vấn đề lý luận vềhoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, về cho vay các dự án đầu tư sử dụngvốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, có thể kể đến một số công trình nghiêncứu có liên quan như:

Luận án tiến sĩ kinh tế “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát

triển của Nhà nước”, tác giả Trần Công Hòa (2007) đã xây dựng cơ sở lý luận và

chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước, đi sâu vào phântích tình hình hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển, tập trung phân tích thực trạnghiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước giai đoạn 2000-2006 trên phươngdiện định tính và định lượng Trong quá trình phân tích, tác giả làm rõ các nguyênnhân hạn chế hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước trên các khía cạnh:chính sách và môi trường triển khai; mô hình tổ chức triển khai; sử dụng vốn tíndụng đầu tư của Nhà nước trong hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư tại cácdoanh nghiệp Tuy nhiên, luận án chưa phân tích chất lượng của các khoản vay sửdụng vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, chưa đánh giá tình hình thực hiện đối vớicác dự án nói riêng, chưa hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt độngcho vay đầu tư phát triển

Luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân

hàng Phát triển Việt Nam”, tác giả Trương Thị Hoài Linh (2012) đã xây dựng và

phân tích các yếu tố để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội cho các dự ánđầu tư, qua đó cụ thể hóa được những đóng góp của dự án đối với mục tiêu thúc đẩy

sự phát triển của đất nước Trong quá trình phân tích, tác giả đã thực hiện việc đánhgiá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên diện rộng của tất cảcác mặt hoạt động, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả được đánh giá thông qua các sốliệu về sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, về sự an toàn của Ngânhàng Phát triển Việt Nam trong việc bảo đảm huy động mọi nguồn lực có chấtlượng tốt với khẩu hiệu “hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”

Trang 13

Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác cho vay vốn đầu tư tại Chi

nhánh Ngân hàng Phát triển Tuyên Quang”, tác giả Đào Ngọc Thái (2014) cũng đã

đánh giá công tác cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước trên tất cả các mặthoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Tuyên Quang, từ đó đề ra cácgiải pháp để hoàn thiện công tác cho vay vốn tín dụng đầu tư Tuy nhiên, nghiêncứu này cũng chỉ dừng lại ở việc đánh giá các mặt của công tác cho vay vốn tíndụng đầu tư nói chung, chưa đi sâu vào phân tích đánh giá chất lượng cho vay dự ánriêng biệt, đặc biệt là cho vay các dự án xây dựng, cải tạo mở rộng bệnh viện

Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư đối với doanh

nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Đồng Nai”, tác giả Trần Hoàng Quân

(2015) đã khái quát các vấn đề lý luận về dự án đầu tư, cho vay dự án đầu tư, doanhnghiệp sử dụng vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Pháttriển Đồng Nai Tác giả tập trung vào việc đánh giá công tác cho vay dự án đầu tưđối với doanh nghiệp trên địa bàn qua số liệu về doanh nghiệp đi vay, thủ tục chovay, thủ tục giải ngân, công tác kiểm tra và thu nợ vay đối với doanh nghiệp Việcđánh giá sẽ xem xét mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào phát triển kinh tế-xãhội của tỉnh, tạo công ăn việc làm cho nhiều người trong xã hội

Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lượng cho vay đối với các dự án

trồng rừng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Quảng Ngãi”, tác giả Nguyễn Minh

Tùng (2016) cũng đã đánh giá công tác cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nướctrên tất cả các mặt hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển QuảngNgãi, từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện công tác cho vay vốn tín dụng đầu tư.Mặc khác, nghiên cứu này đi sâu vào phân tích đánh giá chất lượng cho vay dự ánriêng biệt, đó là cho vay các dự án trồng rừng đặc thù tại tỉnh Quảng Ngãi

Trên cơ sở tóm lược các công trình nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy

mảng đề tài “Hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại Ngân hàng Phát

triển Việt Nam” chưa được đánh giá Do vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu tập trung

vào hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tại Ngân hàng Pháttriển Việt Nam nói chung và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại Ngânhàng Phát triển Việt Nam nói riêng

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

* Mục đích nghiên cứu:Đề xuất được các giải pháp và kiến nghị có cơ sởkhoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh việntại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 14

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cho vay ĐTPT của Nhà nước quaNgân hàng phát triển và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tại NHPT

- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh việntại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối vớicác dự án bệnh viện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện sửdụng vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hiệu quả hoạt động tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung và hiệu quả cho vay đối với các dự

án bệnh viện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói riêng

+ Về thời gian và không gian: nghiên cứu dữ liệu thực tiễn của các dự ánbệnh viện tập trung vào giai đoạn từ năm 2013-2017 tại Ngân hàng Phát triển ViệtNam Thời gian ứng dụng các giải pháp đề xuất từ năm 2018 đến năm 2020

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu

sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn bao gồm: phương pháp thống kê,phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu Quá trình nghiên cứu, phân tích đượckết hợp giữa lý luận và thực tiễn nhằm luận giải, đánh giá những vấn đề quan trọngphục vụ mục đích nghiên cứu

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danhmục các bảng biểu và hình vẽ, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, kết cấucủa luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay và hiệu quả cho vay đối với các dự ánbệnh viện tại Ngân hàng phát triển

- Chương 2: Thực trạng cho vay và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnhviện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnhviện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN BỆNH VIỆN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN

1.1 Cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước qua Ngân hàng Phát triển

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước qua Ngân hàng phát triển

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng phát triển (NHPT):

* Khái niệm:

Khái quát lịch sử phát triển của nền kinh tế trên thế giới có thể nhận thấytrong bất cứ nền kinh tế nào, dù là nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay kémphát triển, luôn tồn tại các đối tượng khó có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn tíndụng thương mại do nhiều nguyên nhân như: nhu cầu vốn tài trợ lớn, thời gian hoànvốn dài, rủi ro lớn do đầu tư vào lĩnh vực/sản phẩm mới hay các địa bàn khó khăn…Tuy nhiên, đây là đối tượng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế-xã hội (KT-XH) nên không thể không được đầu tư Đa số các nướctrên thế giới đều thành lập một tổ chức độc lập hoạt động như một trung gian tàichính để thực hiện nhiệm vụ này với tên gọi phổ biến là “Ngân hàng phát triển”

Theo Giáo trình Ngân hàng phát triển của TS.Phan Thị Thu Hà (2005), thì

“Ngân hàng phát triển là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển”, điều này có thể thấy sự ra đời, mục tiêu

hoạt động của Ngân hàng phát triển đều gắn liền và xoay quanh với các dự án pháttriển Quan trọng là, chính sách hoạt động của NHPT nhằm tài trợ cho các dự ánphát triển trên cơ sở: (i) thẩm định/phân tích dự án về cả lợi ích kinh tế và xã hội;(ii) thực hiện vai trò cho vay/tài trợ cuối cùng khi các dự án này không hoặc rất khótìm kiếm được các nguồn tài trợ khác một cách phù hợp hoặc chưa tìm đủ nguồnvốn cần thiết Điều đó có nghĩa là khi các tổ chức khác không muốn hoặc không thểhoặc không đủ vốn thì NHPT sẽ sử dụng vốn trung và dài hạn của mình để hỗ trợphần còn thiếu để đầu tư dự án Một cách cụ thể hơn, chức năng cho vay cuối cùngnày cũng mang ý nghĩa hỗ trợ cho các dự án có mức rủi ro cao hơn bình thường

* Đặc điểm của NHPT:

Ngân hàng phát triển khác với các Ngân hàng thương mại (commercialbanks) và Ngân hàng đầu tư (investment banks) ở một số điểm cơ bản là:

Trang 16

- Các Ngân hàng thương mại (NHTM) và Ngân hàng đầu tư đều có thể dướihình thức sở hữu tư bản tư nhân hoặc vốn cổ phần NHPT dù ở giai đoạn kinh tếnào cũng có sự liên hệ chặt chẽ với Chính phủ, đều do Chính phủ thành lập và thuộc

sở hữu Chính phủ hoặc Chính phủ nắm giữ lượng vốn chi phối rất mạnh nhằm đảmbảo hoạt động của NHPT theo đúng mục tiêu đề ra đáp ứng yêu cầu đầu tư pháttriển đất nước Cũng vì vậy nên NHPT thường được thành lập hoàn toàn khác sovới các NHTM hoạt động theo điều lệ như một doanh nghiệp

- Do được Chính phủ thành lập đồng thời là một công cụ của Chính phủ nênNHPT và các hoạt động của nó phải đặt dưới sự kiểm soát của Chính phủ; Do có sựhậu thuẫn về vốn và nhận được sự bảo lãnh của Chính phủ trong việc huy động vốntrong và ngoài nước nên hoạt động NHPT có gắn bó mật thiết với hoạt động củaChính phủ và các Bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước…

- Các NHTM chủ yếu cung cấp tín dụng ngắn hạn, hầu hết các khoản vay cóthời hạn dưới 1 năm trong khi NHPT tập trung vào tín dụng trung và dài hạn Đốitượng tài trợ của NHPT là các dự án đầu tư phát triển: là loại đầu tư các tài sản vậtchất và sức lao động để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nềnkinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, làđiều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xãhội Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạtầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiệncác chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trìtiềm lực hoạt động và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội

Qua đặc điểm trên, có thể thấy sự khác biệt cơ bản của NHPT so với NHTM

1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của cho vay đầu tư phát triển qua NHPT:

* Khái niệm:

Cho vay ĐTPT qua NHPT hay còn gọi là “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” là

sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức cho vay để tài trợ đầu tư các dự ánthuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích Xét một cách thực chất, thông qua cácquan hệ vay-trả, “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” chính là một hoạt động cung ứngvốn cho đầu tư phát triển của đất nước Và là một công cụ đắc lực mà Chính phủcác nước thường sử dụng ngoài nguồn vốn NSNN, để đáp ứng các mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội trong từng thời điểm Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển,khi thị trường vốn còn chưa hoàn thiện, việc huy động được đủ vốn dài hạn là điều

Trang 17

không hề dễ dàng Nên trong hoạt động “tín dụng ĐTPT của Nhà nước”, vấn đề vốnlại càng trở thành một nội dung đặc biệt quan trọng là việc có huy động được đủvốn hay không trở thành một nội dung có quan hệ chặt chẽ mang tính sống còn.Nguồn vốn đòi hỏi phải được huy động từ nhiều nguồn khác nhau thông qua nhiềuhình thức khác nhau như: vay vốn, phát hành trái phiếu, huy động từ NSNN, Chínhphủ bảo lãnh vay vốn ; như vậy, tổ chức thực thi “tín dụng ĐTPT của Nhà nước”(là NHPT) trong trường hợp này trở thành khách vay, khi thực hiện cho vay thìNHPT lại trở thành chủ nợ và các chủ đầu tư dự án trở thành khách vay Để đáp ứngyêu cầu hỗ trợ các dự án phát triển, việc huy động vốn chủ yếu tập trung vào cácnguồn vốn lớn và dài hạn trên nguyên tắc tận dụng tối đa nguồn vốn rẻ (lãi suấtthấp) để giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ đắc lực cho dự án phát triển đất nước.

Bên cạnh đó, do hoạt động “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” là một hoạt độngkhá khác biệt so với tín dụng thương mại, được thực hiện bởi những chính sáchriêng về huy động nguồn vốn và phương thức hỗ trợ (bao gồm: đối tượng, mức độ

và cách thức hỗ trợ, tổ chức triển khai ); nên khi xem xét và đánh giá cần nhìnnhận và đánh giá một cách toàn diện các nội dung bao gồm: Huy động nguồn vốn,quản lý và sử dụng nguồn vốn như thế nào; Việc thực hiện tài trợ có thể là trực tiếphoặc gián tiếp; trong trường hợp tài trợ trực tiếp, NHPT sẽ trực tiếp thẩm định vàcấp tín dụng cho các dự án; trường hợp tài trợ gián tiếp, NHPT sẽ uỷ thác cho một

tổ chức thứ ba (thường là các NHTM) và tổ chức này trực tiếp thực hiện việc thẩmđịnh và cấp tín dụng cho các dự án với các điều kiện theo yêu cầu của NHPT

* Đặc điểm của cho vay ĐTPT của Nhà nước:

Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước thể hiện ở những điểm sau:

- Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước chỉ tập trung vào các dự án pháttriển được Nhà nước khuyến khích trong danh mục quy định trong khi đó các hoạtđộng cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) khác có thể đáp ứng cho mọi loạiđối tượng khách hàng mọi dự án thuộc mọi ngành nghề lĩnh vực

- Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước chỉ tài trợ cho các dự án có khảnăng thu hồi vốn, có hiệu quả về kinh tế-xã hội, đảm bảo phù hợp với quy hoạch vàcác mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trongtừng thời kỳ

- Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắckhông cạnh tranh với hoạt động của các NHTM, đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữacác thành phần kinh tế, phù hợp với nguyên tắc thị trường và các thông lệ quốc tế

Trang 18

- Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước không vì mục đích lợi nhuận, nênyêu cầu về lợi nhuận thấp hơn so với các NHTM vì thế lãi suất cho vay thường thấphơn lãi suất thị trường.

- Khác với các loại tín dụng khác, một chủ thể trong quan hệ cho vay ĐTPTluôn là Nhà nước, còn trong quan hệ vay mượn của các hình thức tín dụng khác thìkhông nhất thiết phải có chủ thể là Nhà nước

- Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước có quy mô vốn lớn, thời hạn dài,thậm chí có thể dài tới vài chục năm Tập trung vào cơ sở vật chất kết cấu hạ tầngKT-XH, cụ thể là nhằm tăng cường đầu tư các tài sản cố định (TSCĐ) để phục vụcác hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của nền kinh tế của quốc gia

- Chính phủ sử dụng cho vay ĐTPT của Nhà nước như một công cụ để điềutiết vĩ mô nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực ĐTPT vùng/miền, ngành, sản phẩmmới… Theo kế hoạch hàng năm do Chính phủ giao về việc tăng trưởng tín dụng,các dự án được thẩm định và ký kết HĐTD phù hợp

- “Tín dụng ĐTPT của Nhà nước” là một phạm trù kinh tế có tính lịch sử Nó

ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.Tùy theo mục tiêu phát triển KT-XH do Chính phủ đề ra, hoạt động “tín dụng ĐTPTcủa Nhà nước” có thể có những hình thức thể hiện khác nhau với những mục tiêu cụthể trong những giai đoạn nhất định

Những đặc trưng trên đây cũng chính là sự khác biệt so với cho vay thươngmại hay cho vay chính sách khác (ví dụ: ngân hàng chính sách cho vay đối vớingười nghèo, sinh viên )

Tóm lại, mỗi đặc trưng phản ánh một bản chất của cho vay ĐTPT của Nhànước qua NHPT; nhận thức đúng những đặc trưng này là cơ sở để phân tích và đánhgiá đúng hiệu quả cho vay ĐTPT của Nhà nước trên phương diện quốc gia (toàn bộnền kinh tế hay ngành kinh tế) cũng như đối với từng doanh nghiệp

1.1.1.3 Vai trò của cho vay ĐTPT qua NHPT:

Cho vay ĐTPT qua NHPT có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy pháttriển kinh tế đặc biệt với các nước đang phát triển, điều này thể hiện ở các điểm:

- Thứ nhất, cho vay ĐTPT qua NHPT là một trong phương thức giải ngânvốn Nhà nước hiệu quả

Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư phát triển của tư nhân không phải baogiờ cũng lấp đầy nhu cầu của các ngành, các lĩnh vực nên Nhà nước phải bổ sungbằng đầu tư phát triển của mình Tuy nhiên, nguồn vốn của NSNN có hạn nên

Trang 19

không thể cấp không cho tất cả các dự án Nhà nước muốn đầu tư Nhiều dự án cókhả năng thu hồi vốn nên cho vay ĐTPT qua NHPT sẽ hiệu quả hơn, nói cách khác

sự ra đời của “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” đã thu hẹp phạm vi các dự án đượccấp phát không hoàn trả từ NSNN Như vậy, cho vay ĐTPT qua NHPT đã góp phầntích cực giải quyết khó khăn nguồn tài chính của Nhà nước thông qua việc giải ngânvốn Nhà nước hiệu quả hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ chi đầu tư phát triển của NSNN

- Thứ hai, cho vay ĐTPT qua NHPT là công cụ thực hiện chức năng của Nhànước trong việc khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường đem lại nhiều thuận lợi thì mặt trái của nó cũng có nhiềubất lợi mà quốc gia nào trong quá trình phát triển cũng đều phải đối mặt như: môitrường ô nhiễm, tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng rộng, phát triển khôngcân đối giữa các vùng miền/ngành kinh tế… Để khắc phục những khiếm khuyếtnày, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ (thuế, chi NSNN, tín dụng ĐTPT của Nhànước…) trong việc điều tiết, phân bổ các nguồn lực, đảm bảo cho các vùng, cácngành hoặc các thành phần kinh tế phát triển một cách đồng đều Do đó, có thể coicho vay ĐTPT qua NHPT như “bàn tay hữu hình” mà Nhà nước sử dụng trong quátrình thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô của mình đối với nền kinh tế

- Thứ ba, cho vay ĐTPT qua NHPT góp phần thực hiện các mục tiêu KT-XHtrong từng thời kỳ

Có rất nhiều mục tiêu phát triển mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng tớinhư: tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, kiểm soát lạm phát, lãi suất, cân đối giữa tiếtkiệm-tiêu dùng-đầu tư, cân đối xuất khẩu-nhập khẩu Để đạt được những mục tiêu

và quan hệ cân đối này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp nhiều chính sách như chínhsách tài khóa, chính sách tiền tệ và cho vay ĐTPT qua NHPT cũng là một bộ phậncấu thành trong hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đóng góp rấtlớn trong việc hoàn thành mục tiêu KT-XH

- Thứ tư, cho vay ĐTPT qua NHPT hỗ trợ tích cực cho việc chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đảm bảo sự phát triển nhanh

và bền vững của nền kinh tế

Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mà các nước chậmphát triển phải trải qua để trở thành một nước phát triển Nội dung trọng tâm củaquá trình này là thông qua nguồn vốn “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” đầu tư chonhững dự án trong lĩnh vực phát triển cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (giaothông, thủy điện…), lĩnh vực kinh tế trọng điểm quốc gia (ngành ô tô, ngành đóng

Trang 20

tàu, ngành cơ khí…), lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, sản phẩmcông nghệ cao, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng lãnh thổ vàquốc gia theo hướng CNH-HĐH

Mặt khác, tập trung nguồn cho vay ĐTPT của Nhà nước trong việc xây dựng

cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, tạo lợi thếtrong việc tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng là nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh và tăng trưởng tính bềnvững của nền kinh tế

- Thứ năm, cho vay ĐTPT qua NHPT với mục đích là hỗ trợ các dự án pháttriển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chươngtrình kinh tế trọng điểm trong từng kỳ… Cho vay ĐTPT qua NHPT cung cấp mộtlượng vốn lớn cho việc đầu tư phát triển các dự án ở tại các địa bàn có điều kiệnKT-XH khó khăn và đặc biệt như các tỉnh miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu,vùng xa…; ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng/miền… còn góp phần tạo thêm nhiều việc làm chongười lao động tại địa phương, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội

- Thứ sáu, thông qua hệ thống “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” tạo thêm mộtkênh huy động vốn cho đầu tư phát triển, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tếđất nước Tuy còn những định chế ràng buộc nhưng là một định chế tài chính Nhànước nên dễ tạo nên niềm tin cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính tiền tệ này

1.1.2 Phân loại cho vay đầu tư phát triển qua Ngân hàng phát triển

Phân loại cho vay ĐTPT qua NHPT hay là phân loại cho vay của TCTD cầnphải căn cứ vào nhiều tiêu chí cơ bản khác nhau, và mỗi cách phân loại đó đem đếnnhững ý nghĩ pháp lý khác nhau

1.1.2.1 Phân loại cho vay dựa vào tiêu chí thời hạn vay:

Căn cứ vào tiêu chí này, hoạt động cho vay ĐTPT qua NHPT có thể đượcchia thành: cho vay trung hạn và cho vay dài hạn Điều này cho thấy phạm vi vềthời hạn cho vay ĐTPT qua NHPT thường diễn ra dài hơn so với các loại hình chovay ở các TCTD khác

Ở Việt Nam, theo khoản 1 điều 8 Thời hạn cho vay được quy định tại Nghịđịnh số 32/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 03 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ vềtín dụng đầu tư của Nhà nước thì “NHPT quyết định thời hạn cho vay đối với từng

dự án trên cơ sở kết quả thẩm định dự án và phù hợp với thời hạn cho vay được xácđịnh theo khả năng thu hồi vốn của dự án và khả năng trả nợ của khách hàng phù

Trang 21

hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của dự án nhưng không quá 12 năm Riêngcác dự án đầu tư thuộc nhóm A thời hạn cho vay vốn tối đa là 15 năm”.

Khác với các quy định về loại cho vay tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định TCTDxem xét cho khách hàng vay theo 3 loại cho vay sau: (i) Cho vay ngắn hạn là cáckhoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm; (ii) Cho vay trung hạn là các khoảnvay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm; (iii) Cho vay dài hạn là các

khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm.(xem phụ lục 01)

* Ý nghĩa pháp lý:

- Đối với người làm luật việc phân loại các hình thức cho vay của các TCTDtheo thời hạn vay vốn là một trong các tiêu chí để quy định các biện pháp bảo đảmrủi ro về khả năng chi trả của các TCTD và xây dựng khung lãi suất cơ bản chotừng hình thức một cách phù hợp

- Đối với người đi vay việc phân loại các hình thức cho vay như trên với cáchình thức lãi suất khác nhau sẽ giúp cho những người có nhu cầu vay vốn lựa chọnđược hình thức vay phù hợp nhất với mình cả về thời gian và chi phí

- Đối với bên cho vay phân loại dựa trên thời gian vay giúp cho TCTD có thểchủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn của mình, chọn lựa đối tượng được vayvốn, điều chỉnh hoạt động cho vay một cách hợp lý và đem lại hiệu quả nhất

1.1.2.2 Phân loại cho vay dựa vào tiêu chí bảo đảm tín dụng:

Căn cứ vào tiêu chí này hoạt động cho vay ĐTPT qua NHPT được chia thànhcho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản:

a Cho vay có bảo đảm bằng tài sản:

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà nghĩa vụ trả nợ vayđược bên vay bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp bảo đảm như cầm cố, thếchấp hoặc bảo lãnh Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả

nợ, TCTD có quyền xử lí tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận và phù hợpvới quy định của pháp luật Đây thực chất là hình thức bảo đảm tín dụng, khi chovay áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo ra cơ sở kinh tế, pháp lí đểthu hồi được các khoản nợ đã cho vay

Dưới đây là một số hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản cụ thể:

- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp: là việc bên vay vốn thế chấp tàisản của mình cho bên cho vay để bảo đảm khả năng chi trả, hoàn trả vốn vay Thế

Trang 22

chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giátrị quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay.

+ Đối với thế chấp Bất động sản (BĐS): tất cả các BĐS thuộc sở hữu hợppháp của cá nhân hay tổ chức đều có thể sử dụng để thế chấp vay vốn của NHPT.Khi thế chấp thì hai bên, Ngân hàng và khách hàng phải có thỏa thuận với nhau vềviệc định giá tài sản thế chấp và kí kết hợp đồng thế chấp có sự chứng nhận hợppháp của Phòng công chứng

+ Đối với việc thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất: do đất đai ở nước tathuộc quyền sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lí và thực tế việc giaođất hoặc cho thuê đất đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang,

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ổn định lâu dài Trong các chủ thể đượcgiao đất và cho thuê đất thì chỉ có cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế mới

có thể đem quyền sử dụng đất để làm tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng

- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố: là việc bên đi vay giao tài sản làcác động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ trả nợ Động sản cầm cố có thể là loại không cần đăng kí quyền sở hữu hoặc loạicần đăng kí quyền sở hữu.Khi cầm cố, tài sản phải được giao nộp cho bên chovay.Đối với tài sản có đăng kí quyền sở hữu, khi cầm cố hai bên có thể thỏa thuận

để bên cầm cố giữ tài sản hoặc giao tài sản cầm cố cho bên thứ ba trông giữ

- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Tài sản hình thành

từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phầnhoặc toàn bộ khoản cho vay của TCTD Đây là hình thức mà khách hàng vay dùngtài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoảnvay đó đối với TCTD

Biện pháp cho vay bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay chỉ được ápdụng trong các trường hợp: (i) NHPT cho vay trung và dài hạn các dự án ĐTPT sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốnvay đáp ứng được các điều kiện: khách hàng vay có tín nhiệm cao, có khả năng tàichính để trả nợ, có dự án đầu tư khả thi, có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giátrị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư; (ii) Chính phủ, Thủtướng Chính phủ quyết định giao NHPT cho vay đối với khách hàng và đối tượngvay đặc biệt

- Cho vay bằng hình thức bảo lãnh: bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết vớibên cho vay (Người nhận bảo lãnh), sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay

Trang 23

(Người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiệnhoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Bảo lãnh có thể chia ra hai loại là:

+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: là việc bên thứ ba (bên bảo lãnh)cam kết với bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiệnnghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi vay không thựchiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ

+ Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội: là biện phápđảm bảo tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, theo đó

tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh cho bên đivay (Ví dụ ở Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam đã có văn bản gửi NHPT bảo lãnhbằng uy tín của Hội đề nghị NHPT cho các nông dân thành viên trong Hội nông dântỉnh Vĩnh Phúc vay vốn để chăn nuôi bò sữa)

b Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản:

Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không đượcbảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc của ngườithứ ba Để thực hiện cho vay theo hình thức này thì thông thường các bên chỉ cầngiao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, trong trường hợpTCTD cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản vay này không thể xem

là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh bằng tín chấp vẫn phảixác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho TCTD để kháchhàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay

Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nhìn chung là hình thức cho vaytương đối mạo hiểm của TCTD nên cần tuân thủ các điều kiện về vay vốn như sau:

+ Thứ nhất, luật pháp các nước đều quy định rằng TCTD chỉ được cho vayđối với những khách hàng có đủ năng lực chủ thể, nghĩa là có đủ năng lực pháp luật

Trang 24

* Ý nghĩa pháp lý:

- Phân loại cho vay thành cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảmgiúp cho nhà làm luật có cơ sở để điều chỉnh giảm tính rủi ro trong hoạt động chovay của TCTD theo hướng hạn chế các trường hợp được vay vốn không có bảo đảmbằng tài sản Giảm các trường hợp tranh chấp trong hoạt động cấp tín dụng nóichung và trong hoạt động cho vay của các ngân hàng nói riêng

- Người cho vay có thể kiểm soát được các khoản cho vay một cách chặt chẽhơn thông qua các tài sản bảo đảm, và giảm sự rủi ro xuống mức tối thiểu, bảo đảm

sự thu hồi lại đối với khoản vay đã cho bên cho vay vay

1.1.2.3 Phân loại theo tiêu chí mục tiêu cho vay của NHPT:

Dựa vào mục tiêu cho vay của NHPT, có thể chia ra ba loại đó là cho vaythông thường, cho vay chính sách và cho vay đặc biệt

- Cho vay thông thường: Đây là loại cho vay của NHPT đơn thuần vì mụctiêu kinh doanh NHPT đánh giá và quyết định cho vay dựa trên các quy định củapháp luật và mục đích lợi nhuận của bản thân mình

- Cho vay chính sách: Đây là loại cho vay nhằm thực hiện các chính sáchkinh tế xã hội của Nhà nước như chống suy giảm kinh tế, hỗ trợ các nhóm đối tượngđặc biệt… Cho vay chính sách thường áp dụng cho một nhóm chủ thể vay đủ điềukiện nhất định theo quy định của pháp luật, đồng thời có khuynh hướng ưu đãi vềthời hạn vay, những biện pháp bảo đảm

- Cho vay đặc biệt: Đây là loại cho vay theo chỉ định của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền trong giai đoạn cấp bách (Ví dụ: Theo Quyết định số TTg được Thủ tướng Chính phủ ký ngày 24/12/2010, Vinashin và Vinalines đượcvay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam để trả nợ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho ngườilao động Mức vay tối đa bằng số kinh phí trả nợ tiền lương, nợ bảo hiểm và trợ cấptính đến ngày 31/10/2010 và thời kỳ tiếp theo đến hết ngày 31/12/2010)

87/2010/QĐ-* Ý nghĩa pháp lý:

- Đây là tiêu chí giúp cho Nhà nước xây dựng được các quy chế riêng biệttrong hoạt động cho vay đối với các đối tượng chính sách xã hội và các đối tượngđặc biệt khác

- Theo tiêu chí này thì một số đối tượng được cho vay sẽ được hưởng nhữngchính sách ưu đãi như ưu đãi về thời hạn vay, những biện pháp bảo đảm…

1.1.2.4 Phân loại theo số lượng bên cho vay:

Trang 25

Dựa vào số lượng bên cho vay, được chia ra hai loại hoạt động cho vay củaNHPT là cho vay đơn nhất và cho vay hợp vốn (hay còn gọi là đồng tài trợ).

- Cho vay đơn nhất: Là loại cho vay mà bên cho vay chỉ là một tổ chức tíndụng duy nhất đó là NHPT Trong quan hệ cho vay đơn nhất thì chỉ cần hợp đồngtín dụng giữa NHPT và bên vay để thực hiện việc cho vay

- Cho vay hợp vốn: Là loại cho vay mà bên cho vay gồm nhiều TCTD vàNHPT cùng hợp vốn để cho khách hàng vay Việc cho vay hợp vốn thường được ápdụng trong các trường hợp: (i) Nhu cầu vay vốn để thực hiện một dự án vượt quágiới hạn cho vay của một TCTD theo quy định của pháp luật; (ii) Nhu cầu phân tánrủi ro của các TCTD khi quyết định cho vay; (iii) Khả năng nguồn vốn của mộtTCTD không đáp ứng đủ nhu cầu vốn DA

Trong quan hệ cho vay hợp vốn luôn có hai hợp đồng là hợp đồng đồng tàitrợ và hợp đồng tín dụng.Hợp đồng đồng tài trợ là thỏa thuận giữa các TCTD vềviệc cùng cho vay đối với bên vay.Bên đồng tài trợ bao gồm hai thành viên trở lên,mỗi thành viên là một TCTD hoặc chi nhánh của một TCTD được Tổng giám đốc(Giám đốc) của TCTD ủy quyền Những nội dung cơ bản trong hợp đồng đồng tàitrợ là số tiền đồng tài trợ, số tiền cho vay của từng TCTD, nguyên tắc nhận tiền,hoàn trả và phân chia lãi vay, cũng như thỏa thuận về TCTD đầu mối Khi thực hiệnđồng tài trợ, các thành viên tài trợ phải tự chọn ra một TCTD đầu mối.TCTD đầumối đó có thể là TCTD hoặc Chi nhánh TCTD mà DN có nhu cầu vay vốn hoặc xinbảo lãnh mở tài khoản thanh toán Sở dĩ pháp luật quy định như trên là nhằm tạođiều kiện cho TCTD có thể kiểm tra và giám sát được bên vay vốn thông qua số dưtrên tài khoản hoặc có thể kiểm tra trên thực tế quá trình sử dụng vốn vay của doanhnghiệp được đồng tài trợ cho vay Theo quy định tại quy chế đồng tài trợ của cácTCTD thì mọi quan hệ tín dụng, bảo lãnh giữa bên đồng tài trợ với bên nhận tài trợđều thông qua TCTD đầu mối.Quy định này nhằm mục đích xác định trách nhiệmcủa TCTD đầu mối trong quan hệ đồng tài trợ

* Ý nghĩa pháp lý: Việc phân loại hoạt động cho vay theo tiêu chí số lượngbên cho vay giúp cho việc lựa chọn áp dụng các quy định pháp luật phù hợp để giảiquyết quyền lợi của các bên trong quan hệ tín dụng được thuận lợi và nhanh chónghơn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các bên

1.1.2.5 Phân loại theo các căn cứ khác:

Ngoài các tiêu chí phân loại trên, hiện nay thực tế hoạt động cho vay củaNgân hàng phát triển còn được phân loại rất đa dạng, chẳng hạn như căn cứ vào

Trang 26

ngành sản xuất: ngành điện (nhà máy thủy điện, năng lượng điện gió, năng lượngđiện mặt trời); ngành xi măng; ngành phân bón; ngành dệt may…; căn cứ vào cáclĩnh vực ưu tiên: công nghệ thông tin, y tế, giáo dục…

1.1.3 Nguyên tắc và tổ chức cho vay ĐTPT qua Ngân hàng phát triển

1.1.3.1 Nguyên tắc cho vay ĐTPT qua NHPT:

a Cho vay ĐTPT qua NHPT phải hướng tới hiệu quả kinh tế-xã hội:

Đặc trưng của hoạt động kinh tế của Nhà nước là theo đuổi các mục tiêu kinhtế-xã hội và cho vay ĐTPT qua NHPT là công cụ để thực hiện các mục tiêu đó

Theo đuổi mục tiêu thúc đẩy phát triển KT-XH trên hai giác độ là mở rộngvốn đầu tư xã hội và tăng hiệu quả chung cho nền kinh tế Cho vay ĐTPT quaNHPT là cách bổ sung thêm vốn Nhà nước để thực hiện dự án phát triển cần khuyếnkhích đầu tư, hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vựckinh tế kém phát triển, những ngành/lĩnh vực cần phát triển làm bệ phóng cho nềnkinh tế nói chung… Nhưng tăng trưởng và phát triển KT-XH không chỉ phụ thuộcvào quy mô vốn dành cho ĐTPT nhiều hay ít mà quan trọng hơn phụ thuộc vào hiệuquả sử dụng lượng vốn đầu tư này như thế nào Nếu dự án sử dụng vốn cho vayĐTPT qua NHPT mà có chất lượng kém, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được,doanh nghiệp hoạt động thua lỗ… sẽ dẫn đến không có khả năng hoàn trả vốn vayĐTPT của Nhà nước, tức là hoạt động cho vay ĐTPT qua NHPT không có hiệu quả

và ngược lại Vì vậy cho vay ĐTPT qua NHPT được xem là có hiệu quả chỉ khi nócho vay các dự án hiệu quả Hơn nữa, hiệu quả mà cho vay ĐTPT qua NHPT hướngđến không chỉ được xem xét ở hiệu quả cá biệt từng dự án mà phải được xem xéttrên bình diện nền kinh tế quốc dân Đối với nền kinh tế, hiệu quả cho vay ĐTPTqua NHPT là khoản tín dụng đó phải có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển củađất nước Nâng cao hiệu cho vay ĐTPT qua NHPT là việc NHPT cùng các đốitượng khác trong quan hệ tín dụng và các cơ quan chức năng chủ động tìm ra cácgiải pháp để hạn chế tới mức thấp nhất nợ quá hạn phát sinh và bảo toàn đượcnguồn vốn cho NHPT, đồng thời hỗ trợ khách hàng vay có vốn sản xuất kinh doanh,

sử dụng vốn vay có hiệu quả, có lợi nhuận càng cao càng tốt và thành quả của các

dự án đó chính là hiệu quả kinh tế-xã hội.Như vậy, áp dụng nguyên tắc hiệu quảtrong hoạt động cho vay ĐTPT qua NHPT là hoạt động cho vay phải hướng tới mộttập hợp các lợi ích mang lại cho nền kinh tế và các chủ thể tham gia, bao hàm cảtrên phương diện vĩ mô và vi mô đó là cả hiệu quả đối với tổ chức thực thi cho vayĐTPT, khách hàng vay và nền kinh tế-xã hội

Trang 27

b Cho vay ĐTPT qua NHPT phải đúng đối tượng TDĐT của Nhà nước:

Đối tượng của cho vay ĐTPT qua NHPT có thể một bộ phận dân cư, ngành,lĩnh vực kinh tế, hoặc những chương trình kinh tế lớn có hiệu quả KT-XH, có khảnăng hoàn trả vốn vay Do vậy tùy theo từng ngành/mặt hàng cần khuyến khích hỗtrợ mà Nhà nước quy định đối tượng ưu tiên trong từng thời kỳ, từng năm Điều nàythể hiện một quan điểm rất rõ ràng của Nhà nước là: do nguồn lực tài chính có hạnNhà nước không thể hỗ trợ cho tất cả các ngành/mặt hàng, nên chỉ nhằm hỗ trợ vàomột số ngành/mặt hàng mới có tác động liên kết thúc đẩy thị trường phát triển hoặcnhững ngành/mặt hàng để duy trì các thị trường truyền thống Mặc khác, mục đíchcủa Nhà nước hỗ trợ nhằm giúp cho các ngành trọng điểm/mặt hàng ưu tiên nhanhchóng đứng vững trên thị trường trong nước, và đủ sức cạnh tranh khi bước vào hộinhập hợp tác thương mại quốc tế

Ví dụ ở Việt Nam, từ năm 2011 thì Ngân hàng Phát triển Việt Nam chỉ đượccho vay các đối tượng được Nhà nước quy định trong Nghị định số 75/2011/NĐ-CPngày 30/08/2011 về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Theo đó,đối tượng trong lĩnh vực y tế được quy định tại khoản I về kết cấu hạ tầng kinh tế-

xã hội là “Dự án đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong

lĩnh vực xã hội hóa: giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường thuộc Danh mục hưởng chính sách khuyến khích phát triển theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ”, với giới hạn quy mô Nhóm A, B.

Tuy nhiên đến thời điểm này với mục tiêu phát triển kinh tế có sự thay đổinên Chính phủ đã điều chỉnh đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước chophù hợp với thực tế phát triển của quốc gia Theo đó, đối tượng cho vay là chủ đầu

tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư được banhành kèm theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/03/2017 về tín dụng đầu tưcủa Nhà nước Tại khoản I về kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đối tượng trong lĩnh

vực y tế bị hạn chế hơn như “Dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng bệnh viện công”, với giới hạn quy mô Nhóm A, B và C (xem phụ lục 02)

c Cho vay ĐTPT qua NHPT phải đảm bảo hiệu quả, đúng mục đích và tiết kiệm:

Như mọi tổ chức kinh tế khác, NHPT phải hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn

có chất lượng cao và chi phí thấp Vì vậy, khi triển khai cho vay ĐTPT của Nhànước, ngoài việc phải đảm bảo thủ tục trình tự đầu tư phù hợp với quy định củapháp luật còn phải được tổ chức theo hướng cải cách thủ tục, tinh gọn biên chế,nâng cao chất lượng kiểm soát việc sử dụng vốn cho vay, thu hồi đủ vốn và chi phí

Trang 28

thực hiện cho vay thấp nhất sao cho nguồn vốn “tín dụng ĐTPT của Nhà nước”được sử dụng hiệu quả nhất Muốn vậy, bản thân NHPT phải có cơ cấu hợp lý mangtính chuyên nghiệp của một TCTD, vừa phải có các bộ phận chức năng phù hợp vớimột tổ chức của Nhà nước.

Mặt khác, khách hàngvay vốn TDĐT của Nhà nướcqua NHPT phải sử dụngvốn vay đúng mục đích, thực hiện đầy đủ các cam kết đúng thời hạn trong HĐTD

đã ký và các quy định của pháp luật Ngoài ra, để đảm bảo “tín dụng ĐTPT của Nhànước” được thực hiện đúng mục tiêu đề ra, NHPT còn phải chịu sự quản lý củaChính phủ và các Bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ

d Huy động và sử dụng vốn theo quy định của Nhà nước:

Vốn cho vay theo chính sách của Nhà nước thường có lãi suất ưu đãi nênnguồn vốn huy động cũng phải có lãi suất thấp hoặc phải được Nhà nước bù đắpchênh lệch lãi suất Vì NSNN không nhiều nên Chính phủ phải kiểm soát chặt tổngkhối lượng vốn có thể đem cho vay cũng như tổng lượng bù chênh lệch lãi suất Do

đó, ngoài vốn Nhà nước cấp, vốn viện trợ, ủy thác, khối lượng vốn huy động vàhình thức huy động của NHPT phải được Nhà nước phê chuẩn

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện cho vay ĐTPT qua NHPT:

a Xác định nguồn vốn cho vay ĐTPT:

NHPT được sử dụng nguồn vốn hợp pháp gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huyđộng trong và ngoài nước, vốn NSNN cấp và các nguồn vốn hợp pháp khác để thựchiện chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nướctheo quy định của pháp luật

- Vốn điều lệ: Vốn điều lệ của Ngân hàng phát triển khi thành lập sẽ đượcNSNN cấp NHPT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; được NSNN cấp bùchênh lệch lãi suất và phí quản lý, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán,được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước

- Vốn NSNN cấp cho các Chương trình, mục tiêu của Chính phủ: Nguồn vốnnày có ưu thế ổn định được kế hoạch hóa chặt chẽ nhưng việc giải ngân không phụthuộc vào khả năng chi trả theo thời điểm của NSNN, mà còn phụ thuộc vào tiến độtriển khai thực hiện Chương trình của đối tượng vay vốn Hơn nữa, nguồn vốn nàychỉ được cho vay theo mục đích hẹp của Chính phủ

- Vốn huy động trong nước và ngoài nước: Chính phủ cho phép NHPT đượcphát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu NHPT, kỳ phiếu,chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn phục vụ cho hoạt động của mình

Trang 29

- Vốn vay hợp pháp khác: NHPT có thể vay vốn tại các TCTD khác cũngnhư vay vốn của các tổ chức Nhà nước với khối lượng vay hạn chế có kiểm soát.

b Điều kiện cho vay ĐTPT qua NHPT:

Đối tượng cho vay ĐTPT qua NHPT là khách hàng có dự án đầu tư thuộcdanh mục các dự án được vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nướcphù hợp với mụctiêu phát triển KT-XH quy định theo từng thời kỳ; Dự án vay vốn “tín dụng TDĐTcủa Nhà nước” phải là các dự án được NHPT thẩm định và đánh giá là có hiệu quả,đảm bảo trả nợ đầy đủ cả nợ gốc và nợ lãi

Để được vay vốn “tín dụng ĐTPT của Nhà nước”, khách hàng phải đáp ứngđầy đủ các điều kiện: Thuộc đối tượng cho vay; có đầy đủ năng lực pháp luật vàthực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định; dự án đầu tư xin vay vốn được NHPTthẩm định, đánh giá là dự án có hiệu quả, có khả năng trả được nợ vay; có vốn chủ

sở hữu tham gia trong quá trình thực hiện dự án tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư dự

án, mức cụ thể do NHPT xem xét, quyết định phù hợp với khả năng tài chính củachủ đầu tư và phương án trả nợ của dự án, trừ trường hợp các dự án đặc biệt do Thủtướng Chính phủ quyết định; thực hiện bảo đảm tiền vay theo các quy định củapháp luật; khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng tại thời điểm NHPTxem xét cho vay, giải ngân vốn vay; mua bảo hiểm tài sản tại một doanh nghiệp bảohiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản bảo đảm tiền vay; khách hàngthực hiện chế độ hạch toán kế toán, báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài chínhhàng năm theo quy định của pháp luật

c Mức vốn cho vay và thời hạn cho vay: [5]

- Mức vốn cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tối đa đối với mỗi dự ánkhoảng 70%-80% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động).NHPT quyết định mức vốn cho vay đối với từng dự án đầu tư trên cơ sở kết quảthẩm định dự án và đảm bảo giới hạn tín dụng theo quy định của Nhà nước

- Thời hạn cho vay được xác định theo khả năng thu hồi vốn của dự án vàkhả năng trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của dự

án nhưng không quá 12 năm Riêng các dự án đầu tư thuộc nhóm A thời hạn chovay vốn tối đa là 15 năm Ngân hàng phát triển quyết định thời hạn cho vay đối vớitừng dự án trên cơ sở kết quả thẩm định dự án và phù hợp với quy định pháp luật

d Lãi suất cho vay: [5]

Vấn đề lãi suất cơ bản tùy theo từng thể chế, từng đất nước được quy địnhphù hợp với việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia đó

Trang 30

Ví dụ ở Việt Nam, “Lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng mứclãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu Ngân hàngPhát triển Việt Nam được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 05 năm trong thời gian 01năm trước thời điểm công bố lãi suất theo quy định tại Nghị định này cộng (+) tỷ lệchi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.Định kỳ vào ngày cuối cùng của quý, căn cứ nguyên tắc xác định lãi suất quy địnhtrên, Ngân hàng Phát triển Việt Nam xác định và công bố mức lãi suất cho vay tíndụng đầu tư của Nhà nước”.

e Thẩm định dự án đầu tư và lập hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng phát triển chỉ cho vay sau khi đã thẩm định kỹ dự án đầu tư vànăng lực của chủ đầu tư theo đúng nghiệp vụ chuyên môn Thậm chí Ngân hàngphát triển còn có thể thẩm định lại khi dự án có thay đổi so với quyết định đầu tưban đầu đã được phê duyệt hoặc dự án chậm triển khai quá 12 tháng kể từ khi thẩmđịnh xong lần đầu Sau khi thẩm định đánh giá là dự án có hiệu quả, có khả năng trảđược nợ vay và chủ đầu tư đủ điều kiện cho vay thì Tổng Giám đốc ra quyết địnhcho vay, gửi thông báo cho chủ đầu tư về mức vốn cho vay, đồng tiền cho vay và trả

nợ, lãi suất vay, mục đích vay, thời gian sử dụng vốn vay… Nhận được thông báocho vay, chủ đầu tư hoặc đại diện pháp lý ký hợp đồng tín dụng với NHPT.Tiếp theoNHPT sẽ thông báo kế hoạch giải ngân cho dự án trên cơ sở đề nghị của chủ đầu tưthông quá các Chi nhánh NHPT tại địa bàn dự án, tiến độ thực hiện dự án và khảnăng cân đối nguồn của NHPT NHPT có trách nhiệm giải ngân theo cam kết vàthực hiện giám sát sử dụng vốn vay đúng mục đích; thu nợ, quản lý tài sản đảm bảo,tuân thủ các quy định của pháp luật về cho vay của TCTD

1.2 Cho vay và hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh viện tạiNHPT

1.2.1 Đặc điểm của các dự án đầu tư phát triển bệnh viện ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHPT

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốcgia, là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực laođộng và trí tuệ… để tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở hạ tầng, mua sắmthiết bị và lắp đặt chúng, đào tạo bồi dưỡng nguồn lực lao động, thực hiện chi phíthường xuyên gắn liền với việc sử dụng các tài sản này nhằm phát triển động lựcmới cho nền KT-XH, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống con ngườitrong xã hội

Hoạt động đầu tư phát triển các dự án bệnh viện có các đặc điểm khác biệtảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHPT, đó là:

Trang 31

- Đòi hỏi vốn lớn trong thời gian dài: Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một

số lượng vốn lao động, vật tư lớn Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quátrình đầu tư xây dựng, quá trình hoàn thiện lắp đặt trang thiết bị y tế quá dài Vìvậy trong quá trình đầu tư phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn mộtcách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợpđảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực

- Thời gian dài với nhiều biến động: Thời gian tiến hành công cuộc đầu tư dự

án bệnh viện cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiềunăm tháng với nhiều biến động xảy ra Nhiều dự án đã hoàn thành nhưng vẫn chưa

có đầy đủ nhân lực để làm việc và nhiều thiết bị y tế lắp đặt xong không có người

sử dụng được

- Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của quá trình đầu tư phát triển các

dự án bệnh viện có giá trị sử dụng lâu dài, chăm lo được sức khỏe của toàn dân vàđiều đó sẽ giúp hoàn thành mục tiêu hiệu quả cho vay đối với các dự án bệnh việntrong xã hội cũng như hiệu quả cho vay của NHPT nói riêng

- Liên quan đến nhiều đơn vị các cấp: Hoạt động đầu tư phát triển các dự ánbệnh viện rất phức tạp liên quan đến nhiều đơn vị, các cấp Việc xây dựng một dự

án bệnh viện diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà có thể nhiều địaphương với nhau (Ví dụ tại Việt Nam, xây dựng cơ sở 2 của Bệnh viện Việt Đức vàBệnh viện Bạch Mai tại tỉnh Hà Nam có ý kiến làm việc liên quan giữa Bộ Y tế,UBND thành phố Hà Nội và UBND tỉnh Hà Nam để bố trí địa điểm xây dựng hợp

lý tạo điều kiện thuận lợi để khai thác lợi thế của vùng, của địa phương) Vì vậy khitiến hành hoạt động ĐTPT các dự án bệnh viện, cần phải có sự liên kết chặt chẽgiữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình quy hoạch đầu tư, phải phù hợp vớiquy hoạch tổng thể kinh tế vùng

1.2.2 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại Ngân hàng phát triển

1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả:

Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả vàchi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.Hiệu quả có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ

khác nhau Theo các nhà kinh tế học, “Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư biểu hiện mối

quan hệ so sánh giữa các lợi ích thu được, bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội với khối lượng vốn đầu tư bỏ ra”.

Trang 32

- Lợi ích kinh tế của vốn đầu tư: biểu hiện mức độ hoàn thành các mục tiêukinh tế đã đặt ra nhằm đem lại lợi ích cho người bỏ vốn cũng như thỏa mãn nhu cầuvật chất của xã hội Do đó, nó thể hiện cụ thể thay đổi về khối lượng, chất lượng và

cơ cấu sản phẩm đồng thời biểu hiện sự thay đổi cán cân thương mại, mức lợi nhuậnthu được và chi phí sản xuất bỏ ra

- Lợi ích xã hội của vốn đầu tư: thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu khácnhư: sự thay đổi về môi trường sống, điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe, giáodục, đào tạo, văn hóa thể thao và các mục tiêu chính trị, an ninh quốc phòng và bảo

vệ sinh thái…

1.2.2.2 Hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại NHPT:

Hoạt động cho vay các dự án đầu tư trong lĩnh vực y tế: mở rộng, nâng cấp,đầu tư thiết bị, xây dựng mới bệnh viện cũng ngày được quan tâm với việc Chínhphủ đặt ra mục tiêu quan trọng là thúc đẩy đầu tư phát triển cơ sở khám, chữa bệnh,giảm quá tải bệnh viện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị củangười dân Nhưng tăng trưởng và phát triển KT-XH không chỉ phụ thuộc vào quy

mô vốn dành cho các dự án bệnh viện nhiều hay ít mà quan trọng hơn phụ thuộcvào hiệu quả sử dụng lượng vốn đầu tư này Nếu dự án bệnh viện sử dụng vốn vayĐTPT của Nhà nước có chất lượng kém, hoạt động thua lỗ sẽ dẫn đến không cóthể hoàn trả nợ vay, tức là hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước không có hiệuquả và ngược lại Do vậy hiệu quả cho vay ĐTPT của Nhà nước không thể tách rờihiệu quả SXKD của doanh nghiệp Nói một cách khác, việc đánh giá hiệu quả chovay các dự án bệnh viện của NHPT không thể bỏ qua sự đánh giá về hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các dự án/chủ đầu tư và cũng được xem xét thêm khíacạnh về hiệu quả kinh tế-xã hội của vốn “tín dụng ĐTPT của Nhà nước” bỏ ra

+ Đối với các doanh nghiệp/các bệnh viện có vay vốn ĐTPT của Nhà nước,hiệu quả có thể được xem xét qua các chỉ tiêu định tính, định lượng về kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của dự án

+ Đối với tổ chức tài trợ: chính là khả năng huy động các nguồn lực đáp ứngnhu cầu cho vay ĐTPT của Nhà nước, quản lý vốn an toàn, tiết kiệm, khả năng tựcân đối tài chính (hạn chế tối đa sự bao cấp từ NSNN), giảm thiểu các rủi ro và bảođảm an toàn vốn, hỗ trợ tốt cho các dự án theo mục tiêu đề ra

- Hiệu quả kinh tế: biểu hiện ở mức độ hoàn thành các mục tiêu kinh tế củavốn ĐTPT nhằm chủ yếu thỏa mãn nhu cầu vật chất của xã hội Nó là tỷ số giữa kếtquả thu được với chi phí đầu tư bỏ ra được biểu hiện cụ thể ở: sự thay đổi khối

Trang 33

lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm, ở sự thay đổi cán cân thương mại, mức lợinhuận thu được, sự thay đổi chi phí sản xuất Hiệu quả kinh tế có thể được đo lườngmột cách định tính hoặc định lượng, thông qua hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả.

- Hiệu quả xã hội: thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu xã hội Nhìn chung,các lợi ích xã hội do hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước khó có thể lượng hóađược mà chủ yếu được đánh giá một cách định tính, bao gồm các nội dung chủ yếunhư: Tạo việc làm; đảm bảo về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường; Góp phầncủng cố an ninh quốc phòng, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; Góp phần phát triểnkinh tế-văn hóa đồng đều giữa các vùng; Góp phần nâng cao sức khỏe toàn dân vàxây dựng lối sống văn minh

Như vậy, hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại NHPT là tập hợp các lợiích mang lại cho nền kinh tế và các chủ thể tham gia, bao hàm cả khía cạnh kinh tế

và xã hội xét trên phương diện vĩ mô và vi mô Khi đánh giá hiệu quả cho vay các

dự án bệnh viện tại NHPT, cần xem xét phù hợp các góc độ trên và không được bỏqua hay xem nhẹ sự đánh giá nào Mặc dù mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội luôn làđiều kiện thường trực và yêu cầu cấp bách trong mọi thời kỳ nhưng cũng khôngđược bỏ qua các mục tiêu xã hội cao cả nhằm nâng cao mức sống của người dân,xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, tạo việc làm, bảo vệ hệ sinh thái, đáp ứngđược nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn dân

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay dự án bệnh viện tại Ngân hàng phát triển

Xuất phát từ đặc điểm của đầu tư phát triển và mục đích hoạt động đầu tưphát triển của NHPT, việc phân tích đánh giá hiệu quả cho vay các dự án bệnh việnđược thực hiện thông qua các chỉ tiêu sau:

1.2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả cho vay các dự án bệnh viện:

Cho vay để xây dựng các dự án bệnh viện được đánh giá là hiệu quả khi nómang lại thu nhập đủ để trang trải cho các chi phí liên quan và có lãi mà kết quả cụthể cho NHPT là khoản vay đó được sử dụng đúng mục đích và việc hoàn trả nợgốc và lãi đúng hạn

- Chỉ tiêu thu gốc và thu lãi các dự án bệnh viện:

+ Thu gốc các dự án bệnh viện: Do các khoản tín dụng đầu tư tại NHPTthường lớn và có thời hạn cho vay dài, cần phải theo dõi sát sao việc thu hồi nợ gốc

Nợ gốc các dự án bệnh viện thu càng đủ và đúng hạn thể hiện hiệu quả hoạt độngcho vay các dự án bệnh viện càng tốt

Trang 34

+ Thu lãi các dự án bệnh viện: Khoản thu từ lãi cần đúng và đủ về số lượng

và thời điểm thì khoản cho vay đó mới được coi là có kết quả tốt Cần theo dõi sốlãi thu thực tế, số thực tế so với kế hoạch (HĐTD cam kết hai bên), những khoảnthu lãi đến hạn chưa trả (lãi treo)

- Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn vay:

Tổng dư nợ cho vay các dự án bệnh viện

H = - x 100%

Tổng nguồn vốn huy động cho vay ĐTPTChỉ tiêu này phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vaycác dự án bệnh viện của NHPT, nó cho ta biết một đồng vốn huy động cho vayĐTPT thì được bao nhiêu đồng sử dụng để cho vay các dự án bệnh viện từ đó cócác giải pháp cơ cấu nguồn vốn cho vay theo ngành nghề đảm bảo an toàn về vốn

- Chỉ tiêu tỉ lệ dư nợ cho vay các dự án bệnh viện:

Dư nợ cho vay các dự án bệnh viện

- Chỉ tiêu số vòng quay vốn các dự án bệnh viện:

Tổng doanh số thu nợ các dự án bệnh viện trong kỳ

Số vòng quay vốn =

-Dư nợ bình quân cho vay dự án bệnh viện trong kỳChỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn nhanh hay chậm của việc cho vaycác dự án bệnh viện trong kỳ Thông thường vòng quay càng lớn thể hiện việc thuhồi nợ càng tốt và ngược lại

- Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn trong cho vay các dự án bệnh viện:

Nợ quá hạn của các dự án bệnh viện

Tỉ lệ nợ quá hạn = - x 100%

Tổng dư nợ cho vay các dự án bệnh việnĐây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả cho vay các dự án bệnh việncủa Ngân hàng phát triển Chỉ tiêu này cho biết tỉ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợcho vay các dự án bệnh viện trong kỳ Tỉ lệ này càng thấp chứng tỏ sử dụng nguồn

Trang 35

vốn có hiệu quả Chỉ tiêu này được đánh giá cả về số tuyệt đối và tương đối thì mới

có thể kết luận chính xác về hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện

1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện:

Lợi ích của dự án cho vay là đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội củavùng của ngành, địa phương và của cả nước Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cảnhà đầu tư và ngân hàng cùng đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh củamình Nó được biểu hiện ở việc nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ củakhách hàng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dâncư” Tuy nhiên đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh nhưng đồng thời lại thu hẹp công ăn việc làm của người lao động; hoặcnhững dự án hiệu quả hiện tại và tương lai không cao nhưng lại có ý nghĩa về mặt

xã hội thì để đánh giá chính xác hiệu quả cho vay của dự án cần phải cân nhắc kỹlưỡng nhiều mặt liên quan

a Hiệu quả đối với Ngân hàng phát triển:

Một yêu cầu đối với hiệu quả hoạt động cho vay của NHPT là phải đảm bảo

bù đắp phí huy động vốn và phí cho vay, góp phần giảm phí tín dụng

- Chỉ tiêu tỷ lệ giữa lợi ích và chi phí:

Đây là chỉ tiêu so sánh giữa lợi ích thu được (Benefit-B) và chi phí bỏ ra(Cost-C) của dự án Chỉ tiêu này cho biết lợi ích thu được trên một đồng vốn bỏ ra

Vì vậy, nếu hệ số B/C >= 1 thì dự án có thể chấp thuận

- Chỉ tiêu lợi ích ròng trên tổng vốn đầu tư:

Được xác định bằng lợi nhuận ròng chia cho tổng vốn đầu tư Đây là thước

đo khả năng sinh lời của vốn đầu tư, là chỉ tiêu quan trọng để xác định hiệu quả sửdụng vốn đầu tư Mặt khác,để huy động được nhiều nguồn vốn phù hợp với chi phíthấp, NHPT cũng phải nâng cao chất lượng hoạt động của mình thông qua việc hạnchế rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro thất thoát tài chính có thể phát sinh khi một bênđối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng, baogồm cả việc không thực hiên thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay lãi khi khoản

nợ đến hạn, tức là có thể trễ hẹn (sai hẹn) hoặc không thực hiện thanh toán Rủi ronày không chỉ gồm tác động tiềm tàng của bên đối tác đó bị đổ vỡ hoàn toàn mà cả

sự đổ vỡ một phần khi bên đối tác đó không thanh toán một hoặc một vài khoản nợđúng hạn [9] Do hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tập trung chủ yếu vào chovay đầu tư nên rủi ro tín dụng cần được đặc biệt quan tâm Rủi ro tín dụng là loại

Trang 36

rủi ro có thể đoán biết và lường trước được với các giá trị tổn thất trực tiếp nằmchính ở các dự án, các khoản vay được nhìn nhận, đánh giá là có vấn đề, nợ xấu

b Hiệu quả đối với khách hàng vay-các bệnh viện:

Để xem xét hiệu quả đối với khách hàng vay/các bệnh viện có sử dụng vốntín dụng ĐTPT của Nhà nước, phương pháp tốt nhất là đánh giá hiệu quả cuối cùngsau một số chu kỳ hoạt động kinh doanh nhất định

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả các bệnh viện đó làmức tăng công suất khám chữa bệnh từ việc thực hiện dự án xây dựng bệnh viện,mức tăng khả năng cung cấp giường bệnh điều trị nội trú, mức tăng các thiết bị y tếcông nghệ cao… Đó là tiền đề để các bệnh viện thực hiện đúng cam kết trả nợ chongân hàng đồng thời bản thân các bệnh viện có lợi nhuận, đóng góp vào sự pháttriển chung của nền kinh tế

c Hiệu quả đối với xã hội:

Ở góc độ kinh tế xã hội, hiệu quả mà các dự án bệnh viện thể hiện đó là:+ Bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái là một yêu cầu quantrọng đối với phát triển bền vững; do vậy, hiệu quả đầu tư các dự án bệnh viện cầnđược đánh giá về phương diện này

+ Nâng cao mức sống và chăm lo sức khỏe của toàn dân: Được thể hiện giántiếp thông qua số liệu cụ thể về mức gia tăng chỉ số sức khỏe quốc gia, mức gia tăngthu nhập, tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững

+ Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện qua sự đóng góp củacông cuộc đầu tư các dự án bệnh viện vào việc phát triển các vùng kinh tế kém pháttriển và đẩy mạnh công bằng xã hội

+ Tạo việc làm cho người lao động và đặc biệt là sự nâng cao tay nghề y củanhóm các nhân viên trong bệnh viện từ các dự án bệnh viện của NHPT, góp phầnnâng cao mức sống của người dân

Tóm lại, chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện tại NHPTrất khó xác định Các chỉ tiêu trên là những căn cứ để đánh giá hiệu quả cho vay dự

án bệnh viện một cách khái quát Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựavào một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến ngân hàng,doanh nghiệp và ngành y tế của quốc gia Còn về vấn đề liên quan đến nền kinh tếthì rất khó có thể đo lường tác động cụ thể của từng chủ thể riêng biệt đến sự pháttriển chung nên trong luận văn chủ yếu sử dụng so sánh để xem xét

Trang 37

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay các dự án bệnh viện qua Ngân hàng Phát triển

1.3.1 Các yếu tố thuộc về Ngân hàng phát triển

1.3.1.1 Tổ chức bộ máy và qui trình nghiệp vụ:

Hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước có triển khai được thuận lợi vàthành công hay không phụ thuộc rất lớn vào đơn vị thực thi, các thủ tục hành chính

và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc biệt quan trọng là các quy trình nghiệp vụ

Ngân hàng với một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ bảo đảm được sự phối hợpchặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, giữa phòng tín dụng và các phòngban khác trong ngân hàng, giữa các Chi nhánh trong hệ thống với nhau cũng nhưcác cơ quan khác có liên quan bảo đảm cho hoạt động từng bộ phận trong quá trìnhthực hiện từ thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi vốn Tổ chức bộmáy và quy trình quản lý tín dụng phù hợp sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tíndụng, hạn chế tình trạng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong tín dụng

Tổ chức quản lý tín dụng chủ yếu gồm: Bộ máy quản lý, hệ thống thông tin,chiến lược, chính sách tín dụng và quy trình thực hiện Trong đó, vấn đề thông tin

và thông tin chất lượng là một yếu tố quan trọng Nếu có thông tin đầy đủ kịp thời,chính xác sẽ giúp NHPT thẩm định cho vay đưa ra các quyết định đúng mang lạihiệu quả cho bản thân khách hàng vay, qua đó nâng cao hiệu quả tín dụng cho cảNHPT góp phần phát triển kinh tế Do đó, công tác thẩm định cho vay đòi hỏi phải

có được thông tin chính xác đầy đủ và kịp thời về nhiều khía cạnh khác như: Mụctiêu chiến lược phát triển KT-XH của đất nước, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng,chính sách và pháp luật của Nhà nước, các thông tin về kinh tế trong và ngoài nước,các thông tin về công nghệ khoa học trên thế giới…

Hệ thống thông tin phục vụ công tác thẩm định có nội dung thật cần thiết,càng chính xác về hoạt động SXKD, về tình hình tài chính của DN thì việc đánh giátính khả thi của dự án vay vốn càng chính xác hơn, qua đó có thể đưa ra nhữngquyết định cần thiết liên quan đến việc có cho vay hay không cho vay Các thông tin

có thể khai thác từ bản thân DN, từ thị trường, từ các cơ quan thông tin chuyênnghiệp, từ trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ chính kho dữ liệu của NHPT và có đượcqua tìm hiểu của cán bộ thẩm định

Việc phân công cán bộ và mức độ chuyên môn hoá cán bộ trong tổ chức bộmáy quản lý tín dụng, thẩm định có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng cho vay Có chuyên môn hoá sẽ có sự hiểu biết sâu hơn về lĩnh vực mà cần

Trang 38

cho vay đầu tư, xác định được khách hàng nào rủi ro, xác định được xu hướng củangành, phát hiện ngành nào có chiều hướng đi xuống để có biện pháp xử lý kịp thời.

Hầu hết các dự án nhận hỗ trợ từ NHPT là các dự án dài hạn có đặc điểm làvốn đưa vào các công trình xây dựng cơ bản (XDCB), thiết bị công nghệ nhiều, thuhồi vốn dần qua nhiều chu kỳ sản xuất, vì vậy, đề cao khả năng thẩm định chủ dự án

và thẩm định dự án có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế-tài chính của dự án mà đốivới sự phát triển an sinh của toàn xã hội

- Thẩm định năng lực vay vốn của chủ dự án (tức là DN) chính là đánh giánguồn tài chính, tình hình SXKD và bộ máy quản lý điều hành Thẩm định năng lựctrước khi cho vay sẽ loại trừ được sai lệch trong việc cung cấp thông tin của DN,năng lực vay vốn của DN, việc dự đoán tương lai hoạt động, khả năng sinh lời vàrủi ro càng chính xác, chất lượng tín dụng càng lớn, hiệu quả tín dụng càng cao

+ Giám sát và xử lý tín dụng: Giám sát tín dụng nhằm đảm bảo chất lượngtín dụng như ban đầu dự đoán, hạn chế xảy ra tình trạng rủi ro đạo đức trong quan

hệ tín dụng Quá trình giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo: Tiềnvay được sử dụng đúng mục đích và theo đúng tiến độ; Các thủ tục về đầu tư và xâydựng được thực hiện theo đúng qui định; Quá trình đưa tài sản vào sử dụng, quátrình thực hiện dự án phải đảm bảo đúng như dự án khả thi và có hiệu quả; Quátrình hoàn vốn và trả nợ tiền vay cũng phù hợp với kế hoạch; Giám sát tài sản bảođảm nợ vay để xử lý kịp thời

+ Các yếu tố quyết định năng lực thẩm định, giám sát và xử lý tín dụng: Cán

bộ và việc sử dụng cán bộ Con người là yếu tố quyết định đến chất lượng công táctín dụng Công tác tín dụng ngày càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng cán bộ ngàycàng cao, để có thể sử dụng được các phương tiện làm việc hiện đại, nắm bắt kịpthời các thông tin phục vụ cho việc thẩm định…

- Thẩm định tính khả thi của dự án có vai trò rất quan trọng trong công tác tíndụng Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức phân tích, đánh giá toàn diện một

Trang 39

cách khách quan khoa học các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thicủa dự án từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn quyết định đầu tư Yêu cầu của côngtác thẩm định dự án đầu tư trong công tác tín dụng không những chỉ thẩm định vềmặt tài chính mà còn phải hiểu và đánh giá được về mặt kỹ thuật và mặt KT-XH của

dự án Do đó, yêu cầu đối với cán bộ thực hiện công tác thẩm định rất cao, phải nắmbắt được các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, thường xuyên được cập nhậtthông tin và kiến thức để có thể đưa ra được những kết luận xác thực nhất

1.3.1.3 Chính sách tín dụng:

Chính sách tín dụng bao gồm chính sách lãi suất, quản lý, giám sát tín dụng

và các điều kiện tín dụng như: tài sản bảo đảm, hạn mức tín dụng, thời hạn vay

Mặc dù hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước không vì mục đích lợinhuận nhưng NHPT vẫn phải bảo toàn được vốn của mình nhằm có nguồn vốn táiđầu tư, hạn chế sự bao cấp của Nhà nước, phát triển hoạt động, thực hiện đắc lựchơn mục tiêu đã đề ra cho hoạt động này Trong những trường hợp thị trường biếnđộng, lãi suất có thể biến động mạnh, nếu chính sách lãi suất không được điều chỉnhkịp thời thì hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh Nếulãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nướcquá thấp sẽ làm gia tăng áp lực về vốn, trongđiều kiện khả năng huy động vốn có hạn sẽ dẫn tới nguy cơ về thanh khoản Ngượclại, nếu lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nướcquá cao thì các khách hàng có thể sẽtìm đến với các NHTM thay vì đến với NHPT và như vậy mục tiêu đặt ra trong việccho vay ĐTPT của Nhà nước vì thế cũng không thực hiện được

Bên cạnh đó, việc xác định chính sách tín dụng hợp lý về phương diện quy

mô và giới hạn cho vay, thời hạn, kì hạn trả nợ, lãi suất cho vay, tài sản đảm bảo…cũng có ý nghĩa quan trọng Đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTPT luôn cần lượngvốn lớn và dài hạn, nên nếu chính sách về quy mô và giới hạn cho vay, tài sản đảmbảo, thời hạn vay không được xác định phù hợp với đặc điểm của dự án, lĩnh vựcngành nghề hoạt động của dự án thì sẽ dẫn đến: (i) các chủ đầu tư không đáp ứngđược các điều kiện đặt ra (ví dụ: yêu cầu về tài sản bảo đảm vượt quá khả năng) và

sẽ không triển khai được dự án; (ii) các điều kiện quá nới lỏng dẫn đến tiềm ẩnnguy cơ rủi ro tín dụng

Đồng thời, các chính sách về hạn chế tín dụng, giám sát tín dụng nếu khôngđược xây dựng chặt chẽ, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn sẽ dẫn tới những nguy cơ

về rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng, tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tín dụngĐTPT của Nhà nước

Trang 40

1.3.2 Các yếu tố thuộc về khách hàng vay-các bệnh viện

1.3.2.1 Khát vọng ĐTPT của các khách hàng vay:

Đây là yếu tố quyết định nhu cầu vay vốn đầu tư, khát vọng đó càng lớn thìcàng có điều kiện phát triển hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước và trở thànhhiện thực khi môi trường đầu tư thuận lợi và có nhiều cơ hội

Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các dự án phát triểnthuộc diện được Nhà nước khuyến khích đầu tư nên điều kiện đầu tiên là phải đúngđối tượng Ngày càng có nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư luôn là ước mơ của cácnhà tài trợ Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư hơn cũng có nghĩa là nhiều dự án hơnđược hình thành, nhiều dự án tìm đến ngân hàng và như vậy hoạt động tín dụngĐTPT của Nhà nướccàng có điều kiện lựa chọn được những dự án tốt để hỗ trợ vànâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển mở rộng phạm vi của mình

Thực tế cho thấy thời gian qua, nhiều bệnh viện đã mạnh dạn lập dự án đivay vốn từ các TCTD để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị Nhờ đó,các bệnh viện ngày càng có cơ sở khang trang, thiết bị khám chữa bệnh hiện đại vàkhi đưa vào sử dụng, các công trình đã bước đầu mang lại hiệu quả xã hội tích cực

1.3.2.2 Khả năng và điều kiện đáp ứng của khách hàng vay:

Khát vọng đầu tư phát triển SXKD của khách hàng vay/các bệnh viện là rấtquan trọng nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, một vấn đề phải xét đến nữa là khảnăng và điều kiện đáp ứng của khách hàng vay/các bệnh viện, đây chính là điềukiện đủ Điều kiện tín dụng được đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của cácbệnh viện trong quá trình vay vốn, đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn.Khả năng đápứng các điều kiện tín dụng gồm:

- Năng lực thị trường của khách hàng vay/các bệnh viện:

Năng lực thị trường của khách hàng vay/các bệnh viện biểu hiện ở các mặtnhư công suất khám-chữa bệnh, chất lượng khám-chữa bệnh, vị trí của các bệnhviện, hệ thống mạng lưới các khoa, các cơ sở chi nhánh khám-chữa bệnh… trongngành bệnh viện như thế nào đối với thị trường trong nước và quốc tế

Năng lực thị trường của khách hàng vay/các bệnh viện biểu hiện và đượclượng hoá qua tiêu thức cơ bản là sự phát triển của doanh số khám-chữa bệnh.Doanh số này cho biết khả năng phát triển của khách hàng vay/các bệnh viện, việcnghiên cứu năng lực thị trường của khách hàng vay/các bệnh viện cho biết khả năng

mở rộng đầu tư, định hướng đầu tư của khách hàng vay/các bệnh viện, kiểm tra sựphù hợp của các dự án hoạt động với các khả năng khám chữa bệnh của bệnh viện

Ngày đăng: 02/02/2020, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w