Nội dung quyền tác giả trong trường đại học có thể được xem là quyền đặc thù của quyền tác giả nói chung, bởi lẽ chủ thể và đối tượng của quyền tác giả này không chỉ đáp ứng được những điều kiện luật định mà còn phải tuân thủ những tiêu chí do nhà trường ban hành. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ sáng tạo và những tác phẩm được hình thành trong môi trường giáo dục đại học.
Trang 1ĐẶC THÙ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trần Lê Đăng Phương
Trường Đại học An Giang
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 22/04/2016
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
22/05/2016
Ngày chấp nhận đăng: 06/2016
Title:
Features of authorship and
relating rights in university
Từ khóa:
Quyền tác giả, quyền liên quan,
tác phẩm, sáng tạo
Keywords:
Authorship, related rights,
published work, creation
ABSTRACT
Authorship in university is specific because its subjects and objects must be in accordance with legal conditions as well as university regulations Features of authorship and other relating rights in university are a scientific base (1) for composing behavioral standards, and (2) for making policies to protect a university’s research outputs, which would improve the university’s strength and create its specificity
TÓM TẮT
Nội dung quyền tác giả trong trường đại học có thể được xem là quyền đặc thù của quyền tác giả nói chung, bởi lẽ chủ thể và đối tượng của quyền tác giả này không chỉ đáp ứng được những điều kiện luật định mà còn phải tuân thủ những tiêu chí do nhà trường ban hành Do đó, việc xác định được những điểm đặc thù của quyền tác giả và quyền liên quan trong trường đại học, thứ nhất là luận cứ khoa học cho việc xây dựng chuẩn mực ứng xử phù hợp với quyền tác giả, thứ hai là có những chính sách phù hợp để bảo vệ loại hình tác phẩm trong trường đại học; từ đó phát huy nội lực và xây dựng được những nét đặc thù riêng của từng trường
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
[Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khoản 2, Điều 4] Tác
phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn
học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ
phương tiện hay hình thức nào [Luật Sở hữu trí
tuệ 2005, khoản 7, Điều 4] Theo cách hiểu trên
thì một cá nhân có thể trở thành tác giả của tác
phẩm với điều kiện tự mình sáng tác nên tác phẩm
được thể hiện bằng hình thức nhất định Đây là
quy định mở mà Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT)
muốn dành cho tất cả cá nhân có khả năng trí tuệ
khác nhau đều có thể trở thành tác giả Tuy nhiên,
trong một môi trường cụ thể để có những tác
phẩm phù hợp với mục tiêu hoạt động cần phải có những chủ thể tương xứng Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ sáng tạo và những tác phẩm được hình thành trong môi trường giáo dục đại học
2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Tác phẩm được hình thành trong trường đại học luôn gắn liền với chương trình đào tạo của từng ngành học mà nhà trường đã công bố, đồng thời phù hợp mục tiêu và sứ mệnh của nhà trường đối với xã hội Chính vì thế, tác phẩm được định hình
có những nét đặc thù riêng phù hợp với định hướng chung của nhà trường (1.2), các tác phẩm này được
Trang 2hình thành từ hoạt động sáng tạo của những chủ thể
luôn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (1.1) Đây
là hai đặc điểm được xem là rất đặc thù so với các
quy định chung của Luật Sở hữu trí tuệ
2.1 Chủ thể luôn có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự
Chủ thể là tác giả trong trường đại học có những
nét khác biệt so với chủ thể là tác giả của những
tác phẩm khác, theo đó họ phải đáp ứng được
những điều kiện nhất định để có thể bắt đầu trở
thành chủ thể tham gia hoạt động sáng tạo
(1.1.1.) Một chủ thể còn lại trong hoạt động sáng
tạo đầy tính khoa học là chủ sở hữu tác phẩm,
công trình nghiên cứu, chính là pháp nhân trường
đại học (1.1.2)
2.1.1 Phải đáp ứng những điều kiện nhất định
trước khi được công nhận là tác giả
Theo Điều 8, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Bộ Luật Dân sự, Luật SHTT về quyền tác giả
và quyền liên quan, tác giả được hiểu là: “… là
người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ
tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” Như
vậy, hiểu theo quy định pháp luật về SHTT, chủ thể
có thể trở thành tác giả của tác phẩm là rất rộng, theo
đó một cá nhân chỉ cần chứng minh có hoạt động
sáng tạo nên tác phẩm thì được công nhận là tác giả
và được pháp luật bảo vệ quyền tác giả Luật SHTT
không quy định độ tuổi tối thiểu hoặc độ tuổi tối đa
để có thể thực hiện hoạt động sáng tạo này Đây là
nét đặc thù mà các nhà lập pháp Việt Nam chỉ
dành riêng cho các chủ thể có những hoạt động trí
tuệ
Trong phạm vi hoạt động của trường đại học, chủ
thể quyền tác giả được hiểu hẹp hơn so với quy
định chung của Luật SHTT, một chủ thể tham gia
vào quá trình nghiên cứu sáng tạo trong trường
đại học phải đáp ứng những điều kiện nhất định
Cụ thể, theo khoản 1, Điều 8, của Quy định về
việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử
dụng giáo trình giáo dục đại học (Ban hành kèm
theo Thông tư số 04 /2011/TT-BGDĐT ngày
28 tháng 1 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo, tác giả chủ biên của những giáo trình, tài liệu giảng dạy trong chương trình đại học phải là những cá nhân có học vị Tiến sĩ và thuộc chuyên ngành của giáo trình đó Bên cạnh đó, người tham gia với tư cách đồng tác giả cũng phải đáp ứng những tiêu chí nhất định, cụ thể phải có chuyên môn phù hợp với nội dung giáo trình và đang trực tiếp giảng dạy trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ hoặc các nhà khoa học có uy tín đang tham gia thỉnh giảng tại trường và do Hiệu trưởng quyết định Cụ thể hoá nội dung khoản 1, Điều 8, Thông tư số 04/2011/TT-BGDĐT, Hiệu trưởng trường đại học được quyền quy định chi tiết về chủ thể tham gia viết giáo trình, tài liệu giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo Tại điểm b, khoản 1, Điều 8, Quyết định số 3054/QĐ-ĐHCT của Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ,
"tha ̀ nh viên tham gia biên soạn giáo trình phải là gia ̉ng viên, đã tham gia giảng dạy các học phần ít nhâ ́t 3 năm, hoặc các nhà khoa học tham gia thi ̉nh giảng tại Trường có chuyên môn phù hợp
vơ ́ i nội dung giáo trình" và theo điểm b, khoản 1, Điều 5 của Quyết định này "số lượng tác giả tham gia biên soạn phải là từ hai người trở lên", trong
trường hợp này bắt buộc phải có đồng tác giả trong hoạt động sáng tạo Tất nhiên, để được gọi
là giảng viên, giảng viên thỉnh giảng hoặc cán bộ nghiên cứu, những chủ thể này phải đáp ứng được những điều kiện luật định hoặc theo điều lệ của trường đại học, đồng thời phải thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa các bên thông qua hợp đồng lao động
Riêng đối với những công trình nghiên cứu khoa học hoặc bài báo nghiên cứu có thể có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, có thể là cán bộ công chức, viên chức từ các cơ quan nhà nước hoặc doanh nhân Bên cạnh chủ thể tham gia vào quá trình hoạt động thường xuyên của nhà trường còn có chủ thể hưởng thụ những dịch vụ từ hoạt động thường xuyên của nhà trường, là những sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh - những người có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu trong quá trình học tập, kết quả nghiên cứu của những chủ thể này cũng là nguồn tham khảo cho những công
Trang 3trình, đề tài nghiên cứu phục vụ hoạt động giáo
dục, đào tạo trong nhà trường và xã hội
Như vậy có thể nhận thấy chủ thể quyền tác giả
trong trường đại học có những nét riêng đặc thù
so với chủ thể quyền tác giả nói chung, theo đó
mỗi tác giả đáp ứng được những điều kiện luật
định hoặc dựa trên điều lệ của trường đại học
2.1.2 Chủ sở hữu tác phẩm
Khoản 1, Điều 39, Luật SHTT quy định “Tổ chức
giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là
người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các
quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19
của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận
khác” Như vậy, theo quy định này có thể hiểu
chủ sở hữu quyền tác giả trong trường đại học là
nhà trường, đại diện quyền chủ sở hữu chính là
Ban giám hiệu Quy định này phù hợp với thực
tiễn hoạt động của trường đại học, bởi lẽ thông
qua quyết định cho phép thực hiện các hoạt động
nghiên cứu, nhà trường giao nhiệm vụ nghiên cứu
và đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, sáng
tạo của giảng viên Nhà trường sẽ không phải là
chủ sở hữu tác phẩm khi có sự thoả thuận với
người sáng tạo; hoặc hoạt động nghiên cứu, sáng
tạo của giảng viên được thực hiện bằng kinh phí
của những đơn vị bên ngoài trường đại học Trong
trường hợp này, nhà trường là chủ thể đóng vai
trò xác nhận tư cách pháp lý của cá nhân người
tham gia hoạt động nghiên cứu, sáng tạo Kết quả
của quá trình nghiên cứu, sáng tạo thuộc về chủ
thể đầu tư kinh phí cho quá trình này
2.2 Tác phẩm mang nội dung định hướng
chung và được thẩm định
Nghiên cứu khoa học là hoạt động không thể tách
rời mục tiêu và sứ mệnh của nhà trường Vì thế,
các tác phẩm được các chủ thể sáng tạo hoặc theo
yêu cầu công việc đều phải phù hợp với sứ mệnh
của nhà trường Đó là các công trình nghiên cứu
phù hợp với chương trình giảng dạy mà giảng
viên được phân công hoặc là các công trình
nghiên cứu được thực hiện theo yêu cầu của các
chủ thể khác phù hợp với sứ mệnh của nhà trường
đối với xã hội
2.2.1 Tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học Theo khoản 1, Điều 6, Luật SHTT quy định “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo
và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký” Luật SHTT
không quy định cứng nhắc về nội dung của một tác phẩm, theo đó một đối tượng là kết quả của quá trình sáng tạo của chính tác giả và được thể hiện bằng hình thức tương xứng thì được gọi là tác phẩm Ví
dụ, được gọi là tác phẩm âm nhạc khi đối tượng này
là kết quả của quá trình lao động trí óc của chính người tạo ra và thể hiện bằng những câu từ, nốt nhạc
Trong phạm vi hẹp hơn so với khái niệm tác phẩm theo Luật SHTT, những tác phẩm được hình thành trong trường đại học theo một tiêu chí chung đều mang tính khoa học Mỗi tác phẩm thể hiện sứ mệnh của nhà trường đối với cộng đồng Tuy nhiên, những tác phẩm được hình thành tại các trường đại học nghệ thuật thì tồn tại đồng thời tính khoa học và tính nghệ thuật Tựu trung lại, các tác phẩm trong trường đại học thể hiện bao gồm: giáo trình, tài liệu giảng dạy và công trình nghiên cứu khoa học khác Tất nhiên những loại tác phẩm này phải được xây dựng dựa trên tiêu chí chung về chiến lược phát triển của nhà trường Một tác phẩm được công nhận là giáo trình khi đáp ứng được những yêu cầu về nội dung và hình thức được quy định tại Điều 4 của Thông tư số 04/2011/TT-BGDĐT có nghĩa là nội dung giáo trình phải phù hợp với chuẩn kiến thức của ngành đào tạo mà giáo trình phục vụ; hình thức trình bày
rõ ràng và tuân thủ quy định pháp luật về quyền tác giả, phải có trích dẫn rõ ràng Tuy nhiên, trong một số trường hợp giáo trình được biên soạn phải
là tác phẩm chưa được xuất hiện trên thị trường và phải có độ dài tối thiểu là 100 trang, theo Điều 5 của Quyết định số 3054/QĐ-ĐHCT của Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, có nghĩa là các đồng tác giả phải thực hiện nghiêm túc hoạt động sáng tạo của mình để đáp ứng những yêu cầu tối
Trang 4thiểu được quy định tại Điều 4 của Thông tư số
04/2011/TT-BGDĐT và yêu cầu riêng của mỗi
trường đại học
Tồn tại cùng với các giáo trình theo chương trình
đào tạo, trong trường đại học còn hình thành các
tác phẩm khác như: sách chuyên khảo, sách tham
khảo, sách dịch, sách hướng dẫn, đề tài nghiên
cứu khoa học các cấp, bài tham luận hội thảo, và
các tác phẩm văn học nghệ thuật, phục vụ cho
hoạt động nghiên cứu và đào tạo Trong đó có
những tác phẩm phải là những công trình nghiên
cứu đáp ứng về chuyên môn sâu của chính tác giả,
theo khoản 1, Điều 3 của Thông tư số
16/2009/TT-BGDĐT ngày 17 tháng 07 năm 2009
của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết việc
xét công nhận, hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn,
bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó
giáo sư, "sách chuyên khảo là kết quả nghiên cứu
chuyên sâu và tương đối toàn diện về một vấn đề
khoa học chuyên ngành của ứng viên, được cơ sở
giáo dục đại học sử dụng để đào tạo từ trình độ
đại học trở lên" và theo điểm a, khoản 2, Điều 2
của Quyết định số 3054/QĐ-ĐHCT của Hiệu
trưởng Trường Đại học Cần Thơ, sách chuyên
khảo phải có sự đóng góp ít nhất 25% kết quả
nghiên cứu do chính chủ biên thực hiện, đồng thời
sách được sử du ̣ng giảng dạy, nền tảng nghiên
cứ u chuyên sâu hay tra cứu các vấn đề chuyên
sâu
Có thể nhận thấy, các tác phẩm hình thành trong
khuôn khổ hoạt động của trường đại học là kết
quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và nghệ
thuật theo chuẩn mực kiến thức nhất định, nhằm
phục vụ trước nhất là hoạt động đào tạo của nhà
trường và thực hiện sứ mệnh đối với xã hội Kết
quả của các công trình nghiên cứu trong nhà
trường là cơ sở lý luận và khoa học vững chắc cho
việc thay đổi định hướng đào tạo nói riêng và góp
phần vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế,
xã hội nói chung
2.2.2 Nội dung tác phẩm phải đạt yêu cầu thẩm
định
Nếu như những tác phẩm nghệ thuật thể hiện những ý riêng của tác giả và mức độ nghệ thuật đạt hay không dựa trên sự cảm nhận chủ quan của từng
cá nhân Riêng đối với các tác phẩm trong trường đại học phải tuân thủ những tiêu chí nhất định và được đánh giá một cách khách quan khoa học Do vậy, một đối tượng được trở thành tác phẩm trong trường đại học ngoài việc đáp ứng yêu cầu luật định còn phải tuân thủ theo những tiêu chí khoa học riêng
Mỗi tác phẩm trước khi được phổ biến toàn trường và công chúng đều phải thông qua hội đồng thẩm định Theo Điều 11 của Thông tư số 04/2011/TT-BGDĐT, giáo trình trước khi công
bố và phổ biến đến công chúng phải tuân thủ quy trình như tuyển chọn, biên soạn và thẩm định Việc thẩm định nội dung phải được thực hiện bởi Hội đồng và theo khoản 3, Điều 11 của Thông tư
số 04/TT-BGDĐT thành viên Hội đồng "phải có chuyên môn phù hợp với nội dung giáo trình, là các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao, có
uy tín và kinh nghiệm giảng dạy đại học" Như
vậy, tất cả tài liệu giảng dạy trước khi phổ biến đến sinh viên đều phải được thông qua hội đồng thẩm định, có thể cấp bộ môn, cấp khoa, hoặc cấp trường Đây vừa là cơ sở pháp lý và khoa học để xác định đúng chức năng nhiệm vụ của giảng viên phù hợp với sứ mệnh của nhà trường Bởi lẽ, những tác phẩm này chính là nền tảng trau dồi học thuật của sinh viên hoặc giảng viên Vì thế, một tác phẩm trong trường đại học càng không được phép hình thành một cách quá dễ, và lại càng không được phổ biến một cách tùy tiện
Để thực hiện sứ mệnh của mình, trường đại học phải ban hành được khung chương trình giảng dạy, theo đó có những môn học phù hợp với định hướng ngành Và, các chủ thể tham gia quá trình đào tạo sẽ đầu tư công sức vào hoạt động nghiên cứu Vì thế, các tác phẩm, trước nhất thuộc thể loại giáo trình hay tài liệu giảng dạy đều phải tuân thủ các tiêu chí của khung chương trình Tất nhiên nội dung của những tác phẩm này đều phải được kiểm chứng mức độ phù hợp với mục tiêu chương trình
Trang 5Bên cạnh đó, các hoạt động của nhà trường gắn
liền với định hướng phát triển kinh tế xã hội của cả
nước nói chung và địa phương nói riêng Vì thế,
ngoài các tác phẩm được hình thành từ quá trình
đào tạo còn có những tác phẩm được hình thành từ
hoạt động nghiên cứu theo yêu cầu Mỗi tác phẩm
này đều phải được kiểm định chặt chẽ và luôn nhận
được sự phản biện từ nhiều phía Đây được xem là
cơ sở khoa học vững chắc cho việc ra đời của một
tác phẩm Vì không chỉ đơn giản là được thể hiện
bằng hình thức nhất định mà nội dung phải đáp ứng
những điều kiện tiên quyết [Quy định việc biên
soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng giáo
trình giáo dục đại học (Ban hành kèm theo Thông
tư số 04/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 1 năm
2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo] cho
sự tồn tại của tác phẩm
Trong chừng mực khác, những thể loại tác phẩm
khác mang màu sắc nghệ thuật, mặc dù có gắn
liền với sứ mệnh của nhà trường, chỉ cần đáp ứng
những điều kiện cơ bản luật định thì được công
nhận là tác phẩm Bởi lẽ, trong thực tế, tại các
trường đại học theo hướng đa ngành, hoạt động
nghiên cứu và sáng tạo không chỉ bó hẹp trong
khuôn khổ khoa học thuần tuý, mà còn có những
hoạt động sáng tạo nghệ thuật, thẩm mỹ Những
tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật trong nhiều trường
hợp cũng là tư liệu giảng dạy
Như vậy, đối với những tài liệu đã được hội đồng
thẩm định thừa nhận là kết quả của hoạt động khoa
học thì được công nhận là tác phẩm và có thể phổ
biến rộng rãi trước nhất trong phạm vi toàn trường
và sau đó đến công chúng nói chung
3 Một số nét đặc thù về quyền tác giả và
quyền liên quan trong trường đại học
Luật SHTT Việt Nam công nhận tác giả của tác
phẩm có quyền nhân thân và quyền tài sản Riêng
đối với tác giả là giảng viên, nhà nghiên cứu thuộc
biên chế của trường đại học, quyền tài sản có sự
khác biệt được dự liệu và sự khác biệt này dựa trên
quan hệ pháp luật về hợp đồng hoặc quy chế hoạt
động của nhà trường
3.1 Quyền tác giả
Xuất phát từ đặc thù về tổ chức hoạt động cũng như nhiệm vụ của trường đại học, đối với đa số những tác phẩm trong trường đại học, tác giả không được tự do lựa chọn quyền nhân thân theo quy định pháp luật SHTT, hay ngay cả trong nhiều trường hợp tác giả không nên thực hiện quyền tài sản
3.1.1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân của tác giả trong trường đại học được hiểu theo quy định chung của Luật
SHTT Tuy nhiên, việc thể hiện quyền này trong trường đại học có những nét đặc thù riêng so với quyền nhân thân của các chủ thể quyền tác giả khác
Tên tác phẩm thường phải trùng nhau Theo
quy định của Điều 19.1 Luật SHTT không cấm việc các tác giả đặt tên các tác phẩm trùng nhau, nhưng trên thực tế việc trùng tên tác phẩm ngoài
trường đại học là không nhiều Do đó, so với
những tác phẩm thông thường, chủ thể quyền tác giả trong trường đại học thường phải đặt tên tác phẩm có sự lặp lại Quan trọng là việc tác giả thể hiện nội dung có sự khác biệt so với những tác phẩm cùng tên trước đó Vì bản chất một đối tượng được gọi là tác phẩm phải đáp ứng điều kiện có sự sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức nhất định Theo đó, tác giả này có những cách tiếp cận nội dung vấn đề khác so với những tác giả khác nhưng vẫn dựa trên những nền tảng cơ bản
lý thuyết đã được kiểm chứng [khoản 3, Điều 15, Luật SHTT, 2005] hoặc sử dụng những kết quả nghiên cứu hay nhận định của tác phẩm trước nhằm minh chứng cho hoạt động nghiên cứu của mình, thông qua việc phân tích, đánh giá và bàn luận về nội dung nghiên cứu [Điều 24, Luật SHTT, 2005] Quy định này cũng được chấp nhận trong trường hợp tác giả không phải là giảng viên hoặc cán bộ nghiên cứu Các sinh viên được quyền lựa chọn đề tài nghiên cứu giống như nhau, nhưng tất nhiên kết quả phải có sự khác biệt đủ thể hiện hoạt động lao động trí óc của chính tác giả
Trang 6Liên quan đến vấn đề đặt tên tác phẩm, xuất phát
từ sứ mệnh giáo dục và đào tạo của nhà trường,
giảng viên đóng vai trò là người gợi ý hoặc góp ý
xây dựng tên tác phẩm cho sinh viên (chủ đề
nghiên cứu) Việc đặt tên tác phẩm theo Luật
SHTT là công việc của riêng tác giả, sự hình
thành một cái tên của tác phẩm có thể có sự định
hướng [Quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm
định, duyệt và sử dụng giáo trình giáo dục đại học
(Ban hành kèm theo Thông tư số 04
/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 1 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều 4] hoặc đó
là ngẫu hứng của chủ thể sáng tác Nhưng, trong
môi trường đại học, tên tác phẩm luôn có sự định
hướng mục tiêu rõ ràng [Quy chế đào tạo đại học
và cao đẳng hệ chính quy (Ban hành kèm theo
Quyết định số 25 /2006/QĐ-BGDĐT ngày 26
tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo, 2011, khoản 2, Điều 14] Và một khi tác
phẩm đã định hình được xem là kết tinh của tinh
thần trách nhiệm phù hợp với sứ mệnh của nhà
trường
Chủ thể hạn chế dùng bút danh trong các tác
phẩm nghiên cứu Một nét đặc thù thể hiện
quyền tác giả đối với các công trình nghiên cứu
khoa học, tác giả hạn chế sử dụng bút danh trong
các kết quả nghiên cứu Đây là sự thể hiện mối
quan hệ mật thiết với điều kiện để trở thành chủ
thể quyền tác giả trong trường đại học Tuy nhiên,
trong phạm vi hoạt động của nhà trường còn sự
hiện diện của các hoạt động văn hóa nghệ thuật
khác hoặc tại các trường đại học đa ngành có sự
hiện diện của ngành văn hoá nghệ thuật, tác giả
được quyền lựa chọn không sử dụng hoặc sử dụng
bút danh thay cho việc sử dụng tên thật Ví dụ,
giảng viên có thể tham gia viết bài báo, bài thơ
hoặc vẽ bức tranh và sử dụng bút danh thay tên
thật
Nhà trường, chủ thể có quyền công bố tác
phẩm Xuất phát từ đặc thù hoạt động, một tác
giả được nhà trường giao nhiệm vụ phải hoàn
thành tác phẩm trong khoảng thời gian nhất định
Đối với đa số các tác giả, khi kết thúc quá trình
sáng tạo, có thể công bố tác phẩm hoặc không
Trong khuôn khổ hoạt động của nhà trường, cá nhân thực hiện công việc nghiên cứu, sáng tạo phải có trách nhiệm công bố thành quả của họ Một mặt được xem là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của người sáng tạo Theo quy định của Luật SHTT, công bố tác phẩm là quyền của tác giả đồng thời là chủ sở hữu; hoặc quyền này chỉ thuộc về chủ sở hữu tác phẩm Trong thực
tế hoạt động của trường đại học, nhà trường là chủ thể có quyền công bố tác phẩm do giảng viên nghiên cứu thông qua quyết định cho phép nghiên
cứu và đầu tư kinh phí
3.1.2 Quyền tài sản thuộc về nhà trường
Theo Điều 18 của Luật SHTT, quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Tuy nhiên, các tác giả là giảng viên thực hiện việc nghiên cứu, sáng tạo thông qua quyết định của nhà trường thì không phải là chủ thể được hưởng đầy đủ những quyền được quy định tại Điều 18 của Luật SHTT Cụ thể, giảng viên được nhà trường đầu tư kinh phí và giao nhiệm vụ nghiên cứu chỉ được công nhận quyền nhân thân được quy định tại Điều 19.1, 19.2 và 19.4 của Luật SHTT Quyền được hưởng những lợi ích vật chất từ việc khai thác tác phẩm thuộc về nhà
trường, cụ thể "các giáo trình đã xuất bản, cơ sở giáo dục đại học có thể bán, cho thuê, cho mượn,… để phục vụ giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên theo Luật Xuất bản và các quy định hiện hành" [khoản 2, Điều 5, Thông tư
số 04 /2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 1 năm
2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo] Mỗi tác phẩm trong trường đại học đều mang những giá trị khoa học nhất định Những tác phẩm
đó được hình thành dựa trên sứ mệnh của nhà trường đối với cộng đồng, chủ thể sáng tác là người góp phần vào việc thực hiện sứ mệnh mà xã hội giao phó Do vậy, một tác phẩm hình thành dựa trên tư cách pháp nhân của nhà trường phải được sử dụng trước nhất vì lợi ích cộng đồng Như thế không có nghĩa là tác giả của các tác phẩm trong trường đại học không được hưởng quyền tài sản Quyền tài sản của tác giả đối với
Trang 7tác phẩm trong phạm vi bài viết này, ở chừng mực
nhất định không gắn liền với quyền nhân thân, bởi
lẽ việc hưởng lợi ích vật chất thuộc về chủ sở hữu
tác phẩm (nhà trường - chủ thể không trực tiếp
sáng tác) Quyền nhân thân trong trường hợp này
có giá trị cao quý hơn quyền tài sản Đó là quyền
mà mỗi tác giả chỉ yêu cầu cộng đồng có một sự
tôn trọng
Như vậy, một tác phẩm trong trường đại học trước
tiên phải mang nội dung cốt lõi của giá trị khoa
học, góp phần thực hiện nhiệm vụ của nhà trường
Chính vì thế nó không phải là loại tài sản bình
thường trong giao lưu dân sự như những loại tài
sản khác
3.2 Quyền liên quan
Quyền liên quan đến quyền tác giả theo quy định
tại khoản 3, Điều 4 của Luật SHTT được hiểu như
sau: “là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc
biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã
hóa” Bên cạnh đó, Điều 44 Luật SHTT quy định
về chủ sở hữu quyền liên quan thì quyền liên quan
trong phạm vi bài viết này được hiểu là quyền của
nhà trường đối với các cuộc biểu diễn nghệ thuật
do giảng viên dàn dựng, bản ghi âm và ghi hình
những bài giảng
3.2.1 Quyền chủ sở hữu tác phẩm
Theo quy định pháp luật, chủ sở hữu quyền tác
giả có quyền tài sản đối với tác phẩm đang nắm
giữ Theo đó, chủ sở hữu có quyền cho phép
những chủ thể khác khai thác tác phẩm nhưng
phải trả tiền thù lao [Luật SHTT, 2005, Điều 19,
20 và 39] Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn được
hưởng những quyền nhân thân theo quy định tại
điều 19.3 của Luật SHTT Cụ thể, nhà trường có
quyền khai thác tính thương mại của tác phẩm,
cho phép những tổ chức cá nhân khác được quyền
sao chép; được quyền công bố tác phẩm đến công
chúng Tuy nhiên, việc thực hiện quyền chủ sở
hữu trong trường hợp này luôn gắn liền với sứ
mệnh của nhà trường
3.2.2 Ngoại lệ
Quy định pháp luật về quyền tác giả cũng dành những ngoại lệ nhất định ngăn cản quyền chủ sở hữu đưa tác phẩm đến công chúng Trong trường hợp có
sự thỏa thuận riêng giữa chủ sở hữu và tác giả thông qua hợp đồng, đề cập đến các quyền nhân thân và quyền tài sản [1, Điều 39] Trong chừng mực đó, quyền chủ sở hữu sẽ có những hạn chế như nội dung giao kết hợp đồng Chủ sở hữu không thể công bố rộng rãi tác phẩm vượt ra khỏi phạm vi hoạt động của nhà trường Đây là quy định mà các nhà lập pháp muốn dành cho việc bảo vệ toàn vẹn quyền của tác giả về quyền nhân thân và quyền tài sản
4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Mỗi tác phẩm hình thành trong môi trường giáo dục đại học có những nét đặc thù riêng, mà những tác phẩm thông thường khác không có, đó là sự kết tinh của những thành quả nghiên cứu khoa học
và được thẩm định một cách nghiêm túc Bên cạnh đó, những quyền và nghĩa vụ của chủ thể sáng tạo thực tế có những nét khác biệt so với quy định chung của Luật SHTT, cụ thể quyền tài sản không phải là quyền mà chủ thể sáng tạo ưu tiên quan tâm Một nội dung cần quan tâm nhất đó là
sự tôn trọng quyền tác giả ngay cả trong trường hợp sử dụng tác phẩm không làm phát sinh quyền tài sản Vì vậy, các trường đại học cần thiết phải xây dựng những chuẩn mực ứng xử thực thi việc tôn trọng quyền tác giả thông qua hoạt động khai thác, sử dụng tài liệu trong hoạt động giảng dạy của giảng viên, cũng như hoạt động học tập của sinh viên
Quyền tác giả trong trường đại học có những đặc thù riêng so với quyền tác giả nói chung, để đảm bảo sự tôn trọng tác giả và khai thác hiệu quả quyền tác giả, các trường đại học cần ban hành những quy định như sau:
Xây dựng biện pháp chống sao chép tác phẩm
Các tác phẩm công bố trước công chúng phải có phần mềm chống sao chép bất hợp pháp Đối với tài liệu giảng dạy, giáo trình, nhà trường chủ động việc phát hành đến sinh viên
Chịu trách nhiệm lưu giữ và thu phí quyền tác giả Nhà trường giao cho thư viện lưu giữ bản
Trang 8quyền tác phẩm, việc sao chép hoặc sử dụng tác
phẩm phải thu phí bản quyền Theo đó, người sử
dụng có nhu cầu sao chụp lại tác phẩm mà quyền
sở hữu thuộc về nhà trường sẽ phải thanh toán phí
bản quyền
Làm tăng thêm quyền tài sản cho tác giả Ngoài
việc hưởng thù lao sáng tạo tác phẩm, tác giả còn
được hưởng giá trị quyền tài sản của tác phẩm khi
được khai thác tính thương mại Tác giả phải
được hưởng quyền tài sản từ việc khai thác tính
thương mại của tác phẩm, theo tỷ lệ thoả thuận
hoặc do nhà trường ấn định Việc bổ sung quy
định này nhằm khuyến khích sự sáng tạo trong
nhà trường
Tuyên truyền việc tôn trọng quyền tác giả Vào
đầu mỗi năm học, nhà trường có kế hoạch phổ
biến đến sinh viên và giảng viên việc sử dụng tác
phẩm phải tuân thủ quy định của Luật SHTT và
quy định của nhà trường
Kiểm soát việc sử dụng trái phép tác phẩm trong
phạm vi nhà trường Nhà trường cần thiết bổ sung
quy định nghiêm cấm sinh viên sao chép bất hợp
pháp các tác phẩm đã được bảo hộ Nghiêm cấm
sinh viên sử dụng các giáo trình, tài liệu tham
khảo sao chép bất hợp pháp trong suốt quá trình
học tập tại trường
Luật SHTT 2005 cần bổ sung giới hạn sử dụng tác
phẩm Điều 25 của Luật SHTT nên bổ sung giới
hạn sử dụng tác phẩm, cụ thể mỗi tác phẩm chỉ
được phép sao chép hoặc chụp lại không quá 10%
tổng số trang Việc giới hạn này nhằm hạn chế
việc lạm dụng việc sử dụng miễn phí thành quả
sáng tạo của các tác giả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011) Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (Ban hành
kèm theo Quyết định số 25 /2006/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011) Quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng giáo trình giáo dục đại học (Ban hành
kèm theo Thông tư số 04 /2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 1 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Bộ Giáo dục và Đào tạo Thông tư số 16/2009/TT-BGDĐT, ngày 17 tháng 07 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết việc xét công nhận, hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn,
bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư
Chính Phủ (2006) Nghị định số
100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Quốc Hội (2005) Luật sở hữu trí tuệ,
50/2005/QH11
Trường Đại học Cần Thơ Quyết định số 3054/QĐ-ĐHCT ngày 28 tháng 08 năm 2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ quy
đi ̣nh về việc biên soạn, lựa chọn, thẩm đi ̣nh, xuâ ́t bản, phát hành, duyệt và sử dụng giáo tri ̀nh, tài liệu học tập của Trường Đại học Cần Thơ