1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp tại tỉnh hải dương

119 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 261,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành quản lý kinh tế của mình và qua đó đềxuất một số giải pháp nhằm cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh nhằm hoàn thiệnhơn nữa thủ tục đăng ký kinh d

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn “Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh chocác doanh nghiệp tại tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu khoa học độc lậpcủa tôi, chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các số liệu và kết quả sửdụng trong bài Luận văn là hoàn toàn trung thực và có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Phạm Thị Quỳnh Mai

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản

lý kinh tế, em đã gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị tài liệu, thu thập dữ liệu

sơ cấp và thứ cấp Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình cácthầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp, em đã hoàn thành Luận văn của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đạihọc Thương mại, Khoa sau Đại học đã động viên và tạo mọi điều kiện để em cóthể yên tâm với công việc nghiên cứu

Hơn hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy PGS.TS NguyễnViết Thái - người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình, động viên em trong suốt quátrình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ công chức: Sở Kế hoạch vàĐầu tư tỉnh Hải Dương đã hỗ trợ cung cấp tài liệu để em có cơ sở thực tiễn bổsung vào bài viết

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất cả năng lực

và sự nhiệt tình của bản thân, tuy nhiên luận văn này không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô vàđồng nghiệp để em hoàn thiện hơn nữa nhận thức của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục hành chính 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại cải cách hành chính 10

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục đăng ký kinh doanh và cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh 16

1.2 Phân định nội dung cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh tại các địa phương cấp tỉnh 22

1.2.1 Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan đăng ký kinh doanh và Quản lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh cấp tỉnh 22

1.2.2 Một số quy định pháp lý về cải cách thủ tục ĐKKD ở nước ta 23

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh trên địa bàn cấp tỉnh 30

1.3.1 Yếu tố khách quan 30

1.3.2 Yếu tố chủ quan 33

1.4 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính của một số địa phương và bài học cho Hải Dương 35

1.4.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng, Lào Cai 35

1.4.2 Bài học cho tỉnh Hải Dương 37

Trang 8

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC ĐĂNG KỲ KINH DOANH

CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 39

2.1 Giới thiệu chung về tiềm năng phát triển của tỉnh Hải Dương và hệ thống các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 39

2.1.1 Tiềm năng phát triển của tỉnh Hải Dương 39

2.1.2 Hệ thống các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 42

2.2 Thực trạng cải cách các thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 47

2.2.1 Quy trình cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 47

2.2.2 Tình hình cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương……… 55

2.3 Những đánh giá, nhận xét về cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh 62

2.3.1 Những thành công về cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh 62

2.3.2 Những tồn tại hạn chế ảnh hưởng đến đăng ký kinh doanh 64

Chương 3: HOÀN THIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 68

3.1 Phương hướng, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương .68

3.1.1 Phương hướng 68

3.1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu 69

3.2 Mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăn ký kinh doanh 71

3.3 Yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính 72

3.3.1 Bảo đàm nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính 72

3.3.2 Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính 72

3.3.3 Bảo đảm tính hợp lý của thủ tục hành chính 73

3.3.4 Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành chính 74

3.3.5 Bảo đảm tính dễ hiểu, dễ tiếp cận của thủ tục hành chính 75

Trang 9

3.3.6 Bảo đảm tính khả thi của thủ tục hành chính 75

3.3.7 Bảo đảm ổn định cần thiết của quy trình thủ tục hành chính 76

3.3.8 Bảo đảm về năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 76

3.4 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới 77

3.4.1 Thay đổi, bổ sung các quy định, chính sách hiện hành 77

3.4.2 Nâng cao nhận thức, năng lực quản lý và trách nhiệm của bộ máy chính 83

3.4.3 Nâng cao năng lực, sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm của cán bộ 85

3.4.4 Tăng cường cảm giác thoải mái cho người dân khi đến làm thủ tục 87

3.4.5 Nâng cao năng lực phục vụ của tổ một cửa 88

3.4.6 Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thủ tục đăng ký kinh doanh 89

3.5 Một số kiến nghị nhằm thực hiện các giải pháp cải cách thủ tục 90

3.5.1 Kiến nghị đối với Bộ kế hoạch và Đầu tư, các Cục, Vụ, Viện của Bộ 90

3.5.2 Kiến nghị đối với UBND tỉnh, các Sở, Ban, Ngành của Tỉnh 92

KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Thứ

1 Bảng 2.1 Số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm

2 Bảng 2.2 Quy mô vốn của các doanh nghiệp tỉnh Hải Dương 44

3 Đồ thị 2.1 Đánh giá sự hài lòng của Doanh nghiệp về cải cách

4 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ trong lĩnh vực

đăng ký kinh doanh tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương 53

5 Bảng 2.3 Tình hình tiếp nhận và trả kết quả kinh doanh tại

Phòng đăng ký kinh doanh Hải Dương giai đoạn 2014 – 2016 50

6 Bảng 2.4 Tình hình cấp đăng ký doanh nghiệp của Tỉnh Hải

7 Đồ thị 2.2 Tình hình đăng ký kinh doanh mạng ở Hải Dương 578

Bảng 2.5 Bảng Đánh giá của doanh nghiệp về quy trình kinh

doanh, cơ sở vật chất, thái độ phục vụ, thời gian thực hiện dịch

vụ đăng ký kinh doanh trên địa bàn Tỉnh

56

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp được xem là yếu tố cực kỳ quan trọng, nòng cốt trongcông“cuộc đổi mới đất nước theo đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Trong thời gian qua Chính phủ đã không ngừng có những chính sách đổimới, cải cách hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm phát triển kinh tế xã hội, trong đócải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh (ĐKKD) là mộttrong những cải cách quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư của doanhnghiệp Trong thời gian qua công tác cải cách thủ túc đăng ký kinh doanh đã tậptrung giải quyết được nhiều vấn đề, song để tạo điều kiện cho những cá nhân, tổchức đăng ký kinh doanh để mở rộng thêm số lượng doanh nghiệp thì vẫn còn hạnchế Một trong những nguyên nhân gấy ra tình trạng này là do thủ tục đăng kỳ kinhdoanh còn phức tạp, rườm rà, mất nhiều thời gian nhất là làm giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế, khắc con dấu thời gian để được đăng ký kinhdoanh kéo dài làm giảm nhuệ khí của các doanh nghiệp, chính vì thế nên số lượngdoanh nghiệp tính trên đầu người Việt Nam vẫn”còn thấp hơn so với các nước trongkhu vực

Hải Dương là một tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi cũng như tiềm năng trongthu hút đầu tư Thực hiện mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế xã hội trong giaiđoạn 2016 -2020, Tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tháo gỡ khó khăn,tinh giảm các thủ tục cho các nhà đầu tư, khuyến khích thu hút đầu tư bên trong vàbên ngoài nên số lượng doanh nghiệp cũng như vốn đăng ký đầu tư kinh doanh ở tỉnhHải Dương tăng nhanh trong thời gian vừa qua Tuy nhiên cũng như một số địaphương khác thủ tục đăng ký kinh doanh ở Hải Dương vẫn còn một số bất cập, làmcho các tổ chức và cá nhân còn gặp khó khăn trong thủ tục đăng ký kinh doanh nhưthời gian đăng ký kinh doanh còn dài, thủ tục còn rườm rà nên số lượng doanhnghiệp đăng ký kinh doanh trên địa bàn có dấu hiệu giảm so với trước đây

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, nên em đã mạnh dạn lựachọn đề tài “Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp tại tỉnh Hải

Trang 13

Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành quản lý kinh tế của mình và qua đó đềxuất một số giải pháp nhằm cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh nhằm hoàn thiệnhơn nữa thủ tục đăng ký kinh doanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong lĩnhvực ĐKKD.

2.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đã có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến đề tàinghiên cứu, cụ thể như sau:

Nguyễn Thị Nga (2016), “Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở ViệtNam hiện nay”, luận văn thạc sĩ ngành Luật hiến pháp – Luật hành chính, trườngĐại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ thống hóa được các thủ tục hành chính vềđăng ký kinh doanh hiện nay ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cải cách thủtục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh tại Việt Nam

Trần Thị Tố Uyên (2005), “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Namthực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ khoa Luật Luận văn đãtrình bày thực trạng về pháp luật đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, nhữngthành công và những tồn tại hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiệnhơn nữa pháp luật đăng ký kinh doanh ở Việt Nam

Nguyễn Thị Yến (2010), “Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệpcần được tiếp tục hoàn thiện”, tạp chí Luật học số 9

Trần Huỳnh Thanh Nghị ( 2011), “Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ởViệt nam trong chặng đường 10 năm hội nhập quốc tế ( 2000 – 2010), tạp chí Luậthọc số 8/2011

Tuy nhiên trong những đề tài kể trên mới chỉ đưa ra những tiến bộ và hạnchế của thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp ở thời kỳ khi mà Luậtdoanh nghiệp 2005 còn hiệu lực, nhưng cho đến nay khi mà Luật doanh nghiệp

2014 được ban hành và có hiệu lực thì những vấn đề được nghiên cứu trên các côngtrình trên đã không còn đáp ứng kịp thời với thực tiễn thi hành Bởi vậy công trìnhnghiên cứu của em là “Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệptại tỉnh Hải Dương” là công trình độc lập, không trùng lắp

Trang 14

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho cácdoanh nghiệp

- Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanhnghiệp tại tỉnh Hải Dương

- Đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn nữa thủ tục đăng ký kinhdoanh cho các doanh nghiệp tại tỉnh Hải Dương

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các DN

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp phân tích thống kê: tập hợp các kết quả đã thực hiện.+ Phương pháp phân tích tổng hợp: xem xét, đánh giá tổng hợp các dữliệu, thông tin thu thập được

+ Phương pháp đối chiếu, so sánh

+ Phương pháp thu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấntới các chủ doanh nghiệp và công dân tới làm thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng

ký thay đổi ngành nghề hoặc mở chi nhánh tại Phòng Đăng ký kinh doanh Sở kếhoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương

Đối tượng điều tra: các chủ doanh nghiệp, công dân đến làm thủ tục đăng

ký kinh doanh tại Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở KH&ĐT tỉnh Hải Dương

Nội dung bảng hỏi: Các câu hỏi liên quan đến thực trạng cải cách thủ tụcđăng ký kinh doanh, mức độ hài lòng của người dân với công việc của đội ngũ

Trang 15

nhân viên phục vụ tại tổ một cửa, phòng đăng ký kinh doanh thuộc KH&ĐTtỉnhHải Dương.

Địa điểm khảo sát: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu

tư tỉnh Hải Dương

Số lượng phiếu khảo sát: Số phiếu phát ra 100 phiếu Số phiếu phát ra 100phiếu, số phiếu thu về 100 phiếu Cơ cấu phiếu điều tra: điều tra 50 phiếu đối vớicác chủ doanh nghiệp, 50 phiếu đối với công dân đến làm thủ tục đăng ký kinhdoanh

- Nguồn tư liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu

Các báo cáo của phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh HảiDương, thông tin cần thiết qua sách, báo, tạp chí, internet và các đề tài nghiêncứu trước đó có liên quan

6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cải cách thủ tục đăng ký kinh doanhcho các doanh nghiệp tại các địa phương cấp tỉnh;

Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Hoàn thiện cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh cho cácdoanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục hành chính

1.1.1.1 Khái niệm

Một trong những đặc điểm cơ bản của Nhà nước ta là tổ chức vàhoạt“động theo trật tự pháp lý, nghĩa là pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức,thẩm quyền và trình tự thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cán bộ,công chức nhà nước trong việc giải quyết công việc nội bộ nhà nước và côngviệc liên quan đến cá nhân, tổ chức Quản lý nhà nước cũng giống như bất kỳmột loại hoạt động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, nói cách khác nódiễn ra theo một thủ tục nhất định Vậy thủ tục là gì? theo nghĩa thông thường,thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định,

một thể thống nhất Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là “cách thức

tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước” Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc”hay quy địnhchung phải tuân theo khi làm việc công

Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy“nhà nướccũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiếnhành các hoạt động quản lý nhà nước mới được quan tâm cả dưới góc độ nghiêncứu khoa học, xây dựng pháp luật thực hiện thủ tục trên thực tế Bản thân thủ tụckhông có mục đích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện cáchoạt động của Nhà nước.”

-“Thủ tục hành chính” (TTHC)“là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và

yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giảiquyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.”

- “Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ

quan thực hiện TTHC trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ

Trang 17

- “Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện TTHCcần phải

nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết TTHCtrướckhi cơ quan thực hiện TTHCgiải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổchức

- “Yêu cầu, điều kiện” là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục

hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụthể

Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa:“Thủ tục hành chính là trình

tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc thực hiện công việc của nhà nước và các kiến nghị yêu cầu thích đáng của công dân, tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính đảm bảo công vụ nhà nước phục vụ nhân dân ”

Thủ tục hành“chính là do pháp luật quy định, toàn bộ cá quy phạm về thủtục hành chính tạo thành chế định quan trọng của luật hành chính Chỉ các hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnhmới là thủ tục hành chính, còn tất cả các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể nào

đó trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không được các quy phạm thủtục hành chính điều chỉnh thì không phải là thủ tục hành chính.”

1.1.1.2 Đặc điểm thủ tục hành chính

Mặc dù có nhiều TTHC khác nhau nhưng do tính thống nhất của quản lýhành chính nhà nước nên các thủ tục hành chính có một số đặc điểm chung sauđây:

Thứ nhất, thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện các hoạt“động quản lýnhà nước hay thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước.Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi các cơ quannhà nước, các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền, trong đó quantrọng nhất phải kể đến là các cơ quan hành chính nhà nước Đây là một đặc điểmrất quan trọng của thủ tục hành chính, nó cho phép phân biệt thủ tục hành chínhvới các hình thức thủ tục khác thường được gọi là thủ tục tố tụng được tiến hành

Trang 18

tại tòa án.”

Thứ hai, thủ tục hành“chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định.Các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm quy phạm nội dung và quy phạmthủ tục: quy phạm nội dung trực tiếp quy định những quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể quản lý và đối tượng quản lý hành chính nhà nước Còn quy phạm thủtục, quy phạm cách thức.”

Thủ tục hành chính“do nhiều chủ thể tiến hành: thủ tục hành chính liênquan trực tiếp đến việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể quản lý, nhiều thủ tụchành chính là thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụcủa cá nhân, tổ chức.”

Thứ ba, thủ tục hành chính có tính mềm dẻo, linh hoạt

Hoạt động quản lý nhà nước vốn phong phú, đa dạng.“Nội dung và cáchthức tiến hành từng hoạt động cụ thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhưthẩm quyền năng lực của chủ thể quản lý, đặc điểm của đối tượng thủ tụchành chính với tính chất là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động quản lýđương nhiên phải linh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lý cho từng hoạtđộng quản lý Không chỉ có một mà có rất nhiều thủ tục hành chính.”

Bốn là, các văn bản thủ tục hành chính tản mạn, không tập trung Các văn

bản chứa đựng các thủ tục hành chính được quy định trong rất nhiều văn bảnpháp luật khác nhau Chẳng hạn ở lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính có rấtnhiều văn bản cụ thể hóa pháp lệnh được ban hành về xử phạt vi phạm hànhchính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau hoặc có những thủ tụchành chính được quy định trong các văn bản không phải là luật hành chính

Như vậy, so“với các quy phạm nội dung của Luật hành chính, thủ tụchành chính có tính năng động hơn và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn khi thực tếcuộc sống đã có những yêu cầu mới Nếu nhận thức đúng, phù hợp với thực tếkhách quan thì thủ tục hành chính sẽ mang tính tiến bộ, thiết thực phục vụ chocuộc sống Nhưng nếu nhận thức không phù hợp với yêu cầu khách quan thì sẽxuất hiện những thủ tục hành chính lạc hậu Khi áp dụng vào quá trình điều hànhcủa bộ máy Nhà Nước, chúng sẽ gây khó khăn cho sự phát triển của đời sống xã

Trang 19

hội Hoặc có những trường hợp được ban hành phù hợp với điều kiện kháchquan, đòi hỏ của cuộc sống nhưng bị hạn chế bởi chính những người thực hiệnnhư thói quan liêu, hách dịch, nhận thức chưa đúng sẽ dẫn đến kìm hãm sựphát triển của xã hội.”

1.1.1.3 Ý nghĩa của thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính“rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Nếuthiếu TTHC cần thiết thì trong nhiều trường hợp có thể một quyết định hànhchính sẽ bị vô hiệu hóa, hoặc bị hạn chế tác dụng Ví dụ nếu không đăng kýđúng thủ tục thì một người dân Việt Nam không thể xuất cảnh ra nước ngoàiđược Một doanh nghiệp có thể không được hoạt động nếu chủ doanh nghiệpkhông làm đủ các thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.Ýnghĩa đầu tiền của thủ tục hành chính là nó đảm bảo cho các quy phạm vật chấtquy định trong các quyết định hành chính được thi hành thuận lợi.Thủ tục càng

có tính cơ bàn thì ý nghĩa này càng lớn, bởi vì các thủ tục cơ bản thường tácđộng đến giai đoạn cuối của quyết định hành”chính, đến hiệu quả của việc thựchiện chúng

Một ý nghĩa khác của“thủ tục hành chính là nó đảm bảo cho việc thi hànhcác quyêt định thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũngnhư các hệ quả của việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra.”

Ý nghĩa của thủ tục hành chính còn được thể hiện ở chỗ, khi“được xâydựng và vận dụng một cách hợp lý, các thủ tục hành chính sẽ tạo ra khả năngsáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lạihiệu quả thiết thực cho quản lý Nhà nước Thủ tục hành chính liên quan đếnquyền lợi của công dân, do vậy khi được xây dựng hợp lý và vận dụng tốt vàođời sống nó sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, làm giảm sự phiền hà cũng cố được mốiquan hệ giữa nhà nước và công dân Công việc sẽ có thể được giải quyết nhanhchóng, chính xác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, góp phần chống được tệnạn tham nhũng, sách nhiễu Trong tình hình đó, vai trò của thủ tục hành chínhvới tư cách là một bộ phận của thể chế hành chính ngày càng có vai trò hết sức

Trang 20

to lớn, đặc biệt là từ khi chúng ta thực hiện chủ trương cải cách nền hành chínhquốc gia và cải cách thủ tục hành chính, ý nghĩa của thủ tục hành chính đượcđánh giá đúng mức hơn.”

“Xét trong tổng thể chung của việc xây dựng nền hành chính nhà nước, vìthủ tục hành chính cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính nên nắmvững và thực hiện tốt các quy định về thủ tục hành chính sẽ có ý nghĩa rất lớnđối với quá trình củng cố bộ máy nhà nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,khi đất nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xâydựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì thủ tục hành chính lạicàng có vai trò quan trọng Thực tế Đảng, Nhà nước đã và đang đề ra nhiều biệnpháp nhằm cải tiến thủ tục hành chính để chúng ta không những không cảnđường mà còn góp phần tích cực làm cho kinh tế có điều kiện hội nhập và pháttriển nhanh hơn Thông qua đó là cho tiến trìnhcải cách hành chính ngày càng cónhững bước đi phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế và xã hội của đất nước.”

“Khi nói đến ý nghĩa tổng quan của thủ tục hành chính cũng cần nhấnmạnh đến vị trí của nó trong thể chế của một nền hành chính mà nó góp phần tạonên Chúng ta đều biết rằng các thể chế điều hành đƣợc hình thành trong quátrình quản lý Nhà nước và chúng góp phần làm giảm bớt tình trạng bất trắc tronghoạt động điều hành Chúng giúp cho mọi người biết được cách thức hành độngphù hợp với Luật pháp và được luật pháp bảo vệ Thể chế và thủ tục hành chínhđều liên quan đến tổ chức hành chính và chúng được đặt ra để cung cấp phươngthức hoạt động cho con người Những tổ chức sau khi được thành lập muốn hoạtđộng có hiệu quả phải có những thể chế thích ứng và hữu hiệu Chính theo nghĩanày mà thủ tục hành chính có ý nghĩa như một công cụ điều hành cần thiết”chobất cứ tổ chức hành chính nào và ở bất kỳ phạm vi quản lý nào

“Như thế ý nghĩa của thủ tục hành chính không thể tách rời khỏi hoạtđộng của các tổ chức hành chính Thể chế và thủ tục lạc hậu sẽ cản trở các hoạtđộng của bộ máy quản lý nhà nước Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thể chế điềuhành cũng như thủ tục hành chính tự mình không thể phát huy tác dụng nếu

Trang 21

không có một bộ máy tổ chức được xây dựng khoa học và một chế độ công vụkiểu mẫu Đây là một quan hệ có tính biện chứng, tác động lẫn nhau một cáchthường xuyên Thực tế thời gian qua đã chứng minh điều này rất rõ ràng Ởnhiều ngành, nhiều cấp, bộ máy quản lý tổ chức không khoa học, chức năngnhiệm vụ không rõ ràng, nhiều khi các thủ tục hành chính đúng đắn đã khôngđược thực hiện Hệ quả của nó là nhiều chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước đã chậm được thi hành, thậm chí nhiều chính sách đã không được đi vàocuộc sống Vì vậy, đồng thời với nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trong quátrình cải cách bộ máy nhà nước, một nhiệm vụ quan trọng vẫn phải thườngxuyên quan tâm là xác định một cách rành mạch và có cơ sở chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình điều hành công việc.”

Tóm lại,“từ những phân tích ở trên, có thể khẳng định rằng thủ tục hànhchính là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước với công dân, vàvới các

tổ chức khác Chiếc cầu nối này có thể tạo ra khả năng làm bền chặt các mốiquan hệ của quá trình quản lý, làm cho nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân,

do dân và vì dân Chính vì vậy, thủ tục hành chính cần phải được xây dựng mộtcách khoa học”hơn nữa

“Thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện trình

độ văn hoá của tổ chức Đây là văn hoá giao tiếp trong bộ máy nhà nước, vănhoá điều hành Nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển.Chính vì lẽ đó, cải tiến thủ tục hành chính sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đếnpháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa của chúng ta mà còn liên quan đến sự pháttriển chung của đất nước về các mặt chính trị, văn hoá, giáo dục và đến sự mởrộng giao lưu giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.”

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại cải cách hành chính

1.1.2.1 Khái niệm cải cách hành chính

Trên thế giới về mặt lý thuyết có nhiều quan niệm khác nhau về cải“cáchhành chính Có quan niệm cho rằng cải cách hành chính là sự cải tổ và điềuchỉnh cơ cấu tổ chức do đó dẫn đến sự thay đổi về chức năng, phương thức quản

Trang 22

lý và cơ cấu nhân viên Đây là quan niệm có tính phổ biến và chủ đạo nhất Song

do quan điểm về ý thức hệ và tình hình thực tế của các nước khác nhau nên nộidung, mục tiêu cải cách hành chính cũng khác nhau Tuy vậy, cải cách hànhchính đều xuất phát từ thực tiễn và phát sinh chủ yếu do nguyên nhân sau: yêucầu tất yếu của phát triển kinh tế xã hội, yêu cầu tất yếu cảu việc cải tạo, điềuchỉnh cơ cấu hành chính, kết quả tất yếu của sự tác động của tiến bộ khoa họcvào quản lý hành chính Những yêu cầu của cải cách hành chính liên quan mậtthiết với nội dung cải cách hành chính, đồng thời liên quan chặt chẽ với tính chấtcủa cải cách hành chính Về tính chất, cải cách hành chính là một sự biến đổi haycách mạng trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc và quan hệ sản xuất, có tính chấtchính trị và giai cấp rõ rệt Tuy nhiên từ góc độ hành chính thì cải cách hành chínhphải phục tùng nhu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội vàthúc đẩy khoa học hóa sự quản lý công việc của toàn bộ hệ thống hành chính nhànước Tuy nhiên tính chất của cải cách hành chính ở các chế độ xã hội kinhtế”khác nhau, vẫn có sự khác biệt về bản chất

Thuật ngữ "cải cách" được sử dụng phổ biến“trong ngôn ngữ phương Tây

và phương Đông, được hiểu là một quá trình, một hoạt động có ý thức, có mụcđích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng tốt hơn hoặc thay thế cái cũbằng cái mới Cải cách có thể diễn ra ở những cấp độ, mức độ khác nhau Cónhững hoạt động cải cách có tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là

sự thay đổi ít nhiều so với ban đầu Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ khônghợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan Cải cách bao

gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi Cải cách còn được xem là

một biện pháp giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định Với

ý nghĩa đó, cải cách hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.”

Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là“quản

lý, lãnh đạo Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuậtngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu Tuy có nhiều cách

Trang 23

tiếp cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xãhội nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập những tỉ lệ giữa

các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Như vậy, hành chính theo nghĩa

chung là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là côngviệc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước Về cơ bản, hành chính là tổng thểnhững hoạt động (thao tác) nhất định do con người, chủ thể quản lý thực hiện đốivới khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới mộtmục tiêu đã định Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra

sự vận hành mang”tính hệ thống của xã hội

“Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì cảicách hành chính chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằmhợp lý hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành,

quản lý các hệ thống Như vậy, cải cách hành chính (CCHC) là hoạt động cải

tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả các hệ thống trong xã hội.

Song do hành chính gắn chủ yếu với hoạt động của các cơ quan nhà nước, cácthể chế chính trị nên khái niệm cải cách hành chính thường được coi là đồngnhất với khái niệm CCHC nhà nước.”

1.1.2.2 Đặc điểm của cải cách hành chính

Cải cách hành chính ở Việt Nam có những đặc điểm sau:

-“Cải cách được tiến hành trong khuôn khổ hệ thống chính trị một đảngduy nhất cầm quyền Mặt thuận lợi từ đặc trưng này chính là ở chỗ dễ tạo sựđồng thuận trong hoạch định chính sách, biện pháp, thể chế cho cải cách.”

-“Cải cách hành chính diễn ra cùng một lúc với khá nhiều cuộc cải cáchkhác, ví dụ như cải cách kinh tế, cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cáchgiáo dục v.v Đặc trưng này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất, tập trungnhằm bảo đảm mục tiêu chung của phát triển.”

-“Cải cách hành chính được triển khai trên diện rộng, ở tất cả các cấphành chính 6 lĩnh vực cải cách, mỗi lĩnh vực lại bao gồm một loạt các lĩnh vực

Trang 24

thành phần cho thấy tính phức tạp, độ rộng của cải cách hành chính ở ViệtNam.”

Từ những đặc điểm này rút ra những vấn đề sau:

- Cải cách hành chính không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng

“Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống mộtđảng duy nhất cầm quyền Đặc trưng này chi phối nhiều vấn đề, trong đó có vấn

đề cải cách hành chính Cải cách hành chính muốn tiến hành dược, muốn duy trì

và đẩy mạnh, trước hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải cách, càngkhông thể có những kết quả tích cực Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương cảicách hành chính đã được xác định trong một loạt các nghị quyết của Đảng tại cáchội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội VII cho đếnĐại hội XI Năm 2007 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng, chính là vì lầnđầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng có một Nghị quyết riêng về cải cáchhành chính, đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X.”

Cải cách“hành chính không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài họckinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách của Việt Nam Mặt thuận lợi của vấn đềnày chính là ở chỗ sự hiện diện của các tổ chức Đảng, của các đảng viên đanggiữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước từ trung ươngtới cơ sở Các thành viên này có trách nhiệm triển khai nghị quyết Đảng về cảicách hành chính thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động củacác cơ quan hành chính”nhà nước

- Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ là một yếu tố bảo đảm cải cáchhành chính đạt kết quả

“Với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vaitrò quan trọng trong chỉ đạo triển khai cải cách hành chính của đất nước Từ chủtrương của Đảng, Chính phủ có trách nhiệm cụ thể hoá thành các chương trình,

kế hoạch cải cách hành chính, trên cơ sở đó các bộ, ngành trung ương và chínhquyền địa phương các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế

Trang 25

hoạch cải cách hành chính của mình nhằm bảo đảm mục tiêu chung của cải cách

là xây dựng được một nền hành chính mạnh, hiệu lực, hiệu quả, vì dân phục vụ.”

Trước đây,“Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hànhchính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và mới đây đã ban hành Chương trình tổngthể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn”2011-2020

Công tác“chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ”đối với côngcuộc cải cách hành chính có ý nghĩa trên các phương diện:

Bảo đảm rõ định hướng, mục tiêu cải cách hành chính

Xác định rõ các nhiệm vụ cải cách

Xác định các trọng tâm, ưu tiên cải cách theo từng thời kỳ

Xác định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính, trước hết

là Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong triển khai cải cách hành chính

Tổng kết từ thực tiễn cải cách để hoạch định thể chế, cơ chế mới, có tínhchất áp dụng chung trong cả nước

- Cải cách hành chính triển khai với nhiều nội dung, vì vậy hết sức khókhăn và phải làm lâu dài

“So với nhiều nước có tiến hành cải cách hành chính thì cải cách hànhchính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, tổ chức bộ máy,thủ tục tới con người, các cơ chế hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin vàohành chính v.v Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hànhchính quốc gia đều đòi hỏi phải cải cách, thay đổi Chính vì vậy, việc triển khaikhông đơn giản và cũng không thể sớm đạt kết quả Vấn đề này chi phối trướchết công tác xây dựng kế hoạch cải cách hành chính của các bộ, ngành và địaphương Kế hoạch phải bao quát đủ các lĩnh vực cải cách, cụ thể hóa vào phạm

vi trách nhiệm của từng cơ quan Kể đến là công tác triển khai, kiểm tra việcthực hiện trong thực tiễn.”

-“Bảo đảm tính đồng bộ của cải cách hành chính với các cuộc cải cáchkhác trong hệ thống chính trị”

Trang 26

“Việt Nam cùng một lúc tiến hành một loạt các cải cách: cải cách lậppháp, cải cách tư pháp, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục v.v Mỗi cuộc cảicách theo đuổi các mục tiêu, kết quả riêng, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề đan xengiữa các cuộc cải cách, thậm chí có vấn đề không thể nói chỉ thuộc một cuộc cảicách riêng biệt Chính vì vậy, tính đồng bộ giữa các cuộc cải cách này có ý nghĩaquan trọng, nó tạo ra sự thống nhất ở tầm vĩ mô như hoạch định thể chế, chínhsách, pháp luật để bảo đảm các cuộc cải cách có thể tốt hơn, không gặp trởngại.”

Tuy nhiên,“thực tiễn có lúc không diễn ra như vậy Từ góc độ cục bộ củangành, lĩnh vực, đã có lúc các bộ chuẩn bị các dự án luật trình Quốc hội thôngqua và khi ban hành mới thấy rõ sự cản trở về cải cách hành chính đang đượctriển khai, làm cho thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý của các bộ phứctạp hơn” người dân, tổ chức phải vất vả hơn trong giải quyết công việc của mình

- Cải cách hành chính đòi hỏi phải có những thí điểm

Trong quá trình“cải cách, nhiều vấn đề trì trệ của nền hành chính đượcphát hiện và các giải pháp được đề xuất để thay đổi Thông thường, các giảipháp đó về bản chất khác hẳn giải pháp hiện hành, lại chưa được kiểm nghiệmtính đúng đắn và chưa được thể chế hóa Do vậy, hết sức cần thiết có sự thí điểm

để qua thực tiễn”xem xét tính phù hợp của các giải pháp

1.1.2.3 Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính

Cải cách“thủ tục hành chính không những là yêu cầu khách quan của nềnkinh tế, của các tầng lớp dân cư và cộng đồng quốc tế đòi hỏi mà còn là nhu cầu

tự thân của hoạt động quản lý hành chính”nhà nước

Mục tiêu trước mắt của cải cách thủ tục hành chính mà Đảng và Nhànước ta chủ trương là phải đạt được chuyển biến căn bản trong quan hệ về thủtục giải quyết công việc của công dân và tổ chức gồm:

Một là, phát hiện“và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu đồng bộ,chồng chéo, rườm rà, phức tạo đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp nhận và

xử lý công việc giữa cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với

Trang 27

công dân và tổ chức Những thủ tục như cấp phép, đăng ký, chứng thực, chứngnhận ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của tổ chức công dân nhưng lại do từngngành, từng địa phương ban hành nên rất dễ mâu thuẫn, chồng chéo, khó thựchiện, nhiều cơ quan tự ý đặt ra các khoản phí, lệ phí không đúng thẩm quyềnhoặc thu phí và lệ phí quá mức quy định, không công khai các quy định về thủtục cho dân biết đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với cơ quannhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý hành chính Nhà nước.”

“Hai là, xây dựng và ban hành các thủ tục hành chính giải quyết côngviệc đơn giản, rõ ràng, thống nhất, đúng pháp luật và công khai, vừa tạo thuậntiện cho công dân và tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc, vừa giữ vững kỷcương ngăn chặn tệ cửa quyền, sách nhiễu và tham nhũng trong công chức nhànước, đồng thời vẫn bảo đảm được trách nhiệm quản lý hành chính nhà nước.Thủ tục hành chính và việc thi hành nghiêm túc các thủ tục hành chính là haimặt của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Thủ tục hành chính khoa học,chặt chẽ đơn giản, đáp ứng các yêu cầu đặt ra sẽ được nhân dân đồng tình ủng

hộ Ngược lại thủ tục hành chính không sát với thực tế, phực tạp sẽ khó có thể đivào cuộc sống.”

“Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính thông qua việc xây dựng và thựchiện được các thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng thống nhất đúng pháp luật vàcông khai, minh bạch vừa là mục tiêu trước mắt đồng thời cũng là mục tiêu lâudài của công cuộc cải cách nền hành chính nước ta.”

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục đăng ký kinh doanh và cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh

1.1.3.1.Khái niệm đăng ký kinh doanh

Thuật ngữ “kinh doanh” hay “thương mại” (tiếng Anh là “bussines hayTrade) xuất hiện từ thế kỷ XI cùng với sự hình thành và phát triển của cácthương nhân, phường hội buôn bán Cho đến ngày nay khái niệm “kinh doanh”

có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng góc độ.Về mặt từ ngữ, từ điển tiếngViệt do Hoàng Phê chủ biên đã giải thích thuật ngữ “Kinh doanh” theo hai

Trang 28

nghĩa: thứ nhất “Kinh doanh” có nghĩa là gây dựng mở mang thêm, và nghĩa thứhai là tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời

“Dưới góc độ pháp lý Luật doanh nghiệp Việt Nam định nghĩa “kinhdoanh là thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường nhằm mục đích sinh lời””

“Theo“Nghị định 78/2015/NĐ - CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 định nghĩaĐăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin

về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc

dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng kýkinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thayđổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo kháctheo quy định”của Nghị định này

Hành vi kinh doanh có các dấu hiệu sau:

Hành vi phải mang tính chất nghề nghiệp.“Tính chất nghề nghiệp đượcthể hiện ở các đặc điểm chủ thể thực hiện hành vi khi tham gia thương trườngtheo sự phân công lao động xã hội; các hành vi được tiến hành thường xuyên, ổnđịnh, đều đặn, có tính chất chuyên nghiệp cao và mang lại nguồn thu nhập chínhcho người thực hiện hành vi;”

“Hành vi phải được thực hiện một cách độc lập Các chủ thể nhân danhchính mình để tiến hành hoạt động kinh doanh, tự quyết định và chịu tráchnhiệm trước mọi vấn đề liên quan; ”

Hành vi có mục đích sinh lời

1.1.3.2 Khái niệm thủ tục đăng ký kinh doanh

Như vậy, Đăng ký kinh doanh (thành lập doanh nghiệp) là việc

Nhà“nước ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của một chủ thể kinh doanh (chủ

thể kinh doanh ở đây bao gồm các cá nhân, tổ chức) Kể từ thời điểm đăng ký

kinh doanh chủ thể kinh doanh có đầy đủ các năng lực pháp lý (tư cách chủ thể)

Trang 29

để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật Nhà nước cungcấp những đảm bảo đầy đủ về mặt chính trị - pháp lý để chủ thể kinh doanh”cóđiều kiện thực hiện hoạt động kinh doanh.

“Đăng ký kinh doanh (thành lập doanh nghiệp) là một thủ tục hành chínhbắt buộc theo đó chủ thể kinh doanh tiến hành đăng ký với cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền và công khai hóa sự ra đời và hoạt động kinh doanh của mình vớigiới thương nhân và cộng đồng Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụxem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể kinh doanhtheo đúng quy định của pháp luật Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là căn

cứ pháp lý xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dưới sự quản lýcủa Nhà nước đồng thời cũng ghi nhận tư cách pháp nhân, tính hợp pháp củahoạt động kinh doanh, sự bảo hộ của Nhà nước với chủ thể kinh doanh.”

1.1.3.3 Đặc điểm của thủ tục đăng ký kinh doanh

“Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp mang đậm đặc trưng của mộtthủ tục hành chính như:”

Một là, “để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hay thay đổinội dung đăng ký kinh doanh chủ thể kinh doanh phải tuân thủ những trình tự,thủ tục về đăng ký kinh doanh theo luật định mà ở đây là Luật doanh nghiệp

2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.”

Hai là, “đồng nghĩa với việc được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, chủ thểkinh doanh đã chính thức được xác lập tư cách pháp nhân, được Nhà nước ghi nhận

sự tồn tại dưới góc độ pháp lý, chịu sự quản lý trực tiếp bởi cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền

1.1.3.4 Ý nghĩa của thủ tục đăng ký kinh doanh

Ý nghĩa củathủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với cơ quan quản lý Nhà nước ”

“Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong những công cụ để nhànước thực hiện chức năng quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Vậy nên,việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận về mặt pháp lý của

Trang 30

Nhà nước đối với sự ra đời và tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh Sự ghinhận về mặt pháp lý này được quy định cụ thể tại các Điều 47, 73,110, 172 Luậtdoanh nghiệp 2014 đó là khi chủ thể kinh doanh lựa chọn loại hình doanh nghiệp

và hoàn thất thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì

tư cách pháp nhân của chủ thể”kinh doanh được xác lập“ kể từ ngày được cấp

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”.

“Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là một trong những phươngthức để Nhà nước kiểm tra và giám sát hoạt động kinh doanh của chủ thể kinhdoanh.”

“ Ý nghĩa của thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với cá nhân,

tổ chức thành lập doanh nghiệp ”

“Đối với cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp ở đây gọi chung là chủthể kinh doanh thì đăng ký kinh doanh là một trong những công cụ để bước đầuthực hiện quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật mà cụ thể là đượckhẳng định rõ trong Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp

luật không cấm” Đây không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền năng pháp lý của

chủ thể kinh doanh Điều này đã được thể chế hóa tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định

78/2015/NĐ-CP về đăng ký thành lập doanh nghiệp: “Thành lập doanh nghiệp

theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ”.

1.1.3.5 Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh

Một trong“những thủ tục hành chính do các cơ quan“quản lý hành chínhnhà nước thực hiện hiện nay đang được quan tâm xem xét, đánh giá, có tác độngmạnh đến việc cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam đó là thủ tục đăng

ký kinh doanh Đây là thủ tục đầu tiên trong quá trình gia nhập thị trường của bất

kỳ loại hình doanh nghiệp nào Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân cônglao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện

Trang 31

đại hoá, trước hết Nhà nước cần khuyến khích mọi chủ thể trong xã hội phát huymọi tiềm năng của mình, mở rộng hoạt động kinh doanh, không ngừng tìm tòi vàsáng tạo để sản xuất ra những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mới đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng cao của thị trường Trong Hiến pháp và luật của hầu hết cácquốc gia, quyền tự do kinh doanh với tư cách là một trong những quyền cơ bảncủa công dân đều được đề cao và tôn trọng Điều 57 Hiến pháp nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã”quy định “Công dân có quyền tự do kinh

doanh theo quy định của pháp luật” Tự do kinh doanh cũng như quyền tự do

lựa chọn nghề nghiệp và mưu cầu hạnh phúc là những quyền công dân rất cơ bảnđược đảm bảo trong nền kinh tế thị trường”phát triển

Cải cách TTHC trong lĩnh vực đăng ký kinh“doanh là một trong nhữngnội dung quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nướcgiai đoạn 2001-2010, nhằm góp phần cải thiện môi trường đầu tư Nó là quátrình xem xét, sửa đổi về nội dung, quy trình, thủ tục, thời gian đăng ký kinhdoanh Qua đó loại bỏ hoặc thay thế những nội dung, thủ tục không cần thiết, đểviệc đăng ký kinh doanh đơn giản thuận tiện hơn về nội dung, quy trình, hồ sơ,rút ngắn về thời gian cho các nhà đầu tư, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tếcủa đất nước, tăng cường tính công khai, minh bạch góp phần vào công cuộcphòng chống tham nhũng một cách có hiệu quả hơn.”

Quan “ điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh ”

Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của“cải cách hành chính ở nước ta đãđược đề cập trong các văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khoá VII, Hội nghịTrung ương 3 và 7 khoá VIII, trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VIII, IX và X Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định cải cách nền hànhchính là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước đã đề ramục tiêu: xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụngđúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực, hiệu quả côngviệc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ

Trang 32

đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật”trong

“Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõsự“cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quantrọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta đãtiến hành cải cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quảrất đáng khích lệ Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nộidung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hóanền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng vàđược đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách Thủ tục hành chínhkhông chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền,

mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Cácquyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bảnpháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào về cơ bảnđều phải thông qua thủ tục hành chính”do các cơ quan, các cấp chính quyền nhànước quy định và trực tiếp giải quyết.”

Trang 33

Nghị quyết“Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng gần 20 lần nói đến vấn

đề cải cách hành chính Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đềnày Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XI”là: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập mới trường cạnh tranhlành mạnh và cải cách hành chính”, “bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hàcho tổ chức và công dân”, “tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh cải cách hành chínhphục vụ phòng, chống tham nhũng lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ratham nhũng, lãng phí”, “đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng khắcphục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục”, “đẩy mạnh cải cách lập pháp,hành pháp và tư pháp”, “thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính vàhiện đại hóa nền hành chính quốc gia”

“Từ quan điểm trên của Đảng, Chương trình cải cách hành chính giai

đoạn 2011-2020 là vấn đề chiến lược Vì vậy, các nội dung cải cách phải bảo

đảm tính hệ thống, tính khả thi của quá trình xây dựng một nền hành chính mới,một mô hình tổ chức hành chính phù hợp với thời kỳ phát triển mới, hội nhậpcủa đất nước.”

“Cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng

là cả một quá trình lâu dài, và phức tạp Nó yêu cầu phải đáp ứng cùng một lúcrất nhiều yêu cầu: hội nhập phát triển kinh tế nhưng phải đảm bảo tính phù hợpvới điều kiện Việt Nam, bảo đảm mục tiêu an ninh kinh tế, chính trị xã hội, …

Do vậy, trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã có những điều chỉnh trong công tác lãnh đạo, xác định các chủ trương, đườnglối phù hợp hơn.”

1.2 Phân định nội dung “ cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh ” tại các địa phương cấp tỉnh

1.2.1 “ Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan đăng ký kinh doanh và Quản

lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ”

Căn cứ vào“Nghị định số 78/2015/NĐ - CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 vềđăng ký doanh nghiệp chỉ rõ cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh,

Trang 34

thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) Phòng đăng ký kinhdoanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ vàtrả kết quả thuộc Phòng đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địabàn cấp tỉnh Cơ quan đăng ký kinh doanh”có tài khoản và con dấu riêng

Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

1 Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; xem xét tính hợp lệ của hồ sơđăng ký doanh nghiệp và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp

2 Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia vềđăng ký doanh nghiệp; thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật dữ liệu đăng

ký doanh nghiệp tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanhnghiệp

3 Cung cấp thông tin về đăng ký“doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệuquốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi địa phương quản lý cho Ủy bannhân dân cấp tỉnh, Cục thuế địa phương, các cơ quan có liên quan và các tổchức, cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật.”

4 Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về việc tuân thủ các quy định của LuậtDoanh nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp

5 Trực tiếp kiểm tra hoặc“đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểmtra doanh nghiệp theo nội dung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; hướng dẫn cơquan đăng ký kinh doanh cấp huyện về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinhdoanh; hướng dẫn doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp về hồ sơ, trình

tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp.”

6 Yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinhdoanh có điều kiện theo quy định tại Khoản 9 Điều 7 Nghị định này

7 Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệpthuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 62 Nghị định này

8 Đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật

Trang 35

1.2.2 Một số quy định pháp lý về cải cách thủ tục ĐKKD ở nước ta

Thủ tục đăng ký kinh doanh là một trong những thủ tục quan“trọng khi bắtđầu kinh doanh của doanh nhân Trong những năm qua, công tác ĐKKD đã cónhiều chuyển biến quan trọng đã và đang ngày một được hoàn thiện để đáp ứng tốtnhất yêu cầu của thực tiễn Cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh ở Việt Nam đãđược thực hiện thông qua các quy định pháp lý của Nhà nước Từ năm 1991 đếnnay, pháp luật về cải cách thủ tục ĐKKD được điều chỉnh bởi nhiều văn bản Luật

và Nghị định khác nhau với các loại hình doanh nghiệp, cụ thể” như sau:

Giai đoạn 1 (từ năm 1991 đến năm 1999)

Luật đầu tư nước ngoài 1987 - Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 - Doanh nghiệp tư nhân

Luật công ty 1990 - Công ty TNHH, Công ty cổ phân

Nghị định 388/HĐBT và Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995 - Doanh nghiệpnhà nước

Luật hợp tác xã năm 1997

Nghị định 66/HĐBT

“Theo Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (1990)“trình tự thủ tục đểthành lập một doanh nghiệp thực sự rườm rà, mất nhiều thời gian và chi phí của nhàđầu tư Thực tế, trong giai đoạn này, để một doanh nghiệp được thành lập và đăng

ký kinh doanh và đi vào hoạt động phải mất rất nhiều thời quan, qua nhiều cơ quan (đầu mối) đó là cơ quan làm thủ tục thành lập và cơ quan làm thủ tục đăng ký kinhdoanh với một chi phí không nhỏ Thực tế trước đây cho thấy, việc xin giấy phépthành lập doanh nghiệp thường là công đoạn khiến nhà đầu tư tốn nhiều công sức,thời gian và tiền bạc nhất Muốn có được giấy phép thành lập doanh nghiệp, bộ hồ

sơ xin phép của chủ đầu tư phải đi qua ít nhất 7 cơ quan”và được sự cho phép củahọ: từ UBND phường/xã, UBND quận/huyện, phòng công chứng, ngân hàng, sởquản lý chuyên ngành, bộ quản lý chuyên ngành và UBND Thành phố/tỉnh Chỉ saukhi được UBND Thành phố/tỉnh cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tưmới được tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh Đã có thống kê cho thấy, để thành

Trang 36

lập”được một doanh nghiệp, nhà đầu tư phải xin được khoảng gần 20 loại giấy tờvới con dấu khác nhau Đối với mỗi loại giấy chứng nhận, nhà đầu tư ít nhất phảiđến cơ quan Nhà nước 2 lần: một lần đến để "xin" và một lần đến để được "cho" (đó

là còn chưa tính đến trường hợp nhà đầu tư phải đi lại nhiều lần để bổ sung hồ sơ

"xin") Một số tỉnh, thành phố còn đặt ra những điều kiện và một số trình tự, thủ tục

và giấy tờ khác, không nằm trong quy định của Luật, do về thực chất, trong Luậtcông ty và Luật doanh nghiệp tư nhân trước đây chưa quy định rõ ràng về hồ sơthành lập doanh nghiệp Chính do những thủ tục hành chính phiền hà này mà thờigian cần thiết bình quân để thành lập một công ty phải mất đến vài tháng với nhữngkhoản chi phí không nhỏ (mà phần lớn là những khoản chi "không chính thức").Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh mang nặng tính hành chính của cơ chế

“xin - cho” này đã trở thành một trong những rào cản làm nản lòng các nhà đầu tưbởi nó đi ngược lại với những quy luật của cơ chế thị trường.”

“ Giai đoạn 2 (từ năm 2000 - đến 30/6/2006) đây là giai đoạn Luật doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực ”

Luật đầu tư nước ngoài (sửa đổi)

Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 và 2003

Trang 37

bản đã được cải cách, đơn giản hóa và rút ngắn hơn nhiều so với trước khi LuậtDoanh nghiệp năm 1999 ra đời Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khoá X, kỳhọp thứ 5 ngày 29/5/1999 thông qua, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2000.Đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình tích cực và nhất quán hoàn thiện môitrường kinh doanh của Việt Nam theo các nguyên tắc kinh tế thị trường, LuậtDoanh nghiệp được đánh giá là kết quả của sự tập hợp những kinh nghiệm quý báurút ra từ thực tiễn chuyển đổi cơ chế kinh tế suốt những năm cuối thập kỷ 90, màtrực tiếp là từ việc thực hiện Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân và được tiếpthu từ kinh nghiệm quốc tế, trước hết là Luật công ty của các nước ASEAN Luậtdoanh nghiệp của Việt Nam có đặc trưng nổi bật là thực hiện đột phá về thủ tụcĐăng ký kinh doanh để tạo thuận lợi dễ dàng cho việc thành lập mới các doanhnghiệp dân doanh ”

Giai đoạn 3 (từ 01/7/2016 đến 30/6/2015)

“Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã”

“Luật doanh nghiêp năm 2005: doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, công ty cổ phẩn, công tyhợp danh.”

“Nghị định số 88/2006/NĐ - CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng kýkinh doanh cho Hộ kinh doanh cá thể”

“Ngày 01/07/2006, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực cùng vớicác văn bản hướng dẫn thi hành đã đánh dấu một bước cải tiến mạnh mẽ trongcải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, xóa bỏ cơ bản các rào cản đăng ký gianhập thị trường đối với doanh nghiệp Cụ thể là: Kể từ năm 2007, các thủ tụcĐKKD, đăng ký thuế và khắc dấu theo nguyên tắc liên thông “một cửa”, loại bỏnhững khâu, thủ tục bất hợp lý hoặc không cần thiết Từ đó, quy trình ĐKKD vàđăng ký thuế được thực hiện với: 01 bộ hồ sơ duy nhất; 01 Giấy đề nghị đăng kýdoanh nghiệp chứa đựng các thông tin ĐKKD, đăng ký thuế; 01 Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký thuế); 01 mã

số doanh nghiệp duy nhất; 01 đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả.”

Trang 38

“Cùng với đó, việc chuyển đổi cơ chế ĐKKD từ “tiền kiểm” sang “hậukiểm” và thực hiện cơ chế liên thông giữa cơ quan ĐKKD, cơ quan thuế và công

an đã giúp giảm đáng kể thời gian thực hiện ba thủ tục cơ bản của quá trình gianhập thị trường Cụ thể là: từ 32 ngày (giai đoạn trước năm 2005) xuống 22 ngày(từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực), 15 ngày (kể từ năm 2007) vàcòn tối đa 5 ngày làm việc (kể từ năm 2008 đến nay) Đặc biệt, thời gian của cơquan thuế xử lý dữ liệu do cơ quan ĐKKD chuyển sang là 2 ngày làm việc, cơquan này có 3 ngày để vừa nhận, vừa xử lý và trả kết quả hồ sơ doanh nghiệp.”

“Như vậy, những cơ chế mới, những quy định mang tính “cởi trói” nhữngrào cản của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng vào sự phát triển mạnh mẽcủa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân Cụthể là: Từ năm 2000 đến 2010, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mớităng trung bình 20% mỗi năm, có khoảng 505.000 doanh nghiệp đăng ký thànhlập mới, gấp hơn 11 lần so với tổng số doanh nghiệp được thành lập trong cảthập”kỷ trước

“Bên cạnh đó, cùng với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin,hiệu suất, hiệu quả công tác của cán bộ ĐKKD đã tăng lên đáng kể khi số lượngdoanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế bùng nổ, thời gian xử lý hồ sơ ngàycàng được cắt giảm, trong khi số lượng biên chế cán bộ thì không có sự thay đổitương xứng trong hơn 10”năm qua

“Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành về cơbản đã tạo được một bước đột phá về cải cách các thủ tục hành chính, mở rộngcánh cửa gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn một sốhạn chế và những điểm có thể tiếp tục”đổi mới:

“ Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp hiện nay vẫn yêu cầu người thành lập doanh

nghiệp phải có một số điều kiện kinh doanh, như: bản sao chứng chỉ hành nghề củangười quản lý và xác nhận về vốn pháp định trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp khiđăng ký thành lập doanh nghiệp đối với một số ngành, nghề kinh doanh Quy định

Trang 39

này đã không còn hợp lý, gây khó khăn, tốn kém không cần thiết cho việc thành lậpDN.”

“ Thứ hai, theo cơ chế hiện tại thì thời gian thực hiện thủ tục ĐKKD là 5

ngày làm việc, trong đó có 2 ngày để cơ quan thuế cấp Mã số doanh nghiệp, 3ngày để cơ quan ĐKKD tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp Với cơ chế này, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpphải phụ thuộc vào việc chờ cấp Mã số doanh nghiệp từ cơ quan thuế, làm kéodài thời gian thực hiện thủ tục hành chính.”

“ Thứ ba, chưa có cơ chế liên thông trong việc thực hiện các thủ tục của

quy trình gia nhập thị trường Hiện nay, các thủ tục: ĐKKD, khắc dấu, mở tàikhoản ngân hàng, nộp thuế môn bài, đăng ký lao động, đăng ký bảo hiểm xã hội,đăng ký thành lập Công đoàn đang thực hiện riêng lẻ tại các cơ quan quản lý nhànước khác nhau, gây tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.”

“ Thứ tư, cách thức và yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh theo mã

ngành kinh tế quốc dân là chưa hợp lý Yêu cầu doanh nghiệp chỉ được kinhdoanh trong phạm vi ngành, nghề được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp đã hạn chế nguyên tắc “doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả cácngành nghề mà pháp luật không cấm”, gây thêm phiền hà, tăng thêm rủi ro, chiphí tuân thủ cho doanh nghiệp.”

“ Thứ năm, thủ tục giải thể phức tạp và chưa rõ ràng gây cản trở quá trình

rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp Cụ thể: trước khi nộp bộ hồ sơ giải thểtại cơ quan ĐKKD, doanh nghiệp phải hoàn thành nhiều bước, như: đăng báoquyết định giải thể, thanh lý hợp đồng, thanh toán các khoản nợ gồm cả nợ thuếvới Nhà nước, đặc biệt là phải hoàn thành quyết toán thuế với cơ quan thuế.Theo phản ánh của một số địa phương, thời gian hoàn thành thủ tục quyết toánthuế thường phức tạp và mất rất nhiều thời gian.”

Giai đoạn 4 ( từ 01/7/2015 đến nay)

Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH 13 ngày 26/11/2014

Nghị định số 78/2015/NĐ – CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 về đăng ký DN

Trang 40

Như vậy, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) vừa được Quốc hội khóa XIII, kỳhọp thứ 8“thông qua vào ngày 26/11/2014 đã có nhiều cải cách quan trọng, gópphần đơn giản hoá thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cácdoanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam như:”

“ Thứ nhất, Luật đã ghi nhận và cụ thể hoá nguyên tắc về quyền tự do

kinh doanh của nhà đầu tư tại Điều 7 Luật DN năm 2014 Theo đó, nhà đầu tưđược tự do kinh doanh trong ngành nghề mà pháp luật không cấm kinh doanhthay cho quyền chỉ được kinh doanh những ngành nghề được ghi trong giấychứng nhận đăng kí kinh doanh như quy định của Luật DN năm 2005.”

“ Thứ hai, so với Luật DN năm 2005, Luật DN năm 2014 đã cải cách thủ

tục đăng kí doanh nghiệp, cụ thể như:”

“ Một là rút ngắn thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp từ

10 ngày xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ (khoản 2 Điều 27);

bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp(Điều 29);”

“ Hai là trong quá trình hoạt động khi thay đổi về ngành nghề kinh doanh

thì doanh nghiệp chỉ cần thông báo với cơ quan đăng kí kinh doanh trong thờihạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi chứ không cần phải đăng kí kinh doanh bổ sungnhư quy định của Luật DN năm”2005;

“ Ba là Luật DN năm 2014 chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu

kiểm trong việc quản lí nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh có điềukiện Theo đó, trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp (từ các Điều 20 đến Điều 23)không có các giấy tờ xác nhận về vốn pháp định hay bản sao chứng chỉ hànhnghề của một số cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp/người quản lí, điều hànhdoanh nghiệp… như quy định của Luật DN”năm 2005

Thứ ba,“Luật DN năm 2014 hoàn thiện hơn các quy định về quản trịdoanh nghiệp theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhàđầu tư, đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh an toàn hơn, hấpdẫn hơn Theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng thế giới thì mức độ bảo vệ nhà

Ngày đăng: 02/02/2020, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19.“Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH 13 ngày 26/11/2014”20.“Từ điển tiếng Việt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH 13 ngày 26/11/2014”20.“Từ điển tiếng Việt
21.“Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanhnghiệp
22.“Nghị định số 63/2014/ NĐ – CP, xử lý tình huống đấu thầu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2014/ NĐ – CP, xử lý tình huống đấu thầu
23.“Nghị định số 172/2013/NĐ – CP, Thủ tục thông báo tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 172/2013/NĐ – CP, Thủ tục thông báo tạm ngừng kinh doanh củahộ kinh doanh
24.“Nghị định số 193/2013/NĐ – CP, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 193/2013/NĐ – CP, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh của hộ kinh doanh
25.“Nghị định số 118/2015/NĐ – CP, Đăng ký giấy chứng nhận đầy tư không gắn với thành lập doanh nghiệp hoặc chi nhánh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 118/2015/NĐ – CP, Đăng ký giấy chứng nhận đầy tư không gắnvới thành lập doanh nghiệp hoặc chi nhánh
26.“Nghị quyết 36a/NĐ – CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 36a/NĐ – CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ
27.“Nghị quyết số 35/NQ – CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/NQ – CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và pháttriển doanh nghiệp đến năm 2020
29.Nguyễn Thị Nga (2016), “Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ ngành Luật, trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Namhiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Nga
Năm: 2016
32.“Nguyễn Đình Cung (2004), Thời điểm cho sự thay đổi: Đánh giá Luật doanh nghiệp và khuyến nghị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cung (2004), Thời điểm cho sự thay đổi: Đánh giá Luật doanhnghiệp và khuyến nghị
Tác giả: “Nguyễn Đình Cung
Năm: 2004
33.“Nguyễn Đình Cung (2004), Báo cáo đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của Luật doanh nghiệp năm 1999” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cung (2004), Báo cáo đánh giá những điểm mạnh và điểm yếucủa Luật doanh nghiệp năm 1999
Tác giả: “Nguyễn Đình Cung
Năm: 2004
34.“Thông tư số 16/2015/TT – Bộ kế hoạch và Đầu tư, đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư gắn với thành lập doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/2015/TT – Bộ kế hoạch và Đầu tư, đăng ký cấp giấy chứngnhận đầu tư gắn với thành lập doanh nghiệp
35.“Thông tư số 20/2015/ TT – Bộ kế hoạch đầu tư, Thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2015/ TT – Bộ kế hoạch đầu tư, Thủ tục chấm dứt hoạt độngkinh doanh
36.“Thông tư số 03/2014/TT – Bộ kế hoạch Đầu tư, Thủ tục cấp lại giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh ( bị mất hoặc bị rách nát)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2014/TT – Bộ kế hoạch Đầu tư, Thủ tục cấp lại giấy chứngnhận đăng ký hộ kinh doanh ( bị mất hoặc bị rách nát)
37.“Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp để thực hiện việc công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưhướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp để thực hiện việc công bố nội dung đăng kýdoanh nghiệp
38. Trần Thị Tố Uyên (2005), “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ khoa Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thựctrạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Trần Thị Tố Uyên
Năm: 2005
39.Nguyễn Thị Yến (2010), “Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện”, tạp chí Luật học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp cầnđược tiếp tục hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Thị Yến
Năm: 2010
30.Trần Huỳnh Thanh Nghị ( 2011), “Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt nam trong chặng đường 10 năm hội nhập quốc tế ( 2000 – 2010), tạp chí Luật học số 8/2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w