1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ tổ chức kế toán quản trị tại công ty cổ phần bánh kẹo hải hà 1

141 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế phát triển và hội nhập, để cạnh tranh và tạo được lợi thế trong kinh doanh, chiếmlĩnh thị trường thì việc tổ chức tốt công tác thu thập thông tin, hệ thống và xử lý,phâ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưađược công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dungđược trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quyđịnh về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứucủa mình

Tác giả

PHẠM THỊ THU HIỀN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học ThươngMại, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã được sự giảng dạy và hướng dẫnnhiệt tình của các thầy cô giáo Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS TrầnThị Hồng Mai, người đã hướng dẫn tác giả chu đáo, tận tình trong suốt quá trình tácgiả học tập, nghiên cứu để tác giả hoàn thành đề tài Cùng với đó, tác giả cũng xinbày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thày cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả trongsuốt khóa học Tác giả cũng xin cảm ơn Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà đã giúp

đỡ và hỗ trợ tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập và nghiên cứu nhưng luận văn khôngthể tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được nhữnggóp ý từ các nhà khoa học để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đề tài hơn nữa

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

PHẠM THỊ THU HIỀN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Câu hỏi nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Bố cục của đề tài nghiên cứu 8

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9

1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp 9

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 9

1.1.2 Đối tượng của kế toán quản trị 10

1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị 11

1.2 Khái quát về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 13

1.2.1 Khái niệm tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 13

1.2.2 Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 15

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 17

1.4 Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 19

1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp 19

1.4.2 Tổ chức lập dự toán sản xuất kinh doanh 23

1.4.3 Tổ chức thu thập thông tin kế toán quản trị 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 37

2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh 39

2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 39

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 40

2.1.5 Tổ chức bộ máy quản lý 43

2.1.6 Tổ chức bộ máy kế toán và chính sách kế toán của Công ty 46

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 49

2.2.1 Các nhân tố khách quan 50

2.2.2 Các nhân tố chủ quan 51

2.3 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà .54

2.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị 54

2.3.2 Tổ chức lập dự toán 54

2.3.3 Tổ chức thu thập thông tin kế toán quản trị 58

2.3.4 Tổ chức xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị 70

2.4 Đánh giá về tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà .73

2.4.1 Những kết quả đạt được 73

2.4.2 Những hạn chế cần khắc phục 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 79

3.1 Định hướng phát triển công ty và quan điểm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 79

3.1.1 Định hướng phát triển công ty 79

Trang 5

3.1.2 Quan điểm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại công ty 81

3.2 Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 82

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán quản trị 82

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức lập dự toán 84

3.2.3 Hoàn thiện tổ chức thu thập thông tin kế toán quản trị 86

3.2.4 Hoàn thiện tổ chức xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị 90 3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp 95

3.3.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng 95

3.3.2 Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 96

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU BẢNG

Bảng 2.2: Mã chi tiết vật tư 60

Bảng 3.1: Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 88

Bảng 3.2: Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp 89

Bảng 3.3: Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung 89

Bảng 3.4: Bảng tổng hợp chi phí theo ứng xử của chi phí 90

Bảng 3.5: Bảng tổng hợp chi phí theo khả năng kiểm soát chi phí 91

Bảng 3.5: Mẫu Báo cáo kết quả kinh doanh dạng số dư đảm phí (cho một sản phẩm) 94

Bảng 3.6: MẪU Báo cáo kết quả kinh doanh dạng số dư đảm phí (cho nhiều sản phẩm) 94

SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình thông tin 1 chiều xuống 24

Sơ đồ 1.2: Mô hình lập dự toán 2 xuống 1 lên 25

Sơ đồ 1.3: Mô hình lập dự toán 1 lên 1 xuống 25

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu sản xuất của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 41

Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất bánh 42

Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất kẹo 43

Sơ đồ 3.1: Hệ thống dự toán của Công ty 85

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đang hội nhập sâu rộng vớinền kinh tế thế giới, phát triển theo hướng mở cửa làm xuất hiện nhiều thành phầnkinh tế khiến cho tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tăng lên rõ rệt Các doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển cần có chiến lược kinh doanh rõ ràng, năng độngtrong tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, thích nghi tốt những thay đổi từmôi trường tác động trực tiếp tới doanh nghiệp Để đáp ứng được các yêu cầu này, đòihỏi kế toán cung cấp thông tin một các thường xuyên, liên túc và hữu ích phục vụ kịpthời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị ở nhiều cấp độ khác nhau

Tuy nhiên, để có thể phát huy một cách tốt nhất chức năng thông tin vàkiểm tra của mình thì cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh Đó là

hệ thống kế toán không chỉ tìm kiếm được các thông tin quá khứ mà còn phảihướng đến những diễn biến trong tương lai nhằm giúp các nhà quản lý doanhnghiệp hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và đưa ra được những quyếtđịnh đúng đắn, phù hợp, kịp thời Hệ thống kế toán như thế bao gồm: Kế toán tàichính và kế toán quản trị

Kế toán quản trị được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị vớichức năng cung cấp thông tin quá khứ, hiện tại và đặc biệt là thông tin tương lai chocác nhà quản lý Nhà quản trị sau khi lập kế hoạch đây đủ và hợp lý, tổ chức thựchiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch Trong nền kinh

tế phát triển và hội nhập, để cạnh tranh và tạo được lợi thế trong kinh doanh, chiếmlĩnh thị trường thì việc tổ chức tốt công tác thu thập thông tin, hệ thống và xử lý,phân tích và cung cấp thông tin để phục vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp để từ đó

tổ chức tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanh có ý nghĩa to lớn trong việc nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Theo báo cáo của các cơ quan Chính phủ, tăng trưởng ngành bánh kẹo tronggiai đoạn 2010-2014 là 10%, dự báo năm 2015 – 2019 chỉ đạt 8% - 9% Mặt khác,

Trang 9

đây không phải sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, bắt buộc tiêu dùng hằng ngày nhưgạo, muối,…nên khi đời sống khó khăn thì đây là một trong những mặt hàng đầutiên người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu Bên cạnh đó các doanh nghiệp trong nướccũng chịu nhiều sức ép từ những hàng sản xuất bánh kẹo 100% vốn nước ngoài vớimáy móc công nghệ hiện đại, nhu cầu tiêu thụ hàng ngoại của người tiêu dùng tăngcao nên đã chiếm lĩnh phần lớn phân khúc cao cấp của bánh kẹo Việt Nam tại trịtrường Việt Nam Tuy nhiên, so với mức bình quân của thế giới là 1,5% và của khuvực Đông Nam Á là 3% thì tăng trưởng ngành bánh kẹo tại Việt Nam vẫn cao hơn

và có tiềm năng

Đối với bản thân công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tuy là một trong nhữngcông ty bánh kẹo đầu tiên của ngành công nghiệp bánh kẹo nên trong xu hướng pháttriển xã hội ngày nay đang phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường cả về chất lượng,mẫu mã lẫn giá bán Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị của công ty phải tổ chứcchặt chẽ hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chi phí, giá thành, địnhgiá bán, nâng cao chất lượng sản phẩm để duy trì và mở rộng thị trường Hiện nay,công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà đã dần hoàn thiện hệ thống kế toán tài chính tuynhiên, ở góc độ kế toán quản trị chưa được nghiên cứu, ứng dụng một cách toàndiện, đầy đủ để có thể hỗ trợ tổ chức tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanhtrong doanh nghiệp sản xuất Mặc khác, chưa có nghiên cứu nào về tổ chức kế toánquản trị tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà Đặc biệt trong thời gian gần đây (cụthể năm 2018), nhà đầu tư chính của Công ty là Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đãthoái vốn (51%) Sự kiện này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty, đòi hỏi công ty càng phải nỗ lực, quan tâm nhiều hơn đến kế toán quảntrị của đơn vị mình

Từ những lý do đó, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị

Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kế toán tài chínhtrong doanh nghiệp, công tác kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu

Trang 10

quả công tác quản lý Tính đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tổchức công tác kế toán tại doanh nghiệp tập trung vào hai nội dung: tổ chức công tác

kế toán tài chính và tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp Việt Nam đang từng bước nâng cao vai trò của KTQT trong việc xâydựng hệ thống thông tin kế toán nhằm nâng cao chất lượng quản lý, phục vụ hiệuquả cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị Thông qua các công trình nghiêncứu này tác giả sẽ kế thừa một số lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trongdoanh nghiệp vào bài nghiên cứu của mình

Nguyễn Hoản (2012) đã hệ thống hóa và nâng cao lý luận về tổ chức Kếtoán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất trong đề tài tiến sĩ: “Tổ chức

kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo của ViệtNam” Đồng thời, tác giả khảo sát và chỉ rõ thực trạng tổ chức kế toán chi phítrong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo Việt Nam Từ đó, đưa ra được nhữngquan điểm nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sảnxuất bánh kẹo Việt Nam

Trong luận văn thạc sĩ “Tổ chức kế toán quản trị tại công ty cổ phần thựcphẩm Hữu Nghị” (Tô Thị Vân Anh, 2013), tác giả đã hệ thống hóa những lý luận cơbản về tổ chức kế toán quản trị, phản ánh thực trạng tổ chức kế toán quản trị liênquan đến việc nhận diện các nhân tố ảnh hưởng, cách lập dự toán, tổ chức báo cáo

kế toán quản trị phục vụ cho các quyết định ngắn hạn và dài hạn của nhà quản trịdoanh nghiệp Tuy nhiên, luận văn chưa làm rõ sự khác nhau giữa tổ chức kế toánquản trị và kế toán quản trị

Đề tài thạc sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanhnghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” (Nguyễn Thị Ngọc Lan,2014) về lý luận đã hệ thống hóa được các vấn đề liên quan đến tổ chức kế toánquản trị Qua khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thànhphố Hồ Chí Minh đề tài đã đưa ra những đánh giá và nhận xét về tình hình tổ chứccông tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ ChíMinh Qua đó, nêu ra những điểm chưa thực hiện được và đưa ra các giải pháp hoàn

Trang 11

thiện tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địabàn TP.Hồ Chí Minh.

Trong đề tài “Tổ chức kế toán quản trị tại công ty cổ phần Sông Đà 2” (TrầnPhương Nhung, 2015) tác giả đã trình bày, làm rõ những vấn đề lý luận chung vàthực trạng về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp cổ phần nói chung vàcông ty cổ phần Sông Đà 2 nói riêng Tác giả phân tích khá tỉ mỉ về thực trạng,những kết quả đạt được của tổ chức kế toán theo 5 nội dung Đồng thời, từ nhữnghạn chế mà tác giả rút ra từ khảo sát thực tế, tác giả đã đưa ra được các giải pháphoàn thiện một cách có hệ thống theo các nội dung đã trình bày

Bài viết của Nguyễn Văn Hải trong tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số T3/2017,nghiên cứu về “Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hiệu quả của thông tin kếtoán quản trị chi phí trong doanh nghiệp”, tổng quan các nghiên cứu về tổ chức hệthống thông tin kế toán (AIS) nói chung và các nghiên cứu về tổ chức hệ thốngthông tin kế toán quản trị chi phí nói riêng Từ đó, đưa ra các nhân tố ảnh hưởngđến việc tổ chức và hiệu quả của thông tin kế toán quản trị chi phí trong DN nhằmgiúp cho các DN có thể tìm hiểu và ứng dụng trong quá trình tổ chức hệ thốngthông tin kế toán quản trị chi phí trong DN

Qua quá trình đánh giá tổng quan các nghiên cứu và tài liệu liên quan đến tổchức công tác kế toán, hệ thống các nghiên cứu đã góp phần hình thành một cơ sở

lý thuyết khá đầy đủ và rõ ràng về khái niệm tổ chức công tác kế toán, các nội dung

cơ bản của công tác kế toán tại doanh nghiệp và các giải pháp về hoàn thiện tổ chứccông tác kế toán Tuy nhiên, một số nội dung về tổ chức công tác kế toán phản ánhtrong các nghiên cứu còn thiếu sót, chưa chặt chẽ, các giải pháp còn mang tínhchung chung, chưa cụ thể và chưa gắn với thực tế của đơn vị nghiên cứu Bên cạnh

đó, các công trình chưa nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa nội dung của tổ chứcKTQT với đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với điều kiện của doanhnghiệp Mặt khác, các công trình nghiên cứu về KTQT đã công bố chưa đi sâu về tổchức kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp bánh kẹo nói chung, Công ty

Cổ phần bánh kẹo Hải Hà nói riêng Trong khi đó ngành này là ngành đang rất cần

Trang 12

những thông tin kế toán quản trị và việc vận dụng từ những lý thuyết cơ bản vàothực tiễn của từng ngành trong hoàn cảnh kinh tế - pháp lý cụ thể không phải làđơn giản.

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kếtoán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức kế toán quản trị tại Công

ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty

Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để định hướng cho việc nghiên cứu, giải quyết được các mục tiêu cơ bản và

cụ thể đã đặt ra, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi:

- Lý luận chung và tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất nhưthế nào?

- Tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà được thựchiện thế nào, đã đạt được những thành tựu như thế nào trong việc đáp ứng nhu cầuquản lý? Có những tồn tại nào cần phải khắc phục?

- Các giải pháp nào cần phải được áp dụng vào thực tế để hoàn thiện tổ chức

kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực trạng tổ chức kế toán quản trị tạiCông ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

- Nội dung: Nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Bánhkẹo Hải Hà, không đi sâu vào kỹ thuật kế toán quản trị

- Thời gian nghiên cứu: Số liệu 2 năm từ 2017 đến năm 2018 làm ví dụ minh họa

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập dữ liệu có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên nhữngluận cứ để chứng minh những luận điểm khoa học Độ tin cậy, giá trị khoa học củatoàn bộ công trình nghiên cứu phụ thuộc vào dữ liệu mà người nghiên cứu thu thậpđược Để thu thập dữ liệu, luận văn đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ

sở giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Khi vấn đề nghiên cứu đượchình thành, mục đích rõ ràng thì sẽ xác định được các câu hỏi phỏng vấn Ngườiphỏng vấn đưa ra các câu hỏi và ghi lại câu trả lời của người được phỏng vấn

Nội dung phỏng vấn bao gồm: Tổng quan về tổ chức kế toán, tổ chức KTQTtại đơn vị, tổ chức thu thập thông tin trong tương lai, xây dựng định mức, lập dựtoán, hệ thống và xử lý thông tin

Phương thức thực hiện: Phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý, kế toán hoặc nhữngngười trực tiếp phụ trách thực hiện công tác kế toán tại Công ty cổ phần bánh kẹoHải Hà

Để được thực hiện phỏng vấn, tác giả thực hiện thông qua thư giới thiệu nêu

rõ lý do, nội dung, mục đích của cuộc phỏng vấn Sau khi được sự chấp thuận, tácgiả gửi danh mục câu hỏi cho các đối tượng thông qua gmail hoặc đến trực tiếpcông ty để phỏng vấn (Phụ lục 01)

Cuộc phỏng vấn được thực hiện trên cơ sở các câu hỏi mở nhằm tạo thuận lợicho người tham gia phỏng vấn bảy tỏ ý kiến, quan điểm của bản thân.Từ đó giúp tácgiả tổng hợp ý kiến cũng như có thể phát hiện ra các vấn đề mới trong quá trìnhđiều tra

Kết quả phỏng vấn là sự đồng thuận, nhất trí và cho phép sử dụng để công bốdưới hình thức của một công trình nghiên cứu khoa học

Trang 14

Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà, tác giả đã trực tiếp quan sát đồng thời học hỏi quy trìnhlàm việc, tổ chức công tác kế toán, công tác luân chuyển, xử lý chứng từ tại phòng

kế toán tại trụ sở chính ở Hà Nội của công ty Tại các chi nhánh khác của Công ty,tác giả không quan sát trực tiếp mà chỉ thu thập thông tin được một số chứng từ, tàikhoản, sổ kế toán qua email

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là việc thu thập dữ liệu thông qua các kênhthông tin khác nhau nhằm thu thập các dữ liệu có liên quan đến vấn đề đangnghiên cứu

Tài liệu lý luận: Bao gồm Thông tư 200/2014 của Bộ Tài Chính, chứng từ, sổsách, báo cáo tài chính, hệ thống tài khoản kế toán; chuẩn mực kế toán Việt Nam vàquốc tế, luật kế toán, các thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán hiệnhành, giáo trình của một số trường đại học, các bài viết về kế toán đã được công bố.Tài liệu thực tế: Các chứng từ liên quan đến kế toán, kế toán quản trị gồm hệthống chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo kế toán của công ty Phương pháp nàycho các kết quả chính xác và đầy đủ về thông tin số liệu của công ty

6.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu

Từ những dữ liệu được thu thập qua việc phỏng vấn, quan sát và nghiên cứutài liệu, tác giả sắp xếp lại các dữ liệu đã thu thập được theo trật tự logic, danh mụcchủ đề

- Phương pháp tổng hợp phân tích số liệu: Sử dụng các công cụ tính toán trên

phần mềm Excel để tổng hợp, chạy dữ liệu

Qua việc thu thập các tài liệu, số liệu và thông tin có sẵn qua các tạp chí, cáckết quả nghiên cứu khoa học và báo cáo cáo tổng kết tại công ty hoặc điều traphỏng vấn trực tiếp, tác giả có thể đánh giá được việc tổ chức kế toán quản trị tạidoanh nghiệp có hợp lý hay không? Phù hợp với nguyên tắc quản lý kinh tế tàichính hay không?Mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp chưa?Từ đó tìm ra được cáctồn tại, hạn chế trong tổ chức kế toán quản trị và tìm ra các giải pháp để hoàn thiệncông tác tổ chức kế toán quản trị tại đơn vị đang nghiên cứu

Trang 15

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này sử dụng để so sánh các chỉ tiêu với

nhau, đánh giá chênh lệch và rút ra kết luận về kết quả của các chỉ tiêu thực hiện sovới kế hoạch

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất

Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

Trang 16

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị

Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán trong doanh nghiệp, ra đời trongđiều kiện kinh tế thị trường Kế toán quản trị nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạngtài chính của doanh nghiệp, tổng hợp thông tin kế toán quá khứ, hiện tại và tươnglai, phục vụ cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định

Cũng giống như khái niệm kế toán, kế toán quản trị hiện có nhiều khái niệmkhác nhau với những góc độ khác nhau

Xét trên góc độ tiếp cận thông tin của kế toán cho hoạt động quản trị để đưa racác quyết định thì “Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản trịtrong việc lập kế hoạch, điều hạnh, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý kinh tế tài

chính trong nội bộ doanh nghiệp” (Giáo trình Kế toán quản trị, trường Đại học

Thương Mại, 2006)

Theo khoản 3, điều 10, Luật kế toán Việt Nam (2015): “Kế toán quản trị làviệc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầuquản trị và ra quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) năm 1989 đưa ra định nghĩa về kế toán quảntrị trong Bản báo cáo về các khái niệm kế toán như sau: “Kế toán quản trị là quytrình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin (cả tài chính

và hoạt động) được sử dụng bởi nhà quản lý để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soáttrong một tổ chức, đảm bảo nhà quản lý sử dụng và có trách nhiệm giải thích đốivới nguồn lực của tổ chức”

Như vậy, có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về kế toán quản trị,nhưng có thể khẳng định: Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, phân tích, xử

lý và cung cấp thông tin kinh tế có thể định lượng về hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 17

phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch vàquản lý hoạt động kinh kế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.

Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của DN:

“Chi phí của từng bộ phận, từng công trình, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hìnhthực hiện kế hoạch về doanh thu chi phí lợi nhuận; Quản lý tài sản, vật tư tiền vốn,công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọnthông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn và dài hạn; Lập dự toán ngânsách sản xuất kinh doanh…nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết địnhkinh tế” (Thông tư 53/2006 của BTC) KTQT là công việc của từng DN, nhà nướcchỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức, nội dung, phương pháp kế toánquản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho DN thực hiện

1.1.2 Đối tượng của kế toán quản trị

Kế toán quản trị là một phân hệ kế toán trong các tổ chức hoạt động, được thểhiện rõ nét nhất trong các doanh nghiệp kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp tự chủ tàichính Do vậy, kế toán quản trị cũng có đối tượng nghiên cứu chung của kế toán làtài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính của tổ chức hoạt động

Bên cạnh đó kế toán quản trị còn nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụthể hóa nhằm cung cấp các thông tin nhanh, chính xác cho các cấp quản trị đạt đượcmục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận:

- Nghiên cứu sâu về chi phí của doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau nhưphân loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, xác định chi phí phátsinh…nhằm mục đích kiểm soát và quản lý chi phí chặt chẽ và dự toán chi phíchính xác để tối thiểu hóa chi phí

- Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất như lao động, hàng tồn kho và tài sản

cố định nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất và lợinhuận cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường

- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, lợi nhuận thông qua các hệthống báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thành các quyết định điều hànhhoạt động của doanh nghiệp

Trang 18

- Xây dựng các trung tâm trách nhiệm, phân tích chi phí, doanh thu và lợinhuận theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cần đầu tư thêmhay thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động của từng bộ phận nhằm phát triển và bảo đảm

an toàn của vốn kinh doanh Đồng thời xác định trách nhiệm của cá nhân, bộ phậntrong tổng thể doanh nghiệp

- Kiểm soát việc thực hiện từng khâu công việc, làm rõ các nguyên nhân gây

ra sự biến động giữa chi phí theo dự toán và thực tế Từ đó phát huy những thếmạnh trong hoạt động kinh doanh và có các biện pháp ngăn chặn những điểm yếunhằm nâng cao hiệu quả của từng hoạt động kinh doanh

- Cung cấp các thông tin cần thiết để làm sang tỏ việc đưa ra quyết định kinhdoanh hiện tại và tương lai Xây dựng các dự toán chi phí, doanh thu và kết quả tàichính nhằm dự báo các kết quả kinh doanh diễn ra theo kế hoạch

- Phân tích và lựa chọn các phương án đầu tư ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo

an toàn và phát triển vốn trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất

1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị

Kế toán quản trị là kế toán theo chức năng quản lý, vì thế nó có vai trò quantrọng trong việc cung cấp thông tin, tổ chức và điều hành, kiểm tra và ra quyết địnhcủa nhà quản trị Cụ thể:

- Cung cấp thông tin để lập kế hoạch

Lập kế hoạch là xác định các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực hiện

để dạt những mục tiêu đó.Các kế hoạch được lập ra có thể là dài hạn hoặc ngắnhạn.Các kế hoạch thường được lập dưới dạng dự toán ngân sách, nhằm liên kết cácmục tiêu và chỉ rõ các huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu đề ra”.Ví

dụ, dự toán chi phí sản xuất là liên kết giữa mục tiêu sản lượng sản xuất kế hoạchvới mục tiêu chi phí kế hoạch

“Để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, để các

kế hoạch và các dự toán lập ra đảm bảo tính khoa học, hiệu quả và khả thi cao đòihỏi chúng phải đươc dựa trên những thông tin đầy đủ, thích hợp và có cơ sở Những

thông tin này chủ yếu do KTQT cung cấp.”(Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học

Thương mại, 2006)

Trang 19

- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động

Để giúp nhà quản trị ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình tổ chức điềuhành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra, KTQT sẽcung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau.Thông tin KTQT cung cấp cho nhà quản trị đề ra các quyết định kinh doanh đúngđắn trong quá trình lãnh đạo hoạt động hàng ngày hoặc các kế hoạch đầu tư dài hạn.KTQT cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khácnhau để nhà quản trị có thể xem xét, để ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình

tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu vạch ra.Như vậy, KTQT phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin đầu vào và hệ thống hóa các

số liệu chi tiết theo hướng đã định

- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá

KTQT sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện: so sánh những số liệu thực hiện với

số liệu kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả các sự khác biệt và đánh giá việc thựchiện Các báo cáo này có tác dụng như một hệ thống thông tin phản hồi để nhà quảntrị biết được kế hoạch đang thực hiện như thế nào, đồng thời nhận diện các vấn đềhạc chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mụctiêu đã xác định Sau khi đã lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, nhà quản trịphải kiểm tra và đánh giá lại việc thực hiện kế hoạch đó thông qua các báo cáoKTQT cung cấp

- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định

Ra quyết định là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trịdoanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra đến đánh giá.Chức năng raquyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương ánkhác nhau được đưa ra Các quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến công ty trong thờigian ngắn hạn hoặc dài Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin, và phầnlớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm để phục vụ chức năng ra quyết định của nhàquản trị Kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt kịp thời và mang tính hệthống, trên cơ sở đó phân tích các phương án được thiết kế để lựa chọn phương án

Trang 20

tối ưu nhất cho việc ra quyết định KTQT cần phải có trách nhiệm với số liệu cungcấp cho nhà quản trị là hợp lý, đầy đủ, đúng thời điểm Thông tin chi tiết từ các sổsách kế toán cần ngắn gọi, súc tích để nhà quản trị có thể thấy được nơi nào có vấn

đề, thời gian bỏ ra để giải quyết vấn đề đó, phương hướng cải tiến nhằm hiệu quảcông việc hơn Các thông tin này có thể diễn đạt dưới dạng đồ thị, mô hình toánhọc, biểu mẫu…giúp nhà quản trị có thể nhanh chóng xử lý

1.2 Khái quát về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Khái niệm “tổ chức” có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau “Tổchức là sự sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặccùng một chức năng chung hay tổ chức là việc tiến hành một công việc theo cáchthức, trình tự nào đó” Còn đối với các nhà quản trị, tổ chức là việc tập trung vàokhai thác, phân phối các nguồn lực, nhân lực, vật lực và xây dựng bộ máy, thực hiện

sự phân nhiệm trong hệ thống để cùng thực hiện một mục đích chung

Xét ở góc độ chung: “Tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việcthu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp Tổchức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải giải quyết hai phương diện: Tổ chứcthực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương tiện tínhtoán nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của khoa học kế toán và tổ chức bộ máy

kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhân viên kế toán ở đơn vị để thực hiện tốt công

tác kế toán”(Giáo trình Tổ chức công tác kế toán, Học viện Tài chính, 2011) Hoặc

“Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc sử dụng các phương pháp kế toán để thựchiện việc phân loại, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phùhợp với Luật Kế toán, Luật Ngân sách Nhà nước và các chính sách, chế độ hiện

hành; phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị”(Giáo trình

Tổ chức công tác kế toán, Viện đại học Mở Hà Nội, 2012).

Từ các khái niệm trên cho thấy, tổ chức công tác kế toán là một trong nhữngnội dung thuộc về tổ chức quản lý trong doanh nghiệp đòi hỏi phải thích ứng vớiđiều kiện về quy mô, đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và gắn với những yêu

Trang 21

cầu quản lý cụ thể tại doanh nghiệp Tổ chức kế toán không đơn thuần là tổ chứcmột bộ phận quản lý trong doanh nghiệp, nó còn bao hàm cả tính nghệ thuật trongviệc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại, các tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, bảo đảm cho kế toán phát huy tối đacác chức năng vốn có của mình.

Tổ chức kế toán quản trị được các nhà nghiên cứu tiếp cận và đưa ra quanđiểm dưới nhiều góc độ khác nhau Tiếp cận dưới góc độ theo chức năng thông tinthì “Tổ chức kế toán quản trị là một bộ phận của tổ chức công tác kế toán, bao gồmviệc tổ chức bộ máy kế toán quản trị thực hiện các phần hành kế toán cụ thể trên cơ

sở xây dựng định mức và dự toán ngân sách, tổ chức thu thập thông tin kế toán; hệthống hoá và xử lý thông tin kế toán; tổ chức lập báo cáo kế toán quản trị và phântích thông tin kế toán quản trị phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhằm giúpcác nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh đáp ứng yêu cầuthông tin phục vụ công tác quản lý” (Phạm Thị Tuyết Minh, 2015)

Trong một nghiên cứu khác, tác giả Bùi Tiến Dũng (2018) cho rằng: “Tổ chức

kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính là tổ chức bộ máy và tổ chức vận dụngcác phương pháp của kế toán quản trị nhằm hỗ trợ cho các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện hay hoàn thành các chức năng của họ về: Tổ chức lập dự toán sảnxuất kinh doanh, kiểm soát chi phí, giá thành; đánh giá thành quả hoạt động; raquyết định ngắn hạn, dài hạn; và quản trị chiến lược.”

Qua những sự phân tích khái quát trên đây kết hợp với khái niệm KTQT, theoquan điểm của tác giả: Tổ chức kế toán quản trị là một bộ phận của tổ chức kế toán,bao gồm việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị; tổ chức lập dự toán sản xuất kinhdoanh; Tổ chức thu thập thông tin kế toán quản trị; tổ chức xử lý, phân tích và cungcấp thông tin kế toán quản trị phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhằm giúpcác nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh đáp ứng yêu cầuthông tin phục vụ công tác quản lý

Trang 22

1.2.2 Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Theo chức năng của KTQT

Tổ chức kế toán quản trị theo chức năng gồm:

- Tổ chức lập dự toán

Căn cứ vào hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, hệ thống dữ liệu lịch sử (dữliệu các năm trước liền kề), năng lực sản xuất của DN, chiến lược kinh doanh, nhucầu và giá cả thị trường, một số quy định của nhà nước hoặc ngành nghề, DN có thể

tổ chức lập dự toán hàng tháng, hàng năm hoặc theo hình thức cuốn chiếu nối tiếp.Căn cứ vào quy mô, đặc điểm, yêu cầu của nhà quản trị

- Tổ chức thu nhận thông tin được thực hiện theo hai bộ phận: Thu nhận thôngtin quá khứ và thu nhận thông tin tương lai Thông tin quá khứ được thu nhận thôngqua kế toán chi tiết, chi tiết hóa các chỉ tiêu kế toán tài chính theo yêu cầu quản trị.Thu nhận thông tin tương lai được thực hiện thông qua các bộ phận chức năng của

DN nhằm có được những dự đoán tương lai liên quan đến hoạt động của DN, từ đógiúp nhà quản trị điều hành hoạt động có hiệu quả

- Tổ chức phân tích thông tin:

+) Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Căn cứ trên các thông tin quá khứ đãthu thập, kế toán quản trị tiến hành so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch,

dự toán, xác định các nhân tố ảnh hưởng, những tồn tại và nguyên nhân của nó đểđưa ra những giải pháp khắc phục, khai thác khả năng tiềm tàng để sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp đạt hiệu quả

+) Tổ chức phân tích thông tin tương lai: KTQT đặc biệt quan tâm tới việcphân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốntrong kinh doanh để phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn Đồng thời, KTQT rấtchú trọng việc phân tích thông tin bằng những phương pháp nhất định như phươngpháp hiện giá thuần, phương pháp tỷ lệ sinh lợi nội bộ…

- Tổ chức cung cấp thông tin

Thông tin kế toán quản trị sau khi được tổng hợp và phân tích sẽ tiến hànhcung cấp cho nhà quản trị sử dụng Kế toán theo từng bộ phân chuyên trách chịu

Trang 23

trách nhiệm về xử lý thông tin trên cơ sở dữ liệu thu thập được, trình kế toán trưởng

để duyệt thông tin Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước nhà quản trị về việc cungcấp thông tin Thông tin cung cấp thông qua hệ thống báo cáo kế toán quản trị

1.2.2.2 Theo khâu công việc của KTQT

Tổ chức KTQT theo các khâu công việc của quá trình kế toán được thực hiệnnhư sau:

- “Tổ chức hạch toán ban đầu: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp sử dụng hệthống chứng từ kế toán bắt buộc để thu nhận thông tin quá khứ theo quy định; Cụthể hóa hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trênchứng từ cho phù hợp với nội dung KTQT; Thiết kế một số chứng từ kế toán cầnthiết để phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu quản trị doanhnghiệp; Tổ chức luân chuyển chứng từ thích hợp

- Tổ chức tài khoản kế toán: Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán do Nhànước ban hành, căn cứ vào yêu cầu quản lý chi tiết đối với từng đối tượng KTQT, tổchức mở các tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4…nhằm chi tiết hóa các thông tin KTTC,tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin một cách khoa học và có hệ thống đáp ứngyêu cầu thông tin cho quản trị doanh nghiệp

- Tổ chức hệ thống sổ kế toán: Thiết kế hệ thống sổ kế toán chi tiết với sốlượng sổ, mẫu sổ và các chỉ tiêu cần phản ánh phù hợp với các yêu cầu quản trịkhác nhau đồng thời phù hợp với trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin tại DN

- Tính giá và lập báo cáo quản trị: Doanh nghiệp sử dụng các pháp tính giámang tính chất đặc thù của KTQT để xác định giá trị tài sản phục vụ cho việc xâydựng định mức chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích điểm hòa vốn trong kinhdoanh, xác định giá ngắn hạn….Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận, lập hệ thốngbáo cáo kế toán nội bộ gồm báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ, báo cáo đợt xuất, báocáo chi tiết….Từ đó kết hợp sử dụng các phương pháp kỹ thuật khác nhau để phântích các chỉ tiêu thực hiện, giúp nhà quản trị ra quyết định đúng đắn và hiệu quả

hơn.” (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương mại, 2006)

Ngoài ra, kế toán còn phải lập dự toán ngân sách cho doanh nghiệp

Trang 24

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Tổ chức kế toán quản trị một cách khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo cung cấpthông tin chất lượng, kịp thời, tiết kiệm chi phí.Tuy nhiên, không phải doanh nghiệpnào khi thực hiện tổ chức kế toán quản trị thì mang lại kết quả giống nhau mà nócòn chịu tác động bởi các nhân tố khách quan và chủ quan Do đó người làm KTQTcần chú ý để định hướng cho việc triển khai KTQT Có thể hệ thống các nhân tốảnh hưởng đến tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp gồm:

Đặc điểm quy trình công nghệ, tính chất loại hình sản xuất

Quy mô và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tác độngkhông nhỏ đến quá trình tổ chức công tác KTQT Một doanh nghiệp có quy mô hoạtđộng lớn, nhiều doanh nghiệp thành viên thì việc tổ chức công tác KTQT cần phântheo địa bàn, khu vực để quản lý còn nếu quy mô doanh nghiệp nhỏ, địa bàn hẹpcần chú trọng đến việc quản lý theo bộ phận trong doanh nghiệp hoặc theo nhómsản phẩm

Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là sự kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động

và tư liệu sản xuất cho phù hợp với nhiệm vụ, quy mô và công nghệ sản xuất Tổchức sản xuất cho thấy rõ hình thức tổ chức của quá trình sản xuất, tính chất phâncông lao động giữa các bộ phận sản xuất và phục vụ sản xuất, đặc điểm của sự kếthợp lao động với tư liệu lao động và đối tượng lao động trong quá trình sản xuất.Mặt khác tổ chức sản xuất còn là việc bố trí các bộ phận sản xuất trong doanhnghiệp.Việc tổ chức công tác KTQT cần xem xét quy trình công nghệ sản xuất làgiản đơn hay phức tạp, sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt, công nghệ sảnxuất sử dụng phương tiện kỹ thuật cao hay thủ công để từ đó nhấn mạnh vào cácnội dung cần quản trị

Doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất đơn giản, không chia nhỏ nhiềucông đoạn sẽ đòi hỏi về việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí sảnxuất – giá thành nửa thành phẩm, thành phẩm cho từng gian đoạn công nghệ hay

Trang 25

thành phẩm cuối cùng ít hơn so với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuấtphức tạp, nhiều quy trình công nghệ.

Với những doanh nghiệp sản xuất lớn, trải qua nhiều công đoạn thì việc tínhgiá cũng rất phức tạp, do vậy khi tổ chức KTQT cần chú trọng xây dựng các báocáo theo từng hạng mục công trình, từng bộ phận trách nhiệm,…để tìm ra nguyênnhân của các biến động, qua đó giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định điều chỉnhkịp thời

Tính chất, loại hình kinh doanh, quy mô, phạm vi hoạt động

KTQT theo dõi chi tiết, cụ thể các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của DNnên loại hình DNTM hay DNSX có ảnh hưởng lớn đến tổ chức KTQT Đối vớiDNTM trọng tâm của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cụ thể về quá trình bánhàng, mua hàng, doanh thu và kết quả, thì đối với DNSX trọng tâm của KTQT là cungcấp thông tin cụ thể về các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

DN có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng đòi hỏi tổ chức KTQT phức tạp,công phu hơn để theo dõi chi phí, kết quả và đánh giá trách nhiệm, trình độ quản lýcủa toàn bộ phận DN và ngược lại

Trình độ nhân viên thực hiện công việc kế toán

Trình độ kiến thức và kỹ năng làm việc của nhân viên KTQT cũng tác độngkhông nhỏ đến việc tổ chức thu nhận và xử lý thông tin KTQT Yêu cầu đối với độingũ nhân viên KTQT phải am hiểu về quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, linh hoạt trong việc xử lý thông tin và phối hợp tốt với các

bộ phận chức năng khác trong doanh nghiệp

Trình độ trang bị máy móc thiết bị

Cơ sở vật chất là nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác KTQT trong doanhnghiệp Khối lượng thông tin KTQT cần xử lý là rất nhiều nên cần có sự kết hợp vớinhiều phương pháp kỹ thuật phức tạp trong đó cần có sự hỗ trợ từ hệ thống máy vi tính

và các phần mềm xử lý thông tin khác Các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến

và có nhiều kế toán viên với trình độ cao sẽ sử dụng càng nhiều công cụ KTQT

Nhu cầu thông tin của nhà quản trị

Trang 26

Công tác KTQT được tổ chức thực hiện hay không phụ thuộc vào nhu cầuthông tin KTQT từ nhà quản trị Trình độ nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp

là nhân tố quyết định việc tổ chức công tác KTQT như thế nào.Với những nhà quảntrị được đào tạo tốt, có trình độ quản lý thì nhu cầu đòi hỏi cung cấp thông tin sẽ đadạng và phong phú nhằm quản lý tốt doanh nghiệp Do đó họ thường có nhu cầu tổchức công tác KTQT nhằm cung cấp thông tin một cách khoa học và kịp thời trongkhi nhưng nhà quản trị có trình độ thấp thường không có nhu cầu nhiều về thông tinKTQT nên việc tổ chức công tác KTQT nhiều khi không được đề cập trong DN

Hệ thống văn bản pháp luật

Việt Nam, KTQT cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền với chính sách, chế độ

kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp; tuy nhiên, KTQT chỉ mới được đề cập mộtcách hệ thống hơn một thập kỷ trở về đây.Về mặt luật pháp, thuật ngữ KTQT cũngchỉ vừa được ghi nhận chính thức trong Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày17/6/2003 của Quốc hội.Cho đến nay, hướng dẫn thực hiện về KTQT trong doanhnghiệp mới chỉ có duy nhất một văn bản là Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày12/6/2006 của Bộ Tài chính.Đây là văn bản hướng dẫn thực hiện KTQT trong cácdoanh nghiệp thuộc các lĩnh vực SXKD, thương mại, dịch vụ.Riêng các doanhnghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng vận dụng các nội dung phù hợp hướngdẫn tại Thông tư này

Sự ảnh hưởng của các nhóm nhân tố thường khác nhau đối với mỗi DN cụ thể

Do vậy, cần phải xem xét, phân tích đầy đủ các nhó nhân tốc trên để xác định thôngtin cần cung cấp để tổ chức KTQT cho phù hợp, có thể đáp ứng kịp thời yêu cầuthông tin đồng thời kiết kiệm chi phí Tùy thuộc ảnh hưởng của các nhân tố nói trên

mà từng DN lựa chọn mô hình tổ chức KTQT cho phù hợp

1.4 Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất

1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Bộ máy kế toán là tập hợp toàn bộ cán bộ, nhân viên kế toán thực hiện côngtác kế toán của doanh nghiệp Tổ chức bộ máy kế toán được hiển là việc cơ cấunhân sự, phân công lao động cho các thành viên trong bộ máy kế toán Ngoài ra,

Trang 27

tổ chức kế toán còn bao gốm cả việc tổ chức phương tiện, thiết bị cho lao động

kế toán

Khi tổ chức bộ máy kế toán cần bố trí cán bộ đúng chức danh, tiêu chuẩn quyđịnh, cán bộ kế toán phải đảm bảo được quyền độc lập về chuyên môn, phù hợp khảnăng nghiệp vụ và khối lượng công việc Người làm kế toán phải đảm bảo các tiêuchuẩn quy định trong Luật kế toán, có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật,thực hiện công việc được giao theo phân công và chịu trách nhiệm về chuyên môncủa mình Khi thanh đổi người làm kế toán cần phải thực hiện việc bàn giao côngviệc kế toán giữa kế toán cũ và kế toán mới, giữa hai kế toán cần có sự phối hợpcông việc, có trách nhiệm công việc mình phụ trách Tất cả các bộ phận liên quanđến công tác kế toán đều phải nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc, chế độ kếtoán, có trách nhiệm cung cấp đầy đủ kịp thời chứng từ và tài liệu cần thiết chocông tác kế toán và chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác về các tài liệu domình cung cấp Công việc cần được đảm bảo một cách đồng thời, giảm thời gianchờ đợi công việc để tăng năng suất lao đông

Việc lựa chọn áp dụng mô hình tổ chức công tác kế toán và xây dựng mô hình

tổ chức bộ máy kế toán dựa vào các căn cứ sau:

- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy mô, địa bàn hoạt động của doanhnghiệp, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong trườnghợp các doanh nghiệp có quy mô lớn, địa bàn hoạt động phân tán thường áp dụng

mô hình tổ chức công tác kế toán phân tán hoặc kết hợp giữa tập trung và phân tán.Trường hợp doanh nghiệp có quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động tập trung thường ápdụng mô hình tổ chức công tác kế toán phân tán

- Đặc điểm, tình hình phân cấp quản lý kinh tế, tài chính trong doanh nghiệp.Các doanh nghiệp có phân cấp quản lý, phân cấp hạch toán đến từng đơn bị trựcthuộc thường áp dụng mô hình tổ chức công tác kế toán tập trung DN không cóphân cấp quản lý và hạch toán đến đơn vị nội bộ áp dụng mô hình tổ chức công tác

kế toán phân tán

- Biên chế bộ máy kế toán, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bố, nhânviên kế toán Biên chế bộ máy kế toán lớn có thể phù hợp với mô hình tổ chức công

Trang 28

tác kế toán phân tác, trong khi đó mô hình tổ chức công tác kế toán tập trung lại chỉcàn bộ máy kế toán với bên chế gọn nhẹ.

- Tình hình trang bị các phương tiện kỹ thuật tính toán, thông tin trong côngtác kế toán của doanh nghiệp Các doanh nghiệp đã trang bị các phương tiện kỹthuật và thông tin trong công tác kế toán trình độ cao có thể áp dụng mô hình tổchức công tác kế toán tập trung Ngược lại, có thể áp dụng mô hình tổ chức công tác

kế toán Những nội dung của KTTC doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, đúng chế

độ Đồng thời căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp để xây dựngcác nội dung một cách chi tiết cụ thể để cung cấp thông tin phục vụ cho yêu cầuquản trị Việc ghi chép, phản ánh và truyền dẫn thông tin được tính đến cả mục đíchcủa KTTC và KTQT nhằm thảo mãn nhu cầu thông tin kế toán cho đối tượng bêntrong lẫn bên ngoài DN

Kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kế toán từ việc tổchức xây dựng bộ máy kế toán, luân chuyển chứng từ, vận dụng tài khoản, hệ thốngbáo cáo…nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị Các bộ phận kế toán có chứcnăng thu thập và cung cấp thông tin kế toán vừa tổng hợp, vừa chi tiết…., đồng thờilập dự toán tổng hợp và chi tiết theo yêu cầu quản lý

Khi áp dụng mô hình tổ chức kế toán kết hợp, toàn bộ nội dung kế toán đượcthực hiện kết hợp do đó tạo điều kiện kiểm tra, chỉ đạo nghiệp vụ, đảm bảo sự lãnhđạo tập trung, thống nhất của kế toán trưởng cũng như lãnh đạo của doanh nghiệp.Đồng thời, tránh được sự trùng lặp trong việc tổ chức thực hiện các nội dung kế

Trang 29

toán, tổ chức kế toán đơn giản, tạo điều kiện phát huy hiệu quả của việc trang bị cácphương tiện kỹ thuật tính toán và thông tin hiện đại trong công tác kế toán.

Tuy nhiên trong trường hợp quy mô hoạt động lớn, địa bàn hoạt động phântán, rải rác mà việc trang bị các phương tiện kỹ thuật thông tin trong kế toán bị hạnchế thì việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác kế toán cũng như tình hình hoạtđộng kinh doanh của các đơn vị, bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp bị hạn chế

Mô hình tổ chức kế toán kết hợp thường phù hợp với những đơn vị kế toán cóquy mô vừa, địa bàn hoạt động tập trung

(2) Mô hình tổ chức kế toán tách biệt

Theo mô hình này, phòng kế toán của doanh nghiệp vừa có bộ phận kế toánquản trị riêng, vừa có bộ phận kế toán khác thực hiện các công việc kế toán tàichính.Và hệ thống KTQT được tổ chức thành bộ máy riêng, sử dụng hệ thống tàikhoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán nội bộ tách rời với KTTC.Kế toán tàichính phục vụ, cung cấp cho các đối tượng ngoài DN, tuân thủ nghiêm ngặt cácnguyên tắc quy định của Nhà nước KTQT lại được coi là công việc riêng của DN,

bộ phận kế toán quản trị có chức năng thu thập, xử lý, phân tích các thông tin kinh

tế tài chính phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ Do

đó, các doanh nghiệp tự xây dựng, hệ thống hóa thông tin một cách chi tiết nhằmcung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý của tổ chức hệ thống sổ sách, báo cáo phục

vụ cho mục tiêu quản trị của doanh nghiệp

Mô hình này, công việc của kế toán quản trị được thực hiện ở bộ phận này baogồm: Mở hệ thống sổ kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý; Lập dự toán các chỉ tiêu

và theo dõi tình hình thực hiện dự toán; Phân loại chi phí, lực chọn phương pháp chiphí, phương pháp phân bổ chi phí, tính giá thành sản phẩm theo mục tiêu quản trị;Phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí; Cung cấp số liệu, tài liệu cho việc lập

dự toán mới và lập báo cáo quản trị

Mô hình tổ chức kế toán tách biệt đảm bảo việc kiểm tra, giám sát hoạt độngsản xuất kinh doanh, lập và báo cáo kế toán quản trị nhanh chóng, kịp thời cho cácnhà quản trị Tuy nhiên, khi áp dụng mô hình này, tổ chức nhiều nội dung có sự

Trang 30

trùng lặp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, tổ chức công tác kế toán riêngbiệt khá phức tạp, hiệu quả không cao, bộ máy kế toán công kềnh, chưa phát huyhết vai trò của từng bộ phận kế toán cũng như hiệu quả của việc trang bị cácphương tiện kỹ thuật tính toán và thông tin hiện tại trong công tác kế toán.

- Những nội dung kế toán được tổ chức kết hợp không phải tổ chức bộ phận kếtoán riêng mà bộ phận kế toán này thu thập, xử lý, cung cấp thông tin theo yêu cầucầu KTTC và KTQT; Sử dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán vừa đáp ứngyêu cầu KTTC đồng thời được tổ chức chi tiết, cụ thể đáp ứng yêu cầu KTQT Sửdụng số liệu, thông tin của kế toán để lập báo cáo tài chính và báo cáo quản trị

1.4.2 Tổ chức lập dự toán sản xuất kinh doanh

Trong doanh nghiệp, công tác lập dự toán sản xuất kinh doanh là một nhiệm

vụ quan trọng của nhà quản lý và có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trịdoanh nghiệp

“Dự toán là cơ sở giúp các nhà quản lý triển khai thực hiện các hoạt động theođúng hướng mục tiêu đã xác định và có biện pháp để đạt được mục tiêu đó.Dự toán

là cơ sở để các nhà quản trị kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh vàđánh giá kết quả và các biện pháp thực hiện Dự toán là cơ sở để phát hiện, ngănngừa và hạn chế những rủi ro trong quá trình hoạt động.Dự toán là cơ sở giúp doanhnghiệp phối hợp sử dụng, khai thác tốt hơn các nguồn lực, các hoạt động, các bộ

Trang 31

phận đảm bảo thực hiện mục tiêu của DN.”(Giáo trình Kế toán quản trị, Đạihọc

Thương Mại, 2006)

Các doanh nghiệp có thể tổ chức lập dự toán theo một trong ba mô hình sau:

Mô hình thông tin 1 xuống

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được cấp quản lý cao nhất của doanhnghiệp định ra và truyền đạt cho các cấp quản lý trung gian, trên cơ sở đó cấp quản

lý trung gian truyền đạt cho các cấp cơ sở

Sơ đồ 1.1: Mô hình thông tin 1 chiều xuống

Mô hình thông tin 2 xuống 1 lên

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được ước tính từ ban quản lý cấp caonhất của DN mang tính dự thảo, được phân bổ xuống các đơn vị trung gian Trên cơ

sở đó cấp trung gian phân bổ cho các đơn vị cấp cơ sở

Các bộ phận quản lý cấp trung gian và bộ phận quản lý cấp cơ sở tương tácqua lại với nhau để cùng thống nhất dự toán dựa vào khả năng, điều kiện có thể thựchiện được trên.Bộ phận quản lý cấp cao tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ các bộphận cấp trung gian, kết hợp với tầm nhìn tổng quát và toàn diện về toàn bộ hoạtđộng của DN, hướng các bộ phận đến việc thực hiện các mục tiêu chung, sẽ xétduyệt thông qua các chỉ tiêu dự toán

Trang 32

Sơ đồ 1.2: Mô hình lập dự toán 2 xuống 1 lên

Mô hình thông tin 1 lên 1 xuống

Theo mô hình này, dự toán được thiết lập từ cấp quản lý thấp đến cấp quản lýcao nhất Các bộ phận quản lý cấp thấp (cấp cơ sở) căn cứ vào khả năng điều kiện

cụ thể của mình để lập các chỉ tiêu dự toán trình lên cấp quản lý cao hơn (bộ phậncấp trung gian) Trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán ở các cấp cơ sở và các chỉtiêu dự toán ở bộ phận mình trình lên bộ phận quản lý cấp cao Bộ phận quản lý cấpcao tổng hợp các chỉ tiêu dự toán cấp trung gian, trên cơ sở đánh giá toàn bộ hoạtđộng của DN, hướng các bộ phận đến việc thực hiện các mục tiêu chung, sẽ xétduyệt thông qua dự toán cho các cấp trung gian Trên cơ sở đó cấp trung gian xétduyệt thông qua cho cấp cơ sở

Sơ đồ 1.3: Mô hình lập dự toán 1 lên 1 xuống

Trang 33

Yêu cầu lập dự toán sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, đặc điểm tổ chức xản xuất kinh doanh,phân cấp quản lý, chiến lược kinh doanh, nhu cầu và giá cả thị trường, trình độ nhânviên,…mà nhà quản trị yêu cầu về tổ chức lập dự toán sản xuất kinh doanh Dự toánSXKD có thể được lập cho cả năm và chia cho các quý, các tháng trong năm.Việcxây dựng dự toán sản xuất kinh doanh cần được tổ chức lập cho từng chỉ tiêu dựtoán, đồng thời cần gắn các chỉ tiêu đó với nhau nhằm tạo thành hệ thống các chỉtiêu dự toán

Hệ thống các chỉ tiêu dự toán cần lập bao gồm:

- Dự toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ: “Dự toán tiêu thụ là dự toánđược lập đầu tiên và là căn cứ để xây dựng các dự toán khác Dự toán tiêu thụ đượcxây dựng dựa trên mức tiêu thụ ước tính với đơn giá bán Ngoài ra dự toán tiêu thụcũng còn đính kèm bảng dự kiến lịch thu tiền của các quý trong kỳ kế hoạch Bảng

dự kiến này là căn cứ để xây dựng dự toán tiền mặt hàng năm Khoản thu tiền mặt

dự kiến của quý gồm khoản thu từ việc bán hàng chậm trả của quý trước cộng với

khoản thu từ hàng bán ở quý hiện hành” (Giáo trình Kế toán quản trị, Học viện

công nghệ bưu chính viễn thông, 2009)

- Dự toán sản xuất: là dự toán về số lượng sản phẩm sản xuất ra để đáp ứngyêu cầu cần tiêu thụ và yêu cầu tồn kho cuối kỳ Dự toán sản phẩm được sản xuấtđược tính bằng cách lấy dự toán sản phẩm tiêu thụ cộng với dự toán sản phẩm tồnkho cuối kỳ và trừ đi dự toán sản phẩm tồn kho đầu kỳ

- Dự toán chi phí NVL trực tiếp: là dự toán về lượng NVL và chi phí NVLtrực tiếp cần thiết cho quá trình sản xuất Dự toán này được lập dựa trên cơ sở dựtoán sản xuất và định mức nguyên vật liệu trực tiếp

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: là dự toán nhằm xác định thời gian laođộng và chi phí nhân công cần thiết đảm bảo cho tiến trình sản xuất Việc lập dựtoán này cần căn cứ vào dự toán sản xuất và định mức chi phí nhân công

- Dự toán chi phí sản xuất chung: là dự toán về toàn bộ chi phí phát sinh tạixưởng sản xuất trừ chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp Dự toán này

Trang 34

được lập dựa vào số lượng sản phẩm sản xuất, định mức biến phí sản xuất chung vàđịnh phí sản xuất chung.

- Dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ: Là dự toán căn cứ theo định mức chiphí lao động trực tiếp và chi phí sản xuất chung phân bổ, doanh nghiệp sẽ xác địnhđịnh mức chi phí sản xuất của một đơn vị theo định mức, từ đó xây dựng dự toánthành phẩm tồn kho cuối kỳ

- Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Dự toán này giúpcho nhà quản trị ước tính các chi phí ngoài sản xuất phát sinh trong kỳ dự toán

- Dự toán tiền: là dự toán về số tiền thu vào và chi ra liên quan đến các hoạtđộng của doanh nghiệp trong kỳ dự toán nhằm xác định nguồn tiền phục vụ hoạtđộng doanh nghiệp

- Dự toán KQSXKD: là dự toán về lợi nhuận dự kiến sẽ đạt được trong kỳ

kế hoạch Là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kỳ dự toán

Dự toán này được lập trên cơ sở tổng hợp từ dự toán doanh thu và chi phí trong

kỳ dự toán

- Dự toán BCĐKT: Là dự toán căn cứ vào BCTC năm trước kết hợp các bảng

dự toán được lập ở trên, doanh nghiệp xây dựng BCĐKT dự toán cho năm kếhoạch

Trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh

₋ Doanh nghiệp xác định mô hình lập dự toán sản xuất kinh doanh là mô hìnhnào trong số các mô hình sau: Mô hình thông tin 1 xuống, mô hình thông tin 2xuống 1 lên, mô hình thông tin 1 lên 1 xuống

₋ Các đơn vị cơ sở căn cứ vào khả nằng, điều kiện cảu đơn vị và nhu cầu thịtrường xây dựng dự toán sản xuất kinh doanh của đơn vị chuyển cho cấp trên

₋ Phòng kế toán doanh nghiệp có trách nhiệm tổng hợp dự toán ngân sáchchung toàn doanh nghiệp, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc họp cùngvới các bộ phận liên quan để nhận ý kiến sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh dự toán

₋ Đệ trình lên lãnh đạo doanh nghiệp Sau khi có ý kiến của lãnh đạo tiến hànhphổ biến lại cho các bộ phận trong doanh nghiệp để thực hiện

Trang 35

1.4.3 Tổ chức thu thập thông tin kế toán quản trị

1.4.3.1 Các thông tin cần thu thập

Bộ phận kế toán dưới sự phân công, giám sát của kế toán trưởng cần thu thậpthông tin kế toán quản trị qua các yếu tố:

* Thông tin về TSCĐ: Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh

nghiệp phải sử dụng nhiều loại TSCĐ khác nhau Nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị,doanh nghiệp phải mở sổ chi tiết và tổng hợp để phản ánh được các chỉ tiêu về giá trịhiện vật của quá trình quản lý, sử dụng và phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐcủa toàn đơn vị, các bộ phận, các đối tượng TSCĐ chủ yếu, đồng thời cung cấp đượcnhu cầu sử dụng tài sản cố định của từng bộ phận cũng như toàn doanh nghiệp mộtcách cụ thể để giúp lãnh đạo doanh nghiệp có cơ sở quyết định các phương án khaithác năng lực tài sản cố định hiện có và đầu tư mới thích hợp, hiệu quả

* Thông tin về hàng tồn kho: Hàng tồn kho của DN bao gồm nhiều loại với

nhu cầu sử dụng khác nhau Doanh nghiệp cần lập danh điểm vật tư và tổ chức kếtoán quản trị về số hiện có, số đã sử dụng, đã bán cả về số lượng và giá trị phù hợpdanh điểm vật tư, sản phẩm, hàng hoá đã lập theo yêu cầu quản lý nội bộ doanhnghiệp Để kế toán được số vật tư đã sử dụng và số tồn kho hợp lý, doanh nghiệpcần xác định được phương pháp tính giá hàng tồn kho phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như lập kếhoạch cho tương lai

* Thông tin về lao động và tiền lương: Việc thu thập thông tin về lao động tiền

lương được thực hiện thông qua nội dung bậc thở, tay nghề của từng lao động hiện

có của doanh nghiệp, thu thập thông tin định mức chi phí nhân công, tổng chi phínhân công

* Thông tin kế toán quản trị chi phí: Thu thập thông tin KTQT chi phí được

thể hiện thông qua nội dung từng khoản mục chi phí gồm: Chi phí nguyên vật liệutrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sự dụng máy thi công, chi phí sản xuấtchung, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chiphí khác

Trang 36

* Thông tin về doanh thu: Doanh thu của DN bao gồm Doanh thu bán hàng và

cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác Doanh nghiệpcần lập và tổ chức kế toán quản trị về doanh số thực tế, doanh số chi tiết cho từngloại doanh thu hoặc từng mặt hàng, tùy theo yêu cầu quản trị của nhà quản lý

1.4.3.2 Cách thức và phương tiện thu thập thông tin

Thông tin kế toán quản trị được thu thập và ghi nhận thông qua các phươngtiện của kế toán là: chứng từ kế toán, tài khoản kế toán và sổ kế toán

Chứng từ kế toán

Các chứng từ kế toán chủ yếu được ghi chép từ các bộ phận khác trong doanhnghiệp, nơi có phát sinh nghiệp vụ kinh tế phát sinh ban đầu thực hiện.Vì vậy cầnphải quy định rõ cách ghi nhận thông tin vào từng loại chứng từ sao cho hợp lý, hợp

lệ Sau đó, tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý từ các bộ phận liên quanđến phòng kế toán kịp thời, tránh trùng lặp hoặc bỏ sót…

Để phục vụ cho mục đích KTQT doanh nghiệp có thể thiết kế các chứng từ chitiết phù hợp, phản ánh đầy đủ các yếu tố, nội dung để phục vụ cho việc thu nhận, xử

lý, hệ thống thông tin và lập được báo cáo KTQT theo yêu cầu quản lý nội bộ Cácchứng từ KTQT thường mang tính chất của thông tin KTQT là kịp thời và cung cấpthông tin nhanh chóng

Khi chứng từ được chuyển đến phòng kế toán, nhân viên kế toán cần phải thựchiện kiểm tra tính hợp lý hợp lệ của chứng từ trước khi chuyển sang kế toán phầnhành hoặc hạch toán chứng từ Kế toán có thể đề nghị bổ sung thông tin liên quanhoặc từ chối tiếp nhận các chứng từ bất hợp lý Việc làm này sẽ giúp những ngườiliên quan có ý thức trong việc lập chứng từ, đồng thời đảm bảo yếu tố quan trọngđầu tiên cho số liệu kế toán đáng tin cậy Nếu không kiểm tra chứng từ hoặc kiểmtra không cẩn thận, thận trọng sẽ dẫn đến việc sai lệch thông tin, số liệu kế toán,toàn bộ công việc kế toán trở nên vô nghĩa

Trong trường hợp doanh nghiệp xây dựng được hệ thống định mức, khi có báođộng về những biến động vượt định mức về lao động, vật liệu… thì kế toán phảiđặc biệt chú ý đến những chứng từ đặc biệt này, tìm hiểu nguyên nhân và phản ánhcho người có trách nhiệm

Trang 37

Tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán là tập hợp tất cả các tài khoản được doanh nghiệp

sử dụng để xử lý các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong doanh nghiệp Tàikhoản kế toán được dùng để theo dõi, phản ánh tình hình biến động của từng loại tàikhoản, nguồn vốn Để cung cấp thông tin cho công tác quản lý, doanh nghiệp phải

sử dụng nhiều tài khoản khác nhau để đảm bảo phản ánh được toàn bộ các chỉ tiêucần thiết.Đồng thời, DN cũng phải tuân thủ các quy định về hệ thống, mã số, tên gọihay nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của từng loại tài khoản

Các doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ tài chính banhành hoặc được bộ tài chính chấp thuận áp dụng cho DN để chi tiết hóa theo cáccấp để ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng phải phù hợp vớinội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của tài khoản cấp trên tương ứng Tùythuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý, mức độ chi tiết của thông tin mà mở tàikhoản chi tiết cho phù hợp Việc xây dựng hệ thống tài khoản chi tiết phục vụ yêucầu quản trị doanh nghiệp cần phải dựa vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp nhưquản lý theo từng khoản mục tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, chi phí, khoảnmục giá thành một cách chi tiết cụ thể theo từng loại

Các doanh nghiệp có thể tổ chức tài khoản để thực hiện KTQT tại đơn vị mìnhthông qua việc phân lớp các nội dung cần quản lý và mã hóa bằng các ký tự:

+) TSCĐ: quản lý đến từng loại TSCĐ, từng nhóm tài sản (trong từng loại),

theo từng đối tượng ghi nhận TSCĐ, từng bộ phận sử dụng TSCĐ, tình hình tríchkhấu hao TSCĐ…

+) Hàng tồn kho: tài khoản kế toán cần được mở chi tiết theo từng kho hàng,

theo từng loại vật tư, sản phẩm, hàng hóa; theo từng nhóm vật tư, sản phẩm, hànghóa; theo từng danh điểm vật tư, từng quy cách sản phẩm

+) Chi phí sản xuất và giá thành: Các chi phí đơn nhất có thể dùng tài khoản

cấp 1 để tập hợp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp

Để cụ thể hơn trong việc theo dõi doanh nghiệp nên chia nhỏ các chi phí này quaviệc chia thành các tài khoản cấp 2, cấp 3 Ví dụ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 38

cần chia thành chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phínhiên liệu Chi phí sản xuất chung ngoài việc mở các tài khoản cấp 1 doanhnghiệp cần phải mở tài khoản cấp 2 theo các yếu tố đã quy định.

+) Các khoản nợ: Cần mở các tài khoản chi tiết để theo dõi từng chủ nợ, khách

nợ về các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn trong thời hạn thanh toán và quá hạn thanhtoán nhằm có được các thông tin về các khoản nợ đã thanh toán và chưa thanh toán

+) Doanh thu và xác định kết quả kinh doanh: cần mở các tài khoản chi tiết để

phản ánh doanh thu theo từng nhóm sản phẩm kết hợp với từng địa điểm kinhdoanh nhằm thu nhận được các thông tin về bán hàng theo nhóm sản phẩm ở đơn vịhay địa điểm kinh doanh có hiệu quả

Việc tổ chức thực hiện, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong từng doanhnghiệp phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

- Phù hợp với quy định thống nhất của nhà nước và các văn bản hướng dẫn

- Xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin KTQT của từng cấp quản lý

- Các tài khoản có mối quan hệ với nhau cần đảm bảo tính thống nhất về kýhiệu, cấp độ…

- Việc chi tiết hoá tài khoản không được làm sai lệch nội dung, kết cấu vàphương pháp ghi chép của tài khoản

Mặt khác, thiết kế tài khoản trong KTQT phải đảm bảo đơn giản, tiện lợi chocông tác kế toán Việc mở tài khoản và sổ chi tiết là vô hạn, trong thực tế đối tượng

kế toán cụ thể cần theo dõi chi tiết lại quá nhiều làm chi phí hạch toán cao Vì vậy,các nhà quản lý cần xem xét giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được để hạn chế việc

sử dụng tài khoản chi tiết là hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả cao

Sổ kế toán

Tổ chức hệ thống sổ kế toán là việc lựa chọn các loại sổ chuyên môn dùng đểtheo dõi, ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế tài chính phátsinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian liên quan đến doanh nghiệp.Trong môi trường kế toán thủ công, sổ sách kế toán tồn tại dưới hình thức trang sổđược đóng thành quyển Trong môi trường kế toán ứng dụng công nghệ thông tin,

Trang 39

sổ kế toán tồn tại dưới dạng các tập tin hoặc cơ sở dữ liệu gắn với những phần mềmtính toán và xử lý cơ sở dữ liệu.

Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặcđược Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho doanh nghiệp để bổ sung các chỉ tiêu,yêu cầu cụ thể phục vụ cho kế toán quản trị trong doanh nghiệp Việc bổ sung hoặcthiết kế các nội dung của sổ kế toán không được làm sai lệch nội dung các chỉ tiêu

đã quy định trên sổ kế toán và cần phù hợp với yêu cầu quản lý của DN

Mỗi doanh nghiệp chỉ có một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán.Doanhnghiệp phải thực hiện các quy định về sổ kế toán trong Luật kế toán Xây dựng sổ

kế toán, doanh nghiệp có thể áp dụng biểu mẫu sổ kế toán theo hướng dẫn nếu phùhợp với đặc điểm quản lý và hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, doanhnghiệp được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảocung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra,kiểm soát và đối chiếu

1.4.4 Tổ chức xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị

1.4.4.1 Tổ chức xử lý, phân tích thông tin kế toán quản trị

Mục đích của việc tổ chức phân tích, xử lý thông tin là cung cấp thông tinthích hợp, hữu ích và kịp thời cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quảntrị.Khi đó, yếu tố được quan tâm nhất và ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định

là chi phí Chi phí không đơn giản chỉ là nhận thức theo quan điểm của kế toán tàichính mà nó còn được nhận diện trên nhiều phương diện khác nhau Vì vậy khinhận thức chi phí theo kiểu kế toán quản trị cần chú trọng đến sự hình thành, biếnđộng, mối quan hệ giữa các yếu tố và lựa chọn thông tin thích hợp nhằm mục đích

ra quyết định hơn là chú trọng đến tính pháp lý và bằng chứng chứng minh chi phíthực tế phát sinh Thông tin kế toán quản trị được phân tích bằng các phươn pháp cụthể sau:

Phân tích chênh lệch/biến động

Kế toán quản trị phân tích biến động thông tin qua các thời kỳ hoặc giữa thôngtin thực tế với dự toán, định mức Thông thường, kế toán phân tích biến động củatừng yếu tố chi phí: NVL trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung cũng nhưdoanh thu và các chỉ tiêu khác Bằng phương pháp này, có thể xác định được những

Trang 40

chênh lệch do biến động giá hay biến động lượng Từ đó KTQT tư vấn cho nhàquản trị các cấp có biện pháp điều chỉnh hoạt động kịp thời

Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C-V-P)

“Mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận là mối quan hệ giữa cácnhân tố giá bán, khối lượng (số lượng, mức độ hoạt động), kết cấu hàng bán chi phí(cố định, biến đổi) và sự tác động của các nhân tố này đến lợi nhuận của doanh

nghiệp"(Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương mại, 2006)

Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận có vai trò quan trọngtrong việc ra quyết định Khi hoạt động kinh doanh diễn ra, ngoài các khoản địnhphí nhất định bất kể mức tiêu thụ của DN là bao nhiêu thì mỗi hoạt động kinh doanhcủa DN đều phát sinh các khoản biến phí đi kèm Do đó, hoạt động kinh doanh của

DN trước hết phải xem xét doanh thu có đủ bù đắp được biến phí, tạo ra lợi nhuận

để bù đắp định phí hay không Nghiên cứu mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợinhuận được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích chi phí thành biến phí và định phí kếthợp xác định sự ảnh hưởng của biến phí, định phí đến lợi nhuận khi khối lượng bánthay đổi

Mặt khác, mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận được thể hiện chủyếu thông qua phân tích điểm hòa vốn Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thuvừa đủ bù đắp hết các chi phí hoạt động kinh doanh đã bỏ ra trong điều kiện giá bán

dự kiến hay giá được thị trường chấp nhận Điểm hòa vốn là một chỉ tiêu kinh tếquan trọng, giúp nhà quản trị xác định mức sản xuất và tiêu thụ để có thể đạt đượcmức lợi nhuận như dự kiến Từ đó, doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch hoặc thayđổi kế hoạch đã xây dựng trước để phù hợp với từng thời điểm, thời kỳ

Việc phân tích mối quan hệ này giúp doanh nghiệp đưa ra được các quyết địnhtrong sản xuất, kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận như: Lựa chọn sản phẩm vàsản lượng sản xuất, giá bán, định mức chi phí

Phân tích thông tin thích hợp

Mục tiêu của tổ chức xử lý, phân tích thông tin thích hợp là phục vụ cho cácquyết định của nhà quản trị Các quyết định bao gồm: Quyết định ngắn hạn và quyếtđịnh dài hạn

Ngày đăng: 02/02/2020, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w