Cuốn sách Tìm hiểu Luật Các công cụ chuyển nhượng do Luật gia Hoàng Hoa Sơn biên soạn, Nhà xuất bản Dân trí ấn hành giới thiệu đến bạn đọc về Luật Các công cụ chuyển nhượng. Sách gồm 3 phần: Phần A - Giới thiệu Luật Các công cụ chuyển nhượng, phần B - Hỏi đán về Luật Các công cụ chuyển nhượng, phần C - Phụ lục. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TÌM H IỂ U
Luật gia HOÀNG HOA SƠN biên soạn
Trang 2"hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ - ngân hàng" Đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu hoàn chỉnh hệ thống pháp luật thông qua việc xây dựng
và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng như ban hành mới, sửa đổi và bổ sung các đạo luật và Pháp lệnh để hình thành một khuôn khổ pháp
lý đồng bộ Như vậy, việc xây dựng Luật về công cụ chuyển nhượng để đáp ứng nhu cầu như thực tiễn của cuộc sống, là bước đi cần thiết để thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng trong thời kỳ mới Việc ra đời Luật Các công cụ chuyển nhượng còn đóng vai trò bảo hộ, khuyến khích cho
Trang 3việc hình thành, phát triển và sử dụng các công cụ chuyển nhượng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước.
Hai là xuất phái từ sự cần thiết khách quan của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công cụ chuyển nhượng.
Pháp lệnh Thương phiếu tuy nhiên, cho đến năm 2005, Pháp lệnh này vẫn chưa đi vào cuộc sống Việc triển khai chậm Pháp lệnh Thương phiếu năm 1999 là một thực tế rõ ràng, thuộc cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Bên cạnh những nguyên nhân về hướng dẫn triển khai thực hiện, còn có nguyên nhân từ chính những bất cập trong Pháp lệnh Những quy định trong Pháp lệnh về cơ bản chứa đựng hầu hết các quy tắc chính của Luật thống nhất về hối phiếu theo Công ước Giơnevơ năm 1930, song vẫn còn những quy định làm hạn chế các hoạt động của thương phiếu và tạo rủi ro cho ngân hàng (như hoạt động thương phiếu phải gắn với tín dụng ngân hàng)
- Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh tín dụng ngân hàng, còn xuất hiện và phát triển hình thức tín dụng thương mại Để giúp tín dụng thương mại thực hiện được, đã xuất hiện những công cụ giúp doanh nghiệp đòi nợ hoặc nhận nợ, phục vụ cho các doanh nghiệp thanh toán, đòi tiền lẫn nhau Những công cụ này gồm có hối phiếu đòi nợ (biII of exchange), hối phiếu nhận nợ (promisory note), séc (cheque), vì những công cụ này có thể chuyển nhượng được nên người ta gọi chung là công cụ chuyển nhượng Trên thực tế, quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp, tiểu thương đã tồn tại như một thực tế khách quan trong nền
Trang 4kinh tế Việt Nam ở Việt Nam, hiện nay, các doanh nghiệp
và các ngân hàng đã sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc
tế theo thông lệ quốc tế Trong thanh toán nội địa, đặc biệt là
ở các chợ đầu mối, việc mua bán chịu đã xuất hiện những
"giấy nhận nợ" hay "giấy đòi nợ" do người bán hàng hoặc người thanh toán phát hành để mua-bán chịu lẫn nhau nhưng chưa được Pháp lệnh điều chỉnh Bộ luật Dân sự và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tê cũng chỉ có một số nội dung điều chỉnh đối với thương phiếu; Luật Thương mại (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 đã bỏ chương về thương phiếu
Vì vậy, nhu cầu hình thành một hệ thống các quy định của pháp luật để bảo vệ có hiệu quả quyền của chủ nợ đã trở nên bức xúc Mặt khác, trong điều kiện hầu hết các doanh nghiệp nước ta có quy mô sản xuất nhỏ bé, thiếu vốn kinh doanh, việc đưa thương phiếu vào sử dụng là cần thiết nhằm tạo thêm kênh huy động vốn, tiếp cận tín dụng thương mại cho các doanh nghiệp Điếu này cho thấy việc thể chế hoá các quan
hệ tín dụng thương mại bằng các quy định của Luật Các công
cụ chuyển nhượng nói chung và pháp luật về thương phiếu nói riêng là một đòi hỏi tất yếu khách quan của nền kinh tế
hàng và tạo thêm công cụ cho thị trường tiền tệ đã trở nên cấp thiết Luật Các tổ chức tín dụng đã cho phép các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu Nhưng hoạt động chiết khấu thương phiếu vẫn chưa trở thành kênh cấp tín dụng của các tổ chức này, vì các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu chưa được ban hành và thương phiếu cũng chưa được sử dụng trên thực
Trang 5tế Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động của thị trường tiền tệ còn hạn chế là do thiếu các công
cụ của thị trường Việc thiếu công cụ này xuất phát từ bất cập cùa quy định pháp luật về thương phiếu Thực tế này đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thiện các quy định pháp luật về các công cụ chuyển nhượng để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và tạo thêm công cụ cho thị trường tiền tệ
đặt ra yêu cầu hoàn thiện cũng như xây dựng mới các văn bản pháp luật trong nước nhằm tạo nên một cơ chế pháp lý đồng
bộ, phù hợp với thực tiễn của nước ta, yêu cầu của pháp luật
và thông lệ quốc tế Trong những năm gần đây, cùng với việc nước ta gia nhập ASEAN, AFTA, APEC, ký Hiệp định song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và việc đàm phán gia nhập WTO, các doanh nghiệp nước ta ngày càng mở rộng quan hệ giao lưu thương mại, đầu tư với các nước trong khu vực và trên thế giới Quá trình hội nhập và tãng cường giao lưu thương mại này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu và sử dụng các phương thức, phương tiện thanh toán phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế như thư tín dụng, séc, hối phiếu, Mặt khác, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi nước ta phải thay đổi, ban hành mới một số văn bản quv phạm pháp luật mới để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phù hợp hom với thể chế, chuẩn mực và thông lệ quốc tế, trong đó có cam kết của Việt Nam vói Ngân hàng Phát triển châu Á vế việc ban hành Luật Các công cụ chuyển nhượng
Trang 6Việc đưa các loại công cụ chuyển nhượng với tư cách là phương tiện thanh toán, công cụ tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường vào nền nước ta đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ cho các hoạt động có liên quan đến công cụ chuyển nhượng Trong đó việc ban hành Luật Các công cụ chuyển nhượng sẽ bảo đảm cho việc hình thành khung pháp lý cần thiết về công cụ chuyển nhượng và làm cơ sở pháp lý cho việc phát hành, sử dụng các loại công cụ chuyển nhượng trên thực tế.
Từ các lý do đã phân tích ở trên cho thấy, việc ban hành Luật Các còng cụ chuyển nhượng là cần thiết, không chỉ đáp ứng các yêu cầu khách quan của nền kinh tế mà còn thể chế hoá đường lối của Đảng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đáp ứng nhu cầu hội nhập, hoàn thiện các quy định của pháp 'uật hiện hành có liên quan đến công cụ chuyển nhượng
II QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO Đ ố i VỚI VIỆC XÂY DỰNG LUẬT CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN n h ư ợ n g
Luật Các công cụ chuyển nhượng được xây dựng trên cơ
sở quán triệt những nguyên tắc và quan điểm chỉ đạo sau đây:
- Phải thể chế hoá các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
- Việc phát hành và sử dụng các công cụ chuyển nhượng phải góp phần lành mạnh hoá các quan hệ tài chính - tiền tệ trong đời sống xã hội; góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng giữa các tiểu thương, doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp với ngân hàng trong nền kinh tế thông qua việc tạo thêm kênh
Trang 7cấp tín dụng cho các ngân hàng bằng việc chiết khấu công cụ chuyên nhượng; bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ công cụ chuyên nhượng, hạn chê tình trạng nợ nần dày dưa trong nền kinh tế; tạo thêm phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế; tạo thêm công cụ của thị trường tiền tệ cho Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả hơn.
- Luật Các công cụ chuyển nhượng cần quy định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc phát hành, sử dụng, chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh, thanh toán, truy đòi, khởi kiện hối phiếu Luật về công cụ chuyển nhượng phải thực sự là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hối phiếu, thúc đẩy việc
sử dụng và lưu thông các hối phiếu Đặc biệt, các quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp và biện pháp cưỡng chế thi hành các phán quyết, quyết định của Trọng tài, Toà án cần phải được sửa đổi, hoàn thiện để tạo ra cơ chế có hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người thụ hưởng khi bị vi phạm Đồng thời, Luật Các công cụ chuyển nhượng phải bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp của hệ thống pháp luật
- Luật Các công cụ chuyển nhượng phải phù hợp với các thông lệ quốc tế và đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế và các cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế, cũng như các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thê giới (WTO) và góp phán náng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam
Trang 8Luật Các công cụ chuyển nhượng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Ngày 09 tháng 12 năm 2005, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 22/2005/L/CTN công
bô ban hành Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 nãm 2006
III NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT CÁC CÔNG c ụ CHUYỂN NHƯỢNG
Luật Các công cụ chuyển nhượng được Quốc hội khoá XI
kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, gồm 83 điều chia làm 5 chương, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006 Luật này thay thế Pháp lệnh Thương phiếu ngày 24/12/1999
và các văn bản quy phạm pháp luật khác về thương phiếu và
phiếu và các văn bản dưới luật có liên quan, cho nên Luật Các cồng cụ chuyển nhượng đã kế thừa những nội dung của các văn bản pháp luật này đồng thời có những quy định mới cho phù hợp với thực tiễn thương mại trong nước và quốc tế Nội dung cơ bản của Luật Các công cụ chuyển nhượng như sau:
1 Những quy định chung
a- Phạm vi điểu chỉnh của Luật Các cóng cụ chuyển nhượng
Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định phạm
vi điều chỉnh là các quan hệ hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận
nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng,
Trang 9cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện Trước đây Pháp lệnh Thương phiếu quy định điều chỉnh đối với các quan
hệ thương phiếu mà cụ thể là hối phiếu và lệnh phiếu Như vậy, Luật Các công cụ chuyển nhượng điều chỉnh 3 loại còng
cụ gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc So với Pháp lệnh Thương phiếu thì Luật Các công cụ chuyển nhượng
đã bổ sung thêm công cụ chuyển nhượng là séc
So với Pháp lệnh Thương phiếu năm 1999, phạm vi điều chỉnh của Luật Các công cụ chuyển nhượng được mở rộng phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, theo hướng Luật điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, thanh toán, truy đòi, khởi kiện Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường.Quy định trên nhằm tách bạch, tránh nhầm lẫn giữa công
cụ chuyển nhượng với các cộng cụ dài hạn nhằm huy động vốn như cổ phiếu, trái phiếu thuộc phạm vi điểu chỉnh của Luật Chứng khoán đang được xây dựng và dự kiến trình Quốc hội thông qua vào tháng 5/2006
những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ sẽ có quy định :ụ thể việc áp dụng Luật này đối với công cụ chuyển nhượng
định này mà không quy định cụ thể trong Luật? Trên thế giới, ngoài ba công cụ hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhện nợ, séc, còn có công cụ nào khác? Qua tham khảo kinh nghiệm cic
Trang 10nước, có thể thấy rằng ngoài 3 công cụ (hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc) còn xuất hiện thêm một công cụ chuyển nhượng khác, đó là chứng chỉ tiền gửi (certiíicate of deposit - CD) Việc chưa đưa các nội dung cụ thể về chứng chỉ tiền gửi vào phạm vi điều chỉnh của Luật này do các nguyên nhân sau:
+ Luật này điều chỉnh một lĩnh vực rất mới, trước mắt nên điều chỉnh một số công cụ đã rõ và phổ biến Sau một số năm thực hiện, tuỳ theo sự phát triển của thị trường, Luật có thể được bổ sung thêm các công cụ khác (như chứng chỉ tiền gửi).+ Về bản chất, chứng chỉ tiền gửi là 1 loại hối phiếu nhận
nợ, nhưng các chứng chỉ tiền gửi hiện có của các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa đúng với thông lệ quốc tế Muốn điều chỉnh chứng chỉ tiền gửi trong Luật này thì hệ thống ngân hàng phải "thay đổi" lại toàn bộ hình thức và cơ chế phát hành chứng chỉ tiền gửi hiện nay, việc này đòi hỏi phải
Bèn cạnh đó, về neuyên tắc một giấy tờ có giá chỉ là công cụ chuyển nhượng khi có đủ các điều kiện sau: là chứng chỉ bằng văn bản; chứa đựng yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không diều kiện; có thể chuyển nhượng
Trang 11từ người này sang người khác để người nhận chuyển nhượng trở thành người thụ hưởng theo các cách đặc biệt là chuyển nhượng bằng chuyển giao và số tiền phải thanh toán trên công cụ phải được thanh toán khi có yêu cầu hoặc tại một thời điểm có thể xác định trong tương lai cho người thụ hưởng cụ thể được ghi tên trên công cụ hoặc theo lệnh của người này hoặc người cầm công cụ Cân cứ vào các điều kiện này, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc ở nước
ta hiện nay có đầy đủ các điều kiện của một công cụ chuyển nhượng Sở dĩ Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định 03 công cụ chuyển nhượng là hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận
nợ và séc là vì lý do sau đây:
luật như Nghị định 159/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Thông
tư 05/2004/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việc xây dựng văn bản thống nhất điếu chỉnh tất cả các hôi phiếu dưới hình thức luật là phù hợp với đặc thù của các hối phiếu, khắc phục sự xung đột pháp lý có thể xảy ra hoặc các điểm khác biệt giữa các văn bản quy phạm pháp luật về các loại hối phiếu với các luật có liên quan Việc đưa các quy định tại Pháp lệnh Thương phiếu, Nghị định 159/2003/NĐ-
CP, Thông tư 05/2004/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vào một văn bản luật thống nhất về công cụ chuyển nhượng là một biện pháp để nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định hiện hành, đồng thời nhằm pháp điển hoá các quy định pháp luật về hối phiếu đang tồn tại ở nhiều vãn bản quy phạm pháp luật khác nhau và cũng phù hợp với xu hướng lập pháp của nước ta và phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 12- Về bản chất séc là hối phiếu đòi nợ có sự tham gia của các ngân hàng với tư cách là người ký phát Hầu hết các quy định hiện hành về séc cũng có nội dung tương tự như các quy định về hối phiếu Vì vậy việc đưa công cụ séc và hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ vào trong một luật chung là phù hợp với tính chất chuyển nhượng đặc thù của các công cụ.
- Trong thực tế đời sống kinh tế nước ta cũng đang tồn tại chứng chỉ tiền gửi v ề bản chất chứng chỉ tiền gửi cũng là mộl ioại hối phiếu nhận nợ do ngân hàng phát hành, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển thì chứng chỉ tiền gửi cũng được coi là một công cụ chuyển nhượng Tuy nhiên hiện tại chứng chỉ tiền gửi ở Việt Nam chưa được phát hành theo hình thức và tính chất của chứng chỉ tiền gửi như chuẩn mực quốc tế, mà thực chất vẫn là sổ tiền gửi tiết kiệm được gọi tên là chứng chỉ tiền gửi và những người nắm giữ chứng chỉ tiền gửi chủ yếu là cá nhân, ít có nhu cầu chuyển nhượng Do đó trước hết đối với chứng chỉ tiền gửi chỉ cần điều chỉnh bằng vãn bản dưới luật để bảo đảm khả nãng linh hoại, có thể chỉnh sửa; khi có đủ điều kiện cần thiết sẽ đưa vào Luật sau
b- Đối tượng áp dụng Luật Các công cụ chuyển nhượng
Trước đây, tại Điều 2 Pháp lệnh Thương phiếu quy định chủ thể được quyền phát hành thương phiếu (người ký phát, người phát hành) chỉ là các doanh nghiệp gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội và hợp tác xã, trừ các tổ chức tín
Trang 13dụng Những quy định này đã hạn chế quyển phát hành thương phiếu của một số thươna nhân không phải la doanh nghiệp như cá nhân có đăng ký kinh doanh, hộ kiinh doanh
cá thể Sự hạn chế này không hợp lý và đi ngược lai chính sách tạo ra sân chơi bình đẳng cho các đối tượng và các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Mặt khác quy định này cũng đã đặt một số lượng lớn quan hệ rrua bán chịu giữa các thương nhân ra khỏi phạm vi điều chinh của pháp lệnh và có thể tiếp tục làm gia tăng rủi ro t.rong hoạt động mua bán chịu của thương nhân vì không điưcc pháp luật thừa nhận và bảo hộ
Để bảo đảm quyền và lợi ích cho các đối tượng và các thành phần kinh tế, Luật Các công cụ chuyển nhtưẹng quy định tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân ntưcc ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên linh thổ Việt Nam (Điều 2) đều là đối tượng áp dựng của Liật nay Như vậy, đối tượng áp dụng của Luật Các công C'.ụ ehu}ển nhượng đã được mở rộng đến tất cả các tổ chức., cá nhân trong nước và nước ngoài, kể cả các tổ chức tín dụns
c- Cơ sở ký phát công cụ chuyên nhươìig
phát thương phiếu là những quan hệ phát sinh từ hoư động thương mại có liên quan đến hoạt động tín dụng n;gâi liàng Cho nên, việc phát hành thương phiếu lại chỉ được thíc hiện khi có sự tham gia của tổ chức tín dụng Quy định n;à) đã hạn chế việc sử dụng thương phiếu của các doanh nghìiệ? về cả loại hình doanh nghiệp và phạm vi sử dụng thương phếu của doanh nghiệp, đồng thời lại làm cho việc sử dụntg thươig
Trang 14phiếu để thanh toán sẽ tốn kém hơn Đặc biệt quy định này sẽ tạo ra sự rủi ro nhất định cho các tổ chức tín dụng khi tham gia vào quan hệ thương phiếu vì toàn bộ rủi ro từ các doanh nghiệp đã chuyển cho họ Việc Pháp lệnh Thương phiếu chỉ cho phép phát hành thương phieu trên cơ sở quan hệ thương mại có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàn? đã loại bỏ các cơ sở phát hành thương phiếu phổ biến trên thế giới là quan hệ tín dụng ngân hàng và quan hệ tín dụng thương mại (một cách độc lập giữa các thương nhân).
Một bất cập khác liên quan đến các quy định về cơ sở phát hành thương phiếu là hạn chế các ngân hàng cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cô thương phiếu Theo quy định hiện hành, các ngân hàng sẽ tham gia vào quan hệ thương phiếu dưới một trong hai hình thức: Ký chấp nhận cấp tín dụng trực tiếp và ký bảo lãnh cấp tín dụng gián tiếp dưới hình thức bảo lãnh ngân hàng Do vậy, khi các ngân hảng chiết khấu hoặc cấp tín dụng cầm cố thương phiếu thì một quan hệ thương phiếu đã dược cấp tín dụng hai lần - điều các ngân hàng chiết khấu, cho vay cầm cố khó chấp nhận cấp tín dụng
Điều 3 Luật Các công cụ chuyên nhượng đã có mở rộng hơn so với Pháp lệnh Thương phiếu trước đây Theo đó, người ký phát, người phát hành được phát hành công cụ chuyển nhượng trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, cho vay £fiữa các tổ chức, cá nhân với nhau; giao dịch cho vav của các tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân; giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật
Trang 15Quan hệ công cụ chuyển nhượng là quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện về công cụ chuyển nhượng Quan hệ công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này độc lập không phụ thuộc vào
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, cho vay giữa các tổ chức, cá nhân với nhau; giao dịch cho vay của các tổ chức tín dụng với
tổ chức, cá nhân; giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 3) Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những quy định về khởi kiện, truv đòi, bồi thường thiệt hại khắc phục tình trạng muốn kiện đòi số tiền trên công cụ chuyển nhượng, naười thụ hưởng phải khởi kiện người mua trên cơ sở vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng gốc như trước đây
Như vậy, so với Pháp lệnh Thương phiếu nãm 1999, đã có
sự thay đổi Nếu trước đây chúng ta chỉ cho phép các doanh nghiệp mới có quyền phát hành thương phiếu nhưng đến nay quy định này đã không còn phù hợp nữa Việc mở rộng chủ thể được quyền ký phát hoặc phát hành công cụ chuyển nhượng để tạo sân chơi bình đẳng cho các thương nhân đồne thời là một trong những biện pháp góp phần đưa các công cụ này vào cuộc sống Dựa trên cơ sở các giao dịch gốc, các công cụ chuyển nhượng sẽ được xuất hiện và sử dụng Ngoài
ra, quy định này cũng là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nếu không có điều khoản quy định về giao dịch cơ sở của việc
ký phát, phát hành công cụ chuyển nhượng thì sẽ khó khăn trong việc phòng tránh hiện tượng phát hành khống cũng như khó khăn hơn trong công tác quản lý
Trang 16Tuy nhiên, để quy định này không làm ảnh hưởng tới tính
"chuyên nhượng" của công cụ, Luật đã luật hóa về tính trừu tượng của các cóng tụ này, đó là "Quan hệ công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật fiày độc lập, không phụ thuộc vào giao dịch cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng" (khoản 2 Điều 3) Nội dung này đã được cụ thể hóa trong quy định tại Chương V vé khởi kiện
d- Vé giải thích từ ngữ (Điều 4): Luật Các công cụ chuyển nhượng đã đưa ra các giải thích từ ngữ đầy đủ và phù hợp với các nội dung có liên quan trong Luật So với Pháp lệnh Thương phiếu năm 1999, các giải thích này đã tạo cách hiểu thống nhất, tránh tình trạng dẫn đến những mâu thuẫn và bất cập trong cách hiểu do tiếng Việt là đa nghĩa Luật đã bỏ khóng sử dụng khái niệm "thương phiếu" như cách hiểu trong Phấp lệnh Thương phiếu năm 1999 Luật đã giải thích rõ khái niệm công cụ chuyển nhượng, đó là "giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một
số tiền xác định vào một thời điểm nhất định"; đồng thời đã phán biệt rõ giữa hối phiếu dòi nợ (Bill of exchange) và hối phiếu nhận nợ (Promissory note), cụ thể như:
Hòi phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, vêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
Hôi phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
Trang 17e- Áp dụng Luật Các công cụ chuyển nhượng và cáic luật liên quan
Khoản 1 Điều 5 Luật Các công cụ chuyển nhượn;Ẹ quy định các bên tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng phải tuân theo Luật này và pháp luật có liên quan Căn c ứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với các công cụ chuyển nhượng (khoản 2 Điều 5) Đầy là quy định khá mềm dẻo so với Pháp lệnh Thương phiếu nói riêng và các văn bản luật hiện hành nói chung trong việc áp dụng pháp luật Vì các văn bản luật hiện hành hầu hết đều có quy định ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành sau đó mới áp dụng luật khung Với nhữn:g quy định này, chúng ta không thể xác định được ngay trong trường hợp nào thì ưu tiên áp dụng Luật Các công cụ chiuyển nhượng, trong trường hợp nào thì ưu tiên áp dụng pháp luật có liên quan mà tuỳ thuộc vào những quy định của Chính phủ trong các văn bản hướng dẫn
g- Về áp dụng tập quán thương mại quốc tẻ trong ,quan
hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài (Điê u (í):
Một thực tế rõ ràng là tập quán thương mại quốc tế áp dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế (trong hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước) và đi theo nó là các quan hệ t hanh toán xuất nhập khẩu với các nước là các hoạt động hoàn toàn mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn và được thê giới chấp nhận sử đụng trong quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế Việc cho phép các tổ chức, cá nhân áp dụng cátC tập quán thương mại quốc tế sẽ có tác dụng tích cực phát triển các quan hệ thương mại với nước ngoài, góp phần làm tàng
Trang 18trưởng kinh tế trong nước và giải quyết việc làm cho người lao động Do vậy Luật Các công cụ chuyển nhượng đã quy định rõ một sô thông lệ quốc tế được áp dụng trong quan hệ
Trong trường hợp quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, các bên tham gia quan hệ công cụ chuyên nhượng được thoả thuận áp dụng các tập quán thương mại quốc tế gồm Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ, Quy tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng thương mại Quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế có liên quan khác theo quy định của Chính phủ."
Đối với việc áp dụng Điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế trong giao dịch thương phiếu có yếu tố nước ngoài, tại Điều 6 Luật Các công cụ chuyển nhượng có sự kế thừa Điều 4 Pháp lệnh Thương phiếu và quy định cụ thể hơn cho phù hợp vói thông lệ thương mại quốc tế Theo đó, trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó (khoản 1 Điều 6)
Đồng thời điều khoản này cũng chỉ rõ trường hợp quan
hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, các bên tham gia quan hệ được thoả thuận áp dụng các tập quán thương mại quốc tế gồm Quy tắc thực hành thống nhất về tín dung chứng từ, Quy tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng Thương mại quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế có lién quan khác thì theo quy định của Chính phủ (khoản 2 Điều 6)
Trang 19Trường hợp công cụ chuyển nhượng được phát hành ở Việt Nam, nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyên nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở một nước khác, thì công cụ chuyển nhượng phải phát hành theo quy định của Luật này (khoản 3 Điều 6) Trường hợp cóng cụ chuyển nhượng được phát hành ờ nước khác, nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở Việt Nam, thì việc chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, Iruy đòi, khởi kiện được thực hiện theo quy định của Luật này (khoản 4 Điều 6)
h- Các thời hạn liên quan đến công cụ chuyển nhượng
Điều 7 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định về các thời hạn liên quan đến công cụ chuyển nhượng cũng đã kế thừa trọn vẹn khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh về thương phiếu Theo đó, thời hạn thanh toán, thời hạn gửi thông báo truy đòi và thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp về quan hệ công
cụ chuyển nhượng được tính cả ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ cuối tuần; nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ cuối tuần thì ngày cuối cùng của thời hạn
là ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ cuối tuần đó
Thời hạn thanh toán cụ thể của từng công cụ chuyển nhượng do người ký phát, người phát hành xác định và íỊhi trên công cụ chuyển nhượng phù hợp với Luật này (khoải 2 Điều 7) Quy định này đã khắc phục tình trạng cứng nhắc của
là ngắn hạn (dưới 365 ngày)
Trang 20Thời hạn gửi thông báo truy đòi, thời hiệu khởi kiện khi công cụ chuyên nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán được thực hiện theo quy định tại Điều 50 về thời
công cụ chuyển nhượng
2 Hôi phiếu đòi nợ
Chương II gồm 7 mục, 37 điểu, bao gồm các quy định về phát hành hối phiếu đòi nợ (trong đó có các nội dung của hối phiếu đòi nợ và nghĩa vụ của người ký phát), chấp nhận hối phiếu đòi nợ, bảo lãnh hối phiếu đòi nợ, chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ, chuyển giao để cầm cố và chuyển giao để nhờ thu hối phiếu đòi nợ, thanh toán hối phiếu đòi nợ, truy đồi do hối phiếu đòi nợ không được chấp nhận hoặc không được thanh toán Đây là các nội dung cơ bản bảo đảm quyền và lợi ích họp pháp của các bên có liên quan đến việc phát hành, sử dụng, chuyển nhượng, truy đòi về hối phiếu đòi nợ
Một sô nội dung cần lưu ý như sau:
Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá mang tính chuẩn mực cao, trẽn công cụ phải thể hiện đầy đủ, chính xác các nội đung luật định cho từng loại công cụ cụ thể Thiếu (không chính xác) một trong các nội dung này, chúng không có giá trị thanh toán Các nội dung của công cụ chuyển nhượng là qui định không thể thiếu dược trong bất kỳ một luật nào trên tliế giới Việc quy định về nội dung của từng loại công cụ là rất quan trọng, giúp cho việc nhận dạng và chuyển nhượng công cụ dỗ dàng
Cũng giống như luật vé công cụ chuyển nhượng các nước, Luật Các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam chỉ liệt kê
Trang 21các nội dung cần và đủ cho công cụ chuyển nhượng, được chia thành 2 nhóm sau:
+ Nhóm các nội íiuno bắt buộc phải có: Nếu thiếu, kh ông chính xác một trong các nội dung này tờ thương phiếu không
có giá trị đê thanh toán Nhóm các nội dung bắt buộc có thể bao gồm:
Tiêu đề "Hối phiếu đòi nợ" hoặc "Hối phiếu nhận nợ" hoặc "Séc";
Tên và địa chỉ của người bị ký phát (Nếu không có tên và địa chỉ của nẹười bị ký phát, thì sẽ là hối phiếu nhận nợ Người ký phát cũng trở thành người phát hành và chứng chỉ
có giá này cũng chỉ là sự ghi nhận việc cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định của người phát hành đôi với người thụ hưởng);
Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát (yêu cầu này nhằm đảm bảo quy định người ký phát chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc ký phát hành hối phiếu và cũng là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán sô tiền trên hối phiếu nếu người bị ký phát từ chối chấp nhận một phần hay toàn bộ số tiền trên hối phiếu khi hối phiếu được xuất trình đề nghị chấp nhận đúng hạn, đúng các điều kiện theo luật định);
Ngày ký phát hành (yêu cầu này nhằm xác định được thời điểm để tính thời hạn thanh toán; tên của người thụ hưởng Quy định này có ý nghĩa xác định ai là người thụ hưởng đầu tiên)
+ Nhóm các nội dung tuỳ nghi: Nếu các nội dung này không có trên cỏng cụ chuyển nhượng thì có thể vân có giá trị
Trang 22thanh toán Các nội dung này bao gồm: Thời hạn thanh toán, địa điếm trả tiền, địa điểm ký phát (Việc quy định nội dung nào sẽ do từng loại công cụ quyết định) Nguyên tắc này được nêu ra trong luật của các nước, gọi là nguyên tắc "suy đoán” Bằng việc sử dụng nguyên tắc này có thể suy doán các yếu tô nói trên, các quỵ định này có tính khoa học nhằm tránh được những vấn đề như địa điểm ký phát ở trên máy bay, tàu biển, hội chợ triển lãm ở nước ngoài v.v Nguyên tắc suy đoán được thể hiện tại khoản 2 Điều 16 như sau:
Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người
bị ký phát;
Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi
nợ thì hối phiêu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát."
Đối với hối phiếu nhận nợ cũng có quy định tại khoản 2 Điều 52; đối với séc có quy định tại khoản 2 Điều 58 (Tùy đôi với mỗi loại công cụ, mà có quy định cụ thể chophù hợp)
a- Phát hành hối phiếu đòi nợ
- Nội dung của hối phiếu đòi nợ
Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhẵt định trong tương lai cho người thụ hưởng Pháp lệnh Thương phiếu gọi hối phiếu đòi nợ là hối phiếu
Trang 23Tiếp thu quy định của Điều 11 Pháp lệnh Thương phiếu, Điều 16 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định hối phiếu đòi nợ có các nội duns sau đây: cụm từ "Hối phiếu đòi nợ" được ghi trên mặt trước của hôi phiếu đòi nợ; yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định; thời hạn thanh toán; địa điểm thanh toán; tồn đôi với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ của người bị ký phát; tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người
ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu (tòi nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người cầm giữ; địa điểm và ngày ký phát; tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người ký phát
Ngoài Luật Các công cụ chuyển nhượng đã có những quy định mới ra so với Pháp lệnh Thương phiếu cho phù hơp với thực tiễn thương mại và ý chí cùa các bên tham gia quan hệ Trước đây Pháp lệnh Thương phiếu quy định thương phiếu thiếu một trong các nội dung quy định sẽ khống có giá trị Luật Các công cụ chuyển nhượng tại khoản 2 Điều 16 cùng quy định hối phiếu đòi nợ thiếu một trong các nội dung trên
sẽ không có giá trị, trừ các trường hợp sau đáy:
- Thời hạn thanh toán không được ghi trên hỏi phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình
- Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiêu đòi
nợ thì hối phiếu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chí của người ký phát
- Địa chỉ ký phát không được ghi trên hối phiếu đòi nợ hì hối phiếu đòi nợ được coi là kv phát tại địa chỉ của người
ký phát
Trang 24Khi số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi bằng sô khác với sỏ tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng sô và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được shi bằng chữ có giá trị thanh toán (khoản 3 Điều 16) Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ khống có đủ chỗ để viết, hôi phiếu đòi nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu Người đầu tiên láp tờ phụ phải gắn tiền tờ phụ với hối phiếu đòi nợ
và kv tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu đòi nợ (khoản 4 Điều 16)
- Nglũa vụ của người ký phát
Kế thừa quy định Điều 12 Pháp lệnh Thương phiếu, Điều
17 Luật Các công cụ chuyên nhượng quy định người ký phát
có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán Trường hợp người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh đã thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng sau khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc
bị từ chối thanh toán thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho lìgười chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh số tiền ghi trên hối phiếu đó
b- Chấp nhận hối phiếu đòi nợ
- Xuất trình hối p h iế u để yêu cầu chấp nhận
Để được chấp nhận hối phiếu đòi nợ thì người thụ hưởng liối phiếu đòi nợ phải xuất trình hối phiếu để yêu cầu chấp
Trang 25nhận Điều 18 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu đòi nợ để véu cầu chấp nhận trong những trường hợp sau đàv:
- Người ký phát đã ghi trên hối phiếu đòi nợ là hối phiếu này phải được xuất trình để yêu cầu chấp nhận
- Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được chấp nhận phải xuất trình để yêu cầu chấp nhận trong thời hạn 1 năm kể
từ ngày ký phát
Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận được coi là hợp lệ khi hối phiếu đòi nợ được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình đúng địa điểm thanh toán, trong thời gian làm việc của người
bị ký phát và chưa quá hạn thanh toán (khoản 2 Điều 18) Hối phiếu đòi nợ có thể được xuất trình để chấp nhận dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng Ngày xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm (khoản 3 Điều 18)
- Thời hạn chấp nhận
Trước đây, Pháp lệnh Thương phiếu quy định không rõ ràng về thời hạn chấp nhận hôi phiếu đòi nợ Điều 19 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định người bị ký phát thưc hiện việc chấp nhận hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu đòi nợ trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày hối phiếu đòi r.ợ được xuất trình; trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuìt trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính côrg
Trang 26cộng thì thòi hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ Khi người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu đòi nợ theo quy định nêu trên thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người ký phát (Điểu 20) Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị ký phát chấp nhận trong thời hạn nêu trên Khi hối phiếu đòi nợ
bị từ chối chấp nhận toàn bộ hoặc một phần thì người thụ hưởng có quvền truy đòi ngay lập tức đối với người chuyển nhượng trước mình, người ký phát, người bảo lãnh theo quy định tại Điều 48 của Luật này (Điều 23)
Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ cụm từ "chấp nhận”, ngày
ký chấp nhận và chữ ký của mình (Điều 21) Sau khi chấp nhận hối phiếu đòi nợ, người chấp nhận có nghĩa vụ thanh toán không điều kiện hối phiếu đòi nợ theo nội dung đã chấp nhận cho người thụ hưởng, người đã thanh toán hối phiếu đòi
mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán kliòng đầy đủ Điều 20 Pháp lệnh Thưưng phiếu trưức đây đã
Trang 27có quy định việc bảo lãnh tỉurơne phiếu được người bào lanh thực hiện bằng một tron^ các hình thức: Cam kết bao lanh
được ghi trên thương phiếu; hoặc cam kết bảo lãnh đượíC Ịập
thành văn bản riêng kèm theo thương phiếu Cam kết hảo lãnh phải được người bảo lãnh ghi trên thương phiếu hoặc: văn bản riêng từ "bảo lãnh”, số tiền cam kết bảo lãnh, tên, địai chí, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh
Luật Các cồng cụ chuyển nhượng tiếp tục kế thừa quy định này bằng việc quy định tại Điều 25 như sau: Việc bảo lãnh
cụm từ "bảo lãnh", số tiền bảo lãnh, tên, địa chỉ, chữ icý của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trèn hối ph ếut đòi
nợ hoặc trên tờ phụ Đồng thời Điềư luật này cũng có quy định bổ sung trong trường hợp bảo lãnh khổng ghi tên ntgười được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãrh cho người ký phát
- Quyên và nghĩa vụ của người bảo lãnh
Điều 26 Luật Các công cụ chuyển nhượng quv đnhi về quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh đã kế thừa quy (inh tại Điều 21 Pháp lệnh Thương phiếu Theo đó, khi nhận bin l ãnh
hối phiếu đòi nợ, người bảo lãnh có nghĩa vụ [hanh tOcĩì hối
phiếu đòi nợ đúng với số tiền đã cam kết bảo lãnh, nếu ngĩươ! được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện khỏng cầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi hối phiếu đòi nợ đẽi ỉhạn thanh toán Người bảo lãnh chỉ có quyền huỷ bỏ việc bảo líẫnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không đủ các nội durg bảt buộc của hối phiếu đòi nợ
Trang 28Saư khi thực hiện nchĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh được tiếp nhận các quyền của người dược bảo lãnh đối với người có
liên quan, xử lý tài Sỉín hảo đ ả m c ủ a người được bảo lãnh và
có quyền yẽu cầu người được bảo lãnh, người ký phát, người chấp nhạn liên dơi thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh dã thanh toán Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng và các quy định khác của pháp luật liên quan đến bảo lãnh ngân hàng như Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự
d- Chuyên nhượng hối phiếu đời nợ
- Nquyên tắc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ
Những nguyên tắc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ được quy định tại Đicu 29 Luật Các công cụ chuyển nhượng chính
là những quy định về điều kiện có hiệu lực của việc chuyển nhượng thương phiếu tại Điều 27 Pháp lệnh Thương phiếu trước đày Theo quy định nàv thì việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ phải tuân theo những nguyên tắc sau đây:
- Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là chuyển nhượng toàn hộ sổ tiền ghi trên hổi phiếu đòi nợ Việc chuvển nhượng một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ không có giá trị
- Viẹc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho hai người trở lên không có giá trị
• Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bàng ký chuyển nhượng phải là khône điều kiện Người chuyển nhượng không được ghi thêm trcn hối phiếu đòi nợ bất kỳ điều kiện nào ngoài nội dung quv định tại Điều 31 của Luật này Mọi điều kiện kèm theo việc kv chuyển nhượng không có giá trị
Trang 29- Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là sự chuyển nhượng tất cả các quyền phát sinh từ hôi phiếu đòi nợ.
- Hối phiếu đòi nợ quá hạn ihanh toán hoặc bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán thì không dược chuyển nhượng
- Người thụ hưởng có thể chuyển nhượng hổi phiếu đòi nợ cho người chấp nhận, người ký phát hoặc người chuyển nhượng
- Hình thức chuyển nhưcmg
Do có hạn chế trong quy định về chủ thể phát hành thươne phiếu nên trước đây thương phiếu chỉ được chuyển nhượng giữa các doanh nghiệp Thương phiếu được chuyển nhượng khi người thụ hưởng ký vào mặt sau thương phiếu và chuyển giao thương phiếu cho neười được chuyên nhượng Cũng bởi quy định việc lập thương phiếu phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng, cho nên Điều 29 Pháp lệnh Thương phiêu mới chỉ dừng lại ở quy định về hình thức chuyển nhượng duy nhất của thương phiếu đó là ký chuyển nhượng Tuy nhiên, liình thức ký chuvển nhượng quy định trong điều luật này là ký chuyển nhượng đầy đủ: "Việc ký chuyển nhượng phải đíợc ghi trên mặt sau thương phiêu hoặc trên tờ phụ đính kcm và phải ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người được chuyển nhượng, ngày chuyển nhượng và chữ ký của người chuyển nhượng"Điều 27 Luật Các công cụ chuyển nhượng đã có sự nở rộng hơn so với Pháp lệnh Thương phiếu trong việc quy đnh hình thức chuyên nhượng hối phiếu đòi nợ Theo đó, ngíời thụ hưởng có quyền chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ rteo một trong các hình thức sau đây:
Trang 30- Ký chuyển nhượng;
Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượn£ bằng cách ký vào mặt sau hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng Viộc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng được áp dụng đối với tất cả hối phiếu đòi nợ, trừ hối phiếu đòi nợ không được chuyên nhượng (Điều 30) Hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng là hối phiếu đòi nợ có ghi cụm từ "không đưực chuyển nhượng", "cấm chuyển nhượng", "không trả theo lệnh" hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự (Điều 28)Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng phải được người thụ hưởng viết, ký trên mật sau của hối phiếu đòi nợ Người chuyển nhượng có thể ký chuyển nhượng theo một trong hai hình thức sau đây: ký chuyển nhượng để trống và ký chuvổn nhượng đầy đủ Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng đế’ trống, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng Việc ký chuyển nhượng cho người cầm giĩr hối phiếu là ký chuyên nhượng để trống Khi chuyển nhượng bằng ký chuyên nhượng đầy đủ, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và phải ghi đầy
đủ tên của người được chuyển nhượng, ngày chuyển nhượng (Điều 31)
Chuyển nhượng bằng chuyển giao là việc người thụ hưởng chuyên quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng bằng cách chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho
Trang 31người nhận chuyển nhượng (Điều 33) Việc chuyển nhưọmg bằng chuyển giao được áp dụng đối với các hối phiếu đòi nợ sau đây:
- Hối phiếu đòi nợ được ký phát trả cho người cầm giữ
- Hối phiếu đòi nợ chỉ có một chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng để trống
- Hối phiếu đòi nợ có chuyển nhượng cuối cùng là chuy ển nhượng để trống
- Quyền và nghĩa vụ của người ký chuyển nhượng, chuyển giao hối phiếu đòi nợ
Pháp lệnh Thương phiếu không quy định về quyền và nghĩa vụ của người ký chuyển nhượng, chuyển giao thương phiếu Tuy nhiên, đến Luật Các công cụ chuyển nhượng đã có quy định về quyền và nghĩa vụ của người ký chuyển nhượng, chuyển giao hối phiếu đòi nợ Đây chính là điểm mới của Luật Các công cụ chuyển nhượng đối với Pháp lệnh Thương phiếu trước đây
Theo đó, tại Điều 32 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ bảo đảm hối phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng sẽ được chấp nhận và thanh toán, trừ trường hợp người ký chuỵển nhượng không cho chuyển nhượng tiếp hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi cụm từ
"không được chuyển nhượng", "cấm chuyển nhượng”, hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự thì không được chuyển nhượng Khi hối phiếu này bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán một phần hoặc toàn bộ, người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ thanh toán số tiền bị từ chối cùa hói phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng
Trang 32Ngư-íi ký chuyên nhượng có thể không cho chuyển nhượng tiếp hôi phiếu đòi nợ bằng cách ghi thêm cụm từ
"không được chuyển nhượng", "cấm chuyển nhượng", hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự trong nội dung ký chuyển
nhượna trên hối phiếu đòi nợ; trường hợp hối phiếu đòi nợ
được tkp tục chuyển nhượng thì người ký chuyển nhượng này khỗng ;ó nghĩa vụ thanh toán đối với người nhận chuyển nhượng sau đó
Điềi 34 Luật Các công cụ chuyển nhượng quy định người nhận cíuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng hình thức chuyển giao hoic ký chuyển nhượng để trống có các quyền sau đây:
- Đim vào chỗ trống tên của mình hoặc tên của người khác
- Ticp tục ký chuyển nhượng để trống hối phiếu đòi nợ bằng cố:h ký trên hối phiếu đòi nợ
- Tkp tục chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người khác bằng duyển giao
- K) chuyển nhượng đầy đủ hối phiếu đòi nợ
e- Ciuyển giao đẻ cẩm cô và chuyển giao đ ể nhờ thu hối phiếu còi nợ
- Chuyển giao đ ể cầm cỏ' hối phiếu đòi nợ
Đtềi 22 Pháp lệnh Thương phiếu quy định người thụ hưởng có quyền cầm cố thương phiếu theo quy định tại Mục này, cá: quy định khác của Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên qiun Điều 36 Luật Các công cụ chuyển nhượng đã kế thừa qiy định này Tuy nhiên, Điều 23 Pháp lệnh Thương
từ "chu/ển giao để cầm cố", tên, địa chỉ của người cầm cố, ký