1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật: Phần 1

102 176 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật: Phần 1 trình bày các vấn đề chung về lý luận nhà nước và pháp luật, đặc điểm cơ bản của nhà nước, nguồn gốc của nhà nước, các mối quan hệ cơ bản của nhà nước, bản chất của pháp luật, chức năng của pháp luật, hình thức pháp luật,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

TRƯỞNG ĐẠI HỌC LUẬT HA NỘI PGS.TS NGÚYẾN MINH ĐOAN

Trang 2

Mã sấ: 34(V)(075)

CTQG 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

P6S.TS NGUYỄN MINH MAN

Trang 5

Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về lý luận chung

về nhà nưốc và pháp quyển của các tầng lốp nhân dân, đặc biệt

là của học sinh, sinh viên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Giảo trình lý luận về nhà nước và p h áp luật

Cuốn sách do PGS TS Nguyễn Minh Đoan giảng viên trưòng Đại học Luật Hà Nội biên soạn

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn dọc

Tháng 12M.ăm 2010

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 7

LỜI TÁC GIẢ

Nhà nưốc và pháp luật là những hiện tượng vô cùng quan trọng, nhưng cũng vô cùng phức tạp và luôn biến đổi, do vậy, chúng cần được nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện không ngừng Nghiên cứu, nhận thức lý luận về Nhà nước và pháp luật để phục vụ cho các hoạt động thực tịễn

là rất cần thiết đối với mỗi người dân trong cuộc sống hôm nay khi mà đất nước ta bưốc vào thời kỳ đổi mới, mỏ cửa

và hội nhập kinh tế quốc tế với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu lý luận về nhà nưốc và pháp luật của các tầng lớp nhân dân, nhất là của đội ngũ cán bộ, công chức, học viên, sinh viên, cuốn sách giáo trình “Lý luận vể nhà nước và pháp luật” được PGS.TS Nguyễn Minh Đoan - ngưòi đã nhiều năm làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận nhà nước và pháp luật tại Trương Đại học Luật Hà Nội biên soạn

Đây là cuốn sách trình bày một cách hệ thống, toàn diện những nội dung cơ bản các tri thức xưa và nay về lý luận nhà nước và pháp luật Sách được trình bày ngắn

gọn, dễ hiểu, dễ nhớ là tài liệu bổ ích đối vối nhũng người

Trang 8

làm công tác giảng dạy pháp luật, những nhà hoạt động pháp luật thực tiễn, những học viên, sinh viên nghiên cứu, tìm hiểu nắm bắt các vấn đê ]ý luận về Nhà nước và pháp luật.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Trang 9

PHẦN I

CÁC VẤN ĐÊ CHUNG

Lý luận nhà nước và pháp luật là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, tổng hợp các tri thức về nhà nước và pháp luật đã được tích luỹ trong quá trình hoạt động lịch

sử của con người Đây là hệ thống những tri thức, quan điểm, khái niệm khoa học khách quan về Nhà nước và pháp luật Môn khoa học pháp lý này có chức năng:

a) Cung cấp tri thức, phương pháp để tiếp cận, xem xét, đánh giá các vấn đề cơ bản, quan trọng của Nhà nước

và pháp luật mà không đi sâu vào những vấn đề cụ thể, những chi tiết không phổ biến;

b) Hình thành thế giới quan khoa học pháp lý để đánh giá, giải quyết những vấn đề cụ thể; không chỉ liệt kê, giải thích các điểu luật, mà tạo ra khả năng tư duy trong việc nhận thức và thực hiện các quy định pháp luật thực định;c) Vận dụng những tri thức đã tiếp thu để phục vụ thực tiễn của bản thân và xã hội:# 9

Khi nghiên cứu lý luận vể Nhà nưóc và pháp luật cần lưu ý là nhận thức là một quá trình, nên những tri thức của chúng ta vể Nhà nước và pháp luật có thể sẽ thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, vì thế, không nên tuyệt đối

Trang 10

hoá những tri thức đã có về Nhà nước và pháp luật Những tri thức về Nhà nưốc và pháp luật mà hôm qua được coi là đúng thì hôm nay có thể không còn là đúng và những gì hôm nay là đúng nhưng ngày mai có thể sẽ không còn đúng.

- Trong khoa học lý luận nhà nưóc và pháp luật luôn

có tính đảng (nhân sinh quan) Nó phụ thuộc vào sự nhận thức, sự kiến giải chủ quan của người nhận thức, phụ thuộc lập trường xã hội của họ (cùng một hiện tượng của Nhà nưốc và pháp luật nhưng đứng trên lập trường, quan điểm khác nhau thì có sự xem xét, đánh giá khác nhau)

Lý luận nhà nước và pháp luật mà chúng ta đang nghiên cứu đứng trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xem xét, đánh giá các vấn

đề về Nhà nước và pháp luật Việc nghiên cứu Nhà nước

và pháp luật là nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân, cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong quá trình nghiên cứu, cần tiếp thu những yếu tố hợp lý của các quan điểm, học thuyết khác nhau về Nhà nước và pháp luật, đồng thòi, phẳi đấu tranh với những quan điểm phản khoa học, những luận điệu xuyên tạc các nguyên lý khoa học về Nhà nước và pháp luật để bảo vệ sự đúng đắn, tính khoa học của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về Nhà nước và pháp luật

- Giữa lý luận nhà nước và pháp luật với thực tiễn bao giờ cũng có khoảng cách (lý luận thì thuần khiết, còn thực tiễn thì phong phú, đa dạng) nên cần phải có

Trang 11

sự vận dụng lý luận vào thực tiễn Không tuyệt đối hoá các vấn đê của Nhà nưốc và pháp luật, bởi ngoài những cái chung, cái có tính quy luật thì luôn có những cái riêng, cái đặc thù nên lý luận không thể khái quát, bao quát hết được Chưa kể là việc vận dụng lý luận nhà nước và pháp luật vào thực tiễn có thể đúng và cũng có thể không đúng Và cho dù sử dụng phương pháp nghiên cứu gì để nghiên cứu thì kết quả nghiên cứu cũng phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn khách quan - thước đo

để đánh giá chân lý khách quan một cách chính xác và toàn diện nhất những hoạt động nghiên cứu của con người về Nhà nước và pháp luật

- Việc nghiên cứu các vấn để của Nhà nước và pháp luật có thể theo phương thức cắt ngang để tìm hiểu về một kiểu nhà nước, pháp luật nào đó như một chỉnh thể hoàn chỉnh, nhưng cũng có thể theo phương thức bổ dọc để có thể thấy được sự liên tục, xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển về bản chất, chức năng, bộ máy của Nhà nước và pháp luật Qua đó, cũng có thể dễ dàng so sánh, nhận thức được sự tương đồng và khác biệt giữa chúng qua các thời kỳ phát triển biện chứng

- Những năm gần đây, lý luận nhà nước và pháp luật

đã có những bưốc phát triển mạnh mẽ hơn vể chất, nhất là

từ khi Đảng, Nhà nưốc Việt Nam có chủ trương đổi mới tư duy, trong đó có tư duy pháp lý Đổi mới tư duy pháp lý không chỉ cần trí tuệ, trách nhiệm mà cả dũng khí và niềm tin sắt đá vào tương lai tươi sáng của đất nước, dân tộc Chúng ta đã đổi mới căn bản những quan niệm vể chủ nghĩa xã hội (như xây dựng nền kinh tế thị trường định

Trang 12

hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyển ) nhưng vẫn giữ được chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, so với nhu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới, của xã hội hiện tại thì lý luận nhà nước và pháp luật vẫn còn chưa theo kịp Còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa

xã hội đặt ra chưa giải quyết được, đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu, tìm tòi để làm sáng tỏ những vướng mắc

đó, góp phần thiết thực phụe vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nưốc ta

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của khoa học là phạm vi các vấn

đề mà nó nghiên cứu làm sáng tỏ, qua đó phân biệt nó với các khoa học khác, nói cách khác, nó nghiên cứu những vấn đề gì và mức độ nghiên cứu như thế nào

Nhà nưốc và pháp luật là hai hiện tượng phức tạp và quan trọng bậc nhất của xã hội có giai cấp Bỏi, chúng có liên quan đến: (a) mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; (b) lợi ích

và địa vị của các giai cấp, tầng lóp khác nhau trong xã hội; (c) tiến trình phát triển của cả xã hội Vì vậy, ngay

từ khi xuất hiện và trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Nhà nước và pháp luật đã trỏ thành khách thể nghiên cứu của rất nhiều môn khoa học khác nhau Mỗi môn khoa học nghiên cứu một số vấn đề của Nhà nước và pháp luật vối những mục đích, phạm vi, góc

độ và mức độ khác nhau

Trang 14

Lý luận nhà nưốc và pháp luật nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề chung, cơ bản, quan trọng nhất của Nhà nưốc và pháp luật Cụ thể là:

- Nghiên cứu bản chất, vai trò, chức năng, hình thức,

bộ máy của Nhà nước; bản chất, vai trò, hình thức của pháp luật, cơ chế điểu chỉnh pháp luật

- Nghiên cứu một cách toàn diện về tất cả các kiểu nhà nước và pháp luật (chủ nô, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa), nhưng tập trung nghiên cứu nhiều nhất và chủ yếu nhất về Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa Trong quá trình nghiên cứu, luôn có sự liên hệ chặt chẽ vối Nhà nưốc và pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề trên, để tìm ra những quy luật cơ bản của Nhà nưốc và pháp luật như: quy luật phát sinh, quy luật tồn tại, quy luật phát triển của Nhà nước và pháp luật Từ đó, đề ra kế hoạch hành động cho hiện tại và tương lai

- Ngoài ra, còn nghiên cứu làm rõ những mối liên hệ giữa Nhà nước với pháp luật; giữa Nhà nước và pháp luật vối các hiện tượng khác trong xã hội như với kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán

Tóm lại, lý luận nhà nước và pháp luật là hệ thống tri thức phản ánh khái quát các thiết chế, các mối quan hệ đã hình thành của Nhà nước và pháp luật; tìm ra những quy luật đặc thù, những đặc tính chung và những biểu hiện quan trọng nhất của Nhà nước và pháp luật, tạo thành cơ

sở lý luận cho sự hình thành, phát triển của hai hiện tượng nhà nước và pháp luật; mối quan hệ giữa Nhà nước

Trang 15

với pháp luật và giữa chúng với các hiện tượng xã hội khác trong hiện tại và tương lai.

1.2 Vị trí, vai trò của lý luận nhà nước và pháp ỉuật trong hệ thống khoa học pháp lý

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng quan trọng

và phức tạp nên chúng được rất nhiều môn khoa học pháp

lý (những khoa học tập trung chủ yếu nghiên cứu các vấn

để của Nhà nước và pháp luật) nghiên cứu ở những phạm

vi, góc độ, mức độ khác nhau, ở Việt Nam, hệ thống khoa học pháp lý bao gồm các nhóm cơ bản sau:

- Nhóm khoa học lý luận và lịch sử gồm: Lý luận nhà nước và pháp luật; Lịch sử nhà nước và pháp luật; Lịch sử

tư tưởng về Nhà nước và pháp luật

- Nhóm khoa học pháp lý chuyên ngành gồm: Khoa học luật Hiến pháp; Khoa học luật hành chính; Khoa học luật hình sự

- Nhóm khoa học luật quốc tế gồm: Công pháp quốc tế;

Tư pháp quốc tế

- Nhóm khoa học pháp lý ứng dụng và thực nghiệm gồm: Khoa hợc điều tra hình sự; Tội phạm học; Kỹ thuật xây dựng pháp luật

Lý luận nhà nước và pháp luật là một khoa học pháp

lý độc lập trong hệ thống khoa học pháp lý Nhưng nó có quan hệ mật thiết với các khoa học pháp lý khác và là khoa học pháp lý cơ sở đối với các khoa học pháp lý khác

Nếu lý luận nhà nước và pháp luật nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề chung, cơ bản nhất của Nhà nước và pháp luật dưới dạng những khái niệm, kết luận,

Trang 16

quan điểm, nguyên tắc, thì các khoa học pháp lý khác lại

đi sâu nghiên cứu từng góc độ, từng khía cạnh, từng vấn

để cụ thể của Nhà nước và pháp luật Như vậy, phạm vi các vấn đề mà lý luận nhà nước và pháp luật nghiên cứu rộng hơn, toàn diện hơn nhưng mức độ nghiên cứu thì nông hơn Còn phạm vi nghiên cứu của mỗi khoa học pháp

lý khác thì hẹp hơn, nhưng mức độ nghiên cứu thì đầy đủ

và sâu sắc hơn

Chính vì thế, những tri thức mà lý luận nhà nưốc và pháp luật tổng kết là cơ sở xuất phát điểm để các khoa học pháp lý khác sử dụng đi sâu tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mình Như vậy, có thể nói, lý luận nhà nưóc và pháp luật như là cái chung, các khoa học pháp lý khác như là cái riêng, cái cụ thể Nhờ có lý luận nhà nước và pháp luật mà các khoa học pháp lý bảo đảm được sự thống nhất vối nhau để tạo thành hệ thống khoa học pháp lý Về mối quan hệ này, dưới góc độ nhận thức, V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng, người nào tiếp cận những vấn đề riêng

mà trước đó chưa giải quyết những vấn để chùng thì trong mỗi bước đi sẽ không thể tránh khỏi những vấn đề chung

đó môt cách vô thức.*

Ngược lại, các khoa học pháp lý khác lại minh chứng, kiểm nghiệm, đánh giá tính khoa học, tính đúng đắn của các tri thức mà lý luận nhà nước và pháp luật đã xây dựng nên Đồng thời, trên cơ sd nghiên cứu một cách sâu sắc từng vấn đề cụ thể của Nhà nước và pháp luật, các khoa học pháp lý khác cung cấp tư liệu cho lý luận nhà nước và pháp luật, bổ sung thêm, góp phần hoàn thiện hệ thống tri thức vể Nhà nước và pháp luật

Trang 17

Tóm lại, lý luận nhà nước và pháp luật là khoa học nghiên cứu một cách khái quát, toàn diện về Nhà nước, pháp luật với tính cách là hai hiện tượng của đời sống xã hội, song không đi sâu vào một vấn để cụ thể nào của một Nhà nước hay pháp luật cụ thể nào Một sô' khoa học khác cũng nghiên cứu vể Nhà nưốc và pháp luật song lại đi sâu nghiên cứu từng góc độ, từng lĩnh vực của Nhà nước, pháp luật, thậm chí, của từng Nhà nước, pháp luật cụ thể Các khoa học nói trên đểu nằm trong hệ thông khoa học pháp

lý và chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật

1.3 Phương pháp nghiên cửu của ỉý luận nhà nước và pháp luật

Phương pháp nghiên cứu của một môn khoa học là những nguyên tắc, cách thức hoạt động mà môn khoa học

đó sử dụng để xem xét, tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mình nhằm đạt tới chân lý khách quan

1.3.1 P hư ơng p h á p lu ậ n : Khi tìm hiểu phương pháp nghiên cứu của khoa học trước hết phải tìm hiểu phương pháp luận của khoa học Đó là những nguyên tắc, quan điểm có tính chất đường lối, xuyên suốt và chỉ đạo quá trình nghiên cứu Phương pháp luận của lý luận nhà nước

và pháp luật là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử Với những cách tiếp cận cơ bản sau:

- Khách quan, trong nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật, nghĩa là, xem xét nhà nước và pháp luật đúng như chúng tồn tại trong thực tế, không thêm, bớt, không bịa

Trang 18

đặt, không xuất phát từ động cơ chính trị để chỉ khen hoặc chê một chiểu Cần tìm hiểu, đánh giá một cách khách quan cả những tư tưởng, quan điểm phi mácxít về Nhà nước và pháp luật Khắc phục những định kiến mang tính chủ quan phiến diện, những sai lệch khi đánh giá về vị trí, vai trò của các nhà nước và pháp luật không phải xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển lịch sử tự nhiên của nhân loại.

- Toàn diện, tiếp cận xem xét Nhà nước và pháp luật ỏ nhiều góc độ, phương diện khác nhau như bản chất, hình thức, chức năng, cơ chế, các mối liên hệ của Nhà nước và pháp luật

- Biện chứng:

+ Thừa nhận Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng không "nhất thành, bất biến" mà luôn vận động, biến đổi Vì vậy, phải xem xét Nhà nưóc và pháp luật trong quá trình vận động, biến đổi của chúng

+ Xem xét Nhà nước và pháp luật trong mối liên hệ ràng buộc và sự tác động qua lại với các hiện tượng khác của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, ý thức xã hội + Thừa nhận Nhà nước và pháp luật vận động, phát triển luôn gắn liền với mâu thuẫn và việc giải quyết các mâu thuẫn như mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội, mâu thuẫn giữa cái tiên tiến với cái lạc hậu, giữa cái

cũ với cái mới

+ Thừa nhận Nhà nước và pháp luật luôn vận động, phát triển theo những quy luật, quy trình nhất định

* Duy vật:

+ Thừa nhận Nhà nước và pháp luật chỉ là những hiện

Trang 19

tượng có tính lịch sử, chúng xuất hiện ở một giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong ở một giai đoạn nhất định Từ

đó, đặt Nhà nước và pháp luật vào từng giai đoạn lịch sử

cụ thể, gắn chúng với các điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội của giai đoạn đó để xem xét, đánh giá

+ Nhà nưốc và pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng nên phụ thuộc cơ sở hạ tầng, vì thế, khi giải thích các hiện tượng của Nhà nưốc và pháp luật phải luôn xuất phát từ

cơ sở kinh tê - xã hội Sự ra đời, tồn tại và phát triển của chúng xét đến cùng do kinh tế quyết định, song không được tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế đối với các vấn đề của Nhà nước và pháp luật

+ Quần chúng nhân dân giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội, trong đó có Nhà nước, pháp luật

1.3.2 Một s ố p h ư ơ n g p h á p n g h iên cứu cụ th ể:

- Phương pháp phân tích, nghĩa là phải chia cái toàn thể (Nhà nước và pháp luật) ra thành nhiều bộ phận để đi sâu nhận thức từng bộ phận đó một cách sâu sắc, đầy đủ hơn Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng rất phức tạp và luôn đi liền với những vấn để phức tạp như quyền lực chính trị, lợi ích trong những mối quan hệ chằng chịt theo nhiều chiều nên cần được phân tích, mổ xẻ ỏ những góc độ, khía cạnh khác nhau Thông qua phương pháp phân tích làm cho lý luận luôn đổi mới, không bị sáo mòn,

sơ cứng, mỗi lần phân tích lại có thể khám phá ra những cái mối, những nét mối trong các vấn để liên quan đến Nhà nưốc và pháp luật

Trang 20

- Phương pháp tổng hợp, ngược lại với phương pháp phân tích, nghĩa là phải liên kết, thống nhất các bộ phận của Nhà nước hoặc pháp luật đã được phân tích nhằm có được cách nhìn nhận, cách đánh giá tổng quát về vấn đề cần nghiên cứu.

- Phương pháp trừu tượng hoá, nghĩa là trên cơ sở những cái riêng, cái có tính chất hiện tượng, ngẫu nhiên,

bề ngoài của Nhà nưỏc hoặc pháp luật từ đó rút ra những kết luận mang tính chất cái chung, cái bản chất, cái tất yếu vể đối tượng nghiên cứu

Bằng phương pháp trừu tượng hóa ta có thể vượt qua những hiện tượng có tính hình thức bể ngoài, ngẫu nhiên, thoáng qua, bất ổn định, để đi đến được cái chung mang tính tất yếu, tìm ra được bản chất của vấn đề, hiện tượng,

sự vật, xác định được sự ổn định, xu hưóng vận động, phát triển (mang tính quy luật) của hiện tượng

- Phương pháp so sánh, có tác dụng tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các vấn đề của Nhà nước hoặc pháp luật cần nghiên cứu, từ đó lý giải nguyên nhân sự giông và khác nhau giữa chúng Khi tiến hành so sánh phải:+ Xuất phát từ bản chất của hiện tượng, sự vật, vấn để cần phải so sánh;

+ Xuất phát từ điểu kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, lịch sử cụ thể mà những điểu kiện đó tạo ra môi trường tồn tại cho sự vật, hiện tượng, vấn đề đang cần 80 sánh;+ Các yếu tố truyển thống khác có ảnh hưỏng tói cách tiếp cận và giải quyết vấn đề

Có thể so sánh theo chiều dọc mang tính lịch sử (các hiện tượng pháp lý đều có quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình và đồng thời không tránh khỏi giác

Trang 21

quan chính trị khi xem xét đánh giá chúng) Vì thế, khi nghiên cứu những vấn để vể Nhà nưốc và pháp luật cần chú ý đến tính lịch sử và tính chính trị của nó, nhất là những vấn đề liên quan đến các kiểu nhà nước và pháp luật khác nhau Cũng có thể so sánh theo chiểu ngang như giữa các nhà nưốc, các hệ thống pháp luật Trong quá trình so sánh, phải luôn chú ý tới tính hệ thống, tính lô gích

và sự thống nhất của các vấn để, chỉ ra những cái chung, cái riêng, sự tương đồng và dị biệt giữa các hiện tượng, những sự liên quan, nối kết giữa các vấn đề

- Phương pháp xã hội học, Nhà nước là một hình thức

tổ chức của xã hội, sinh ra từ xã hội, tồn tại, phát triển ngay trong lòng xã hội, nó luôn gắn bó vói xã hội Do vậy, phải nghiên cứu các vấn đề xã hội Có như vậy mói hiểu đầy đủ hơn về Nhà nước, vê quản lý nhà nước đối với xã hội được tốt hơn Nhà nước muốn đưa ra một chính sách nào đố thì phải tìm hiểu xem xã hội tiếp nhận nó như thê nào và hiệu quả thực tê của nó trong đời sống xã hội

Pháp luật là sự mô hình hoấ các quy luật, nhu cầu khách quan của xã hội thành những quy tắc xử sự mang tính phổ biến, thành công lý Cũng như Nhà nước, pháp luật sinh ra từ nhu cầu khách quan của xã hội, là công cụ diều chỉnh quan hệ xố hội, một giá trị của xã hội văn minh Do vậy, muốn nghiên cứu tìm hiểu nhu cầù điều chỉnh, tác dụng, hiệu quả của pháp luật buộc phải tìm hiểu trong đời sống xâ hội (môi trường tác động của pháp luật)

Phương pháp xã hội học được thực hiện thông qua các hoạt động như theo dõi, phỏng vấn, thăm dò dư luận xã hội vối các bước: thu thập thông tin từ những sự kiện,

Trang 22

đối tượng riêng rẽ để nắm được những thông tin, tư liệu thực tiễn; nghiên cứu những quan niệm, quan điểm vê' các vấn để khác nhau của Nhà nước, pháp luật; xử lý những thông tin, tài liệu đã thu được, từ đó kiểm nghiệm lại những luận điểm, quan điểm, khái niệm, kết luận của lý luận nhà nước và pháp luật.

- Phương pháp hệ thống, do tính chất phức tạp và sự liên kết thành các hệ thống của Nhà nước, pháp luật với các hiện tượng khác (hệ thông chính trị, bộ máy nhà nưóc,

hệ thống pháp luật, hệ thống các công cụ điều chỉnh quan

hệ xã hội ) Khi nghiên cứu các vấn để về Nhà nưốc và pháp luật phải đặt chúng trong hệ thống, trong sự liên hệ, thống nhất và tính thứ bậc với các hiện tượng, sự vật khác hoặc cùng loại để nhận thức, đánh giá, không phá vỡ tính

Trang 23

C hương 2

KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NGUổN Gốc

CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

2.1 Khái niệm Nhà nước «

Nhà nước là một hiện tượng phức tạp nên có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước, và do vậy cũng có nhiều cách xác định nhà nước từ những phương diện khác nhau Tồn tại một sô' quan niệm cơ bản sau về Nhà nước như: Nhà nước là Chúa trời; Vua chính là Nhà nước (Nhà nước là Trẫm); Nhà nước là toà tháp (trên đỉnh tháp là Vua, tiếp đến là các quan đại thần dưới chân tháp là dân); Nhà nước là gia đình mở rộng (cả xã hội là một gia đình và Vua là “Cha” của cả xã hội); Nhà nước là trọng tài công minh đứng trên xã hội để bảo vệ lợi ích của tất cả mọi người trong xã hội; Nhà nước là một thể nhân, một cơ thể nhân tạo; Nhà nước là đội quân vũ trang được tách ra khỏi xã hội để làm nghề cai trị (quản lý); Nhà nước là bộ máy cưỡng chế của giai cấp này đối với giai cấp khác; Nhà nước là tổ chức (bộ máy)

có trách nhiệm duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác; Nhà nước là cơ quan quyển lực chính trị; Nhà nước là sản phẩm của sự phát triển xã hội, “là

Trang 24

sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được"; V V .

Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, nhà nước là một hình thức tổ chức của con người khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định Khi xã hội chưa phát triển, nó được tổ chức dưới những hình thức như thị tộc, bộ lạc Khi xã hội đã phát triển cao, đặc biệt là khi trong xã hội

có sự phân hoá thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau,

nó buộc phải được tổ chức thành Nhà nước để có được sự

ổn định và phát triển, đồng thòi cũng "làm dịu đi cuộc xung đột giai cấp" giữ cho xã hội "trong vòng trật tự"

Như vậy, Nhà nước là một tổ chức của xã hội, để quản

lý xã hội, duy trì trật tự xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải thiết lập quyển lực công cộng đặc biệt Quyền lực công cộng ấy đã tách khỏi dân cư và do một bộ máy chuyên môn nắm giữ và thực hiện

Nhà nước một mặt là tổ chức quyển lực công cộng đặc biệt của toàn xã hội (quốc gia), thay mặt cho xã hội quản

lý các mặt khác nhau của cuộc sống, bảo đảm sự ổn định, trật tự xã hội, quyền lợi của cả cộng đồng xã hội, nhưng mặt khác, nó còn là tổ chức quyền lực của giai cấp thống tri, ở môt mức đô nhất đinh, nó bảo vê ldi ích và thưc hiên• ' • m m 1 ề 9 ♦ »

mục đích của giai cấp cầm quyển

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa Nhà nước như sau: Nhà nước là tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt, có đủ bộ máy chuyên đ ể cưỡng c h ế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội, phục vụ lợi ích và thực hiện mục đích vừa của giai cấp thống trị vừa của cả xã hội.

Trang 25

Nhà nước, sản phẩm của sự phát triển xã hội, một hình thức tổ chức của con người trong xã hội có giai cấp

So với các tổ chức xã hội khác, Nhà nước có các đặc điểmm ' «

cơ bản sau:

- Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt

không còn hòa nhập với dân cư nữa Quyển lực nhà nưốc bao trùm toàn bộ lãnh thổ của đất nưốc và có tính tối cao

so với quyển lực của các tổ chức khác Quyền lực nhà nước chi phối quyển lực của các tổ chức khác trong xã hội Nói cách khác, quyển lực của các tổ chức khác chỉ tác động trong phạm vi nội bộ của tổ chức mình và phải chịu sự chi phối của quyền lực nhà nước

Để thực hiện quyền lực của mình, Nhà nước có một lớp người đặc biệt được tổ chức thành các cơ quan nhà nước chuyên làm nhiệm vụ quản lý và thực hiện sự cưỡng chế đối với toàn xã hội Vì vậy, trong bộ máy nhà nước có các

cơ quan chuyên làm nhiệm vụ cưõng chế như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù mà trong bộ máy của các tổ chức khác không có

- Nhà nước tập hợp và quản lý dân cư theo lãnh thổ

không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của quyển lực nhà nưóc trên quy mô rộng lớn nhất, còn các tổ chức khác thì tập hợp và quản lý con người theo các dấu hiệu như giới tính, độ tuổi, chính kiến, nghể nghiệp

* N hà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia. Chủ quyển quốc gia mang nội dung chính trị pháp

2.2 Những đặc điểm cơ bản của Nhà nước

Trang 26

lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của một quốc gia trong việc đưa ra và thực hiện những chính sách đối nội

và đôi ngoại không phụ thuộc vào các yếu tô' bên ngoài Nhà nưốc là tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã* ♦

hội, thay mặt quốc gia nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia

- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản

lý bắt buộc đối với toàn xã hội Với tư cách là tổ chức đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước có quyền ban hành pháp luật - một công cụ quản lý xã hội sắc bén và có hiệu quả nhất Pháp luật do Nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng

và thực hiện pháp luật

Các tổ chức xã hội khác để quản lý, điều hành công việc của tổ chức mình thường ban hành điều lệ, nội quy, nghị quyết Những quy định đó không phải là pháp luật, phải phù hợp, tuân thủ theo pháp luật, không mang tính quyển lực nhà nước

- Nhà nước quy định và thu các loại thuế, ngoài ra còn phát hành tiền dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng

và thời hạn ấn định trước Nhà nước quy định và thu các loại thuế nhằm nuôi bộ máy của Nhà nưốc Ngoài ra, Nhà nước còn phải dùng nguồn tài chính của mình để xây dựng các công trình và tiến hành các hoạt động chung vì lợi ích chung của toàn xã hội

Những đặc trưng trên nói lên sự khác nhau giữa Nhà nưóc với các tổ chức chính trị - xã hội khác, đồng thòi, cũng phản ánh vị trí và vai trò của Nhà nước trong xã hội

Trang 27

2.3.1 C ác qu an điểm k h á c n hau về nguồn g ốc củ a

- Thuyết thần học cho rằng, Nhà nưóc là do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy, Nhà nước là lực lượng siêu nhiên, vĩnh cửu và sự phục tùng quyển lực nhà nước là cần thiết và tất yếu

- Thuyết gia trưởng cho rằng, Nhà nước là kết quả phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của

2.3 Nguồn gốc của Nhà nước

Trang 28

cuộc sống con người Nhà nước có trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về bản chất củng giông như quyền gia trưởng - người đứng đầu gia đình.

- Thuyết k h ế ước xã hội cho rằng, Nhà nước là sản phẩm của một khế ưóc (hợp đồng) được ký kết trước hết giữa những con ngưòi sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhà nước, nói cách khác, Nhà nước do nhân dân thành lập Vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ

- Thuyết bạo lực cho rằng, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng "nghĩ ra” một hệ thống cơ quan đặc biệt (nhà nưốc) để nô dịch kẻ chiến bại

- Thuyết tâm lý cho rằng, Nhà nước xuất hiện do nhu cầu vể tâm lý của con ngưòi nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ Vì vậy, Nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội

- Học thuyết Mác - Lênin cho rằng, Nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến, Nhà nưóc chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, khi trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và những mâu thuẫn giai cấp không thể điểu hoà được Nhà nước luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điểu kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của nó không còn nữa “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không th ể điều hoà được Bất cứ ở đâu, h ễ lúc nào và chừng nào mà, về

Trang 29

mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không th ể điều hoà được, thì Nhà nước xuất hiện ”1.

2.3.2 N guồn g ố c củ a N h à nước th eo q u a n đ iểm chủ n g h ĩa M ác - L ên ỉn :

Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, trước khi Nhà nước xuất hiện, người cổ đại sống thành từng bầy rồi sau liên kết thành tổ chức thị tộc, ở trình độ cao hơn là tổ chức bào tộc, bộ lạc.• 7 # 4

Thị tộc là một cộng đồng (gồm những người cùng huyết thống, cùng làm ăn sinh sống ở một nơi), một gia đình (duy trì chế độ quần hôn), một đơn vị kinh tế (duy trì chế độ sở hữu chung, lao động chung và phân phối bình quân)

Về mặt xã hội, trong thị tộc không có kẻ giàu, người nghèo, lợi ích của các thành viên thị tộc là thống nhất; quan hệ giữa người với ngưòi là hoàn toàn ngang nhau và

tự do

Quyền lực công cộng của thị tộc (quyển lực thị tộc) là quyển lực xã hội, thuộc vể toàn thể cộng đồng thị tộc, bảo

vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Để thực thi quyển lực,

không có bộ máy chuyên môn mà dựa trên sức mạnh của Hội đồng thị tộc - cơ quan quyển lực cao nhất của thị tộc (bao gồm tất cả các thành viên đã lớn tuổi, có quyền quyết định mọi vấn để quan trọng của thị tộc) kết hợp với uy tín

của ngưồi đứng đầu thị tộc (tù trưởng, tộc trưởng, thủ lĩnh

quân sự - những ngưòi không hể có đặc quyền, đặc lợi

1 V I Lênin: Toán tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t.33, tr.9 (tiếng Việt).

Trang 30

cùng chung sống, lao động và hưởng thụ như mọi thành viên khác) do hội đồng thị tộc bầu, bãi miễn.

Khi xuất hiện bào tộc, bộ lạc, quyển lực trong xã hội có

xu hướng tập trung hơn Mặc dù phần lớn công việc trong bào tộc, bộ lạc vẫn do hội nghị tất cả các thành viên quyết định, song trong nhiều trường hợp nó chỉ do hội đồng bào tộc, hội đồng bộ lạc (chỉ bao gồm các tộc trưởng, thủ lĩnh quân sự, các thị tộc thành viên) quyết định

Những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện Nhà nước:

Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy Nền kinh tê tự nhiên săn bắn, thu lượm dần chuyển sang nền kinh tế sản xuất, con người đã biết đến việc chăn nuôi, trồng trọt, dần dần họ lại biết đến làm thủ công dẫn đến các cuộc phân công lao động xã hội trên quy mô lớn, một bộ phận dân cư đông đảo chuyên làm một nghề nhất định Khi sản xuất được chuyên môn hoá, nó càng có điểu kiện phát triển mạnh mẽ hơn sản phẩm làm

ra ngày một nhiều hơn không những đủ cho tiêu dùng mà dần dần còn dư thừa

Sự phát triển của sản xuất đã làm cho các hoạt động kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi Trong xã hội xuất hiện gia đình nhóm, rồi gia đình một vợ, một chồng, chế độ mẫu hệ bị thay thê bằng chê độ phụ hệ Cùng với quá trình đó, các đơn vị sản xuất cũng dần dần được chia nhỏ theo sự phát triển của các hình thái gia đình (do công cụ lao động phù hợp hơn người ta thấy có thể không cần phải tiến hành sản xuất chung theo cả thị tộc, trừ trường hợp đặc biệt, mà có thể tiến hành theo từng gia đình)

Trang 31

Súc vật, ruộng đất được đem chia, trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và cùng với nó là sự phân hoá giàu nghèo Tộc trưởng được giao quản ]ý sô' tài sản dư thừa

đó đã lợi dụng uy tín địa vị của mình trong thị tộc để chiếm đoạt làm của riêng

Do sự phát triển của quan hệ hôn nhân, quan hệ láng giềng, của nhu cầu sản xuất và các nhu cầu khác đã liên kết những cộng đồng nhỏ lại tạo thành những cộng đồng

có quy mô ngày càng lớn như bào tộc, bộ lạc, liên minh các

bộ lạc dân cư trong xã hội ngày càng đông, quan hệ huyết thống mò nhạt dần, xã hội ngày càng trở nên phức tạp, nó đòi hỏi phải được tổ chức và quản lý ỏ một trình độ cao hơn Đứng trưốc sự biến đổi đó, hội nghị tất cả các thành viên trong cộng đồng trở nên không thể thực hiện hoặc không cần thiết Cơ quan quyển lực cao nhất trong thị tộc, bộ lạc dần dần không bao gồm tất cả các thành viên trong cộng đồng như trước kia, mà chỉ gồm những người đại diện giàu có Các công việc chung trong cộng đồng dần dần do người giàu có quyết định Như vậy, hệ thống quản lý trong xã hội đã thay đổi, một tổ chức quản

lý mối đang từng bước ra đòi thay thế cho tổ chức thị tộc,

bộ lạc không còn phù hợp nữa

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, sự phân hoá trong

xã hội ngày càng cao, mâu thuẫn giữa ngưòi giàu và người nghèo ngày càng gay gắt Tư liệu sản xuất trong xã hội vì vậy càng tập trung vào các gia đình giàu có Các gia đình nghèo ngày càng lâm vào cảnh bần cùng hoá, họ dần phụ thuộc vào người giàu, bị những người giàu thống trị về kinh tế

Trang 32

Những người giàu do có lợi ích trước hết là lợi ích kinh

tế thống nhất với nhau đã liên kết với nhau thành giai cấp những ngưòi thống trị về kirih tế trong xã hội Những người mất hết tư liệu sản xuất hoặc không có tư liệu sản xuất dần trở thành giai cấp những người lệ thuộc vể kinh

tế Như vậy, công xã thị tộc trước kia vốn là một khối dân

cư thuần nhất thì giờ đây đã phân chia thành các giai cấp, các tập đoàn có địa vị khác nhau (trong một phương thức sản xuất mới), một tập đoàn thì nắm giữ hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội và bóc lột, chiếm đoạt lao động của tập đoàn không có tư liệu sản xuất Giai cấp giàu có càng tìm cách bóc lột càng đẩy giai cấp nghèo khổ vào địa vị thấp kém hơn Mâu thuẫn giai cấp nảy sinh, xung đột giữa các giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn đủ khả năng tổ chức và quản lý xã hội được nữa, đòi hỏi phải có một tổ chức mối xuất hiện đó là Nhà nước để đáp ứng những nhu cầu của cả xã hội và của giai cấp thống trị về kinh tế

Từ những phân tích trên cho thấy, Nhà nước ra đòi do nhiều nhu cầu nhưng trong đó có hai nhu cầu cơ bản là: nhu cầu xã hội (để tổ chức và quản lý một xã hội đã phát triển một trình độ cao hơn, văn minh hơn) nhu cầu giai cấp (để bảo vệ lợi ích của giai cấp, lực lượng thống trị về kinh tế khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp, các lực lượng có lợi ích đối lập nhau) Trong bối cảnh đó, giai cấp, lực lượng thống trị về kinh tế đã biết lợi dụng, biết nắm lấy tổ chức của cả xã hội (bộ máy quản lý chung) thành bộ máy có lợi cho giai cấp, lực lượng mình và tổ chức ấy có tên là Nhà nước

Trang 33

Như vậy, Nhà nưốc không phải là một lực lượng từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là “một lực lượng nảy sinh

từ xã hội”, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”

2.3.3 Các hìn h thức xuất hiện N hà nước điển hỉnh:

Các khu vực khác nhau trên thế giối, do điểu kiện địa

lý, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội rất khác nhau, do vậy, sự xuất hiện Nhà nước ở các khu vực đó cũng không hoàn toàn giống nhau Lịch sử đã biết được các hình thức xuất hiện nhà nước điển hình là:

- Sự xuất hiện của Nhà nước Aten, thuần tuý từ nhu cầu phát triển nội tại của xã hội khi đó (nhu cầu giai cấp

và nhu cầu xã hội) mà không có các tác nhân nào khác

- Sự xuất hiện Nhà nưốc Rôma, ngoài những nhu cầu nội tại (nhu cầu giai cấp và nhu cầu xã hội) còn có thêm sự tác động của cuộc đấu tranh của giới bình dân không thuộc thị tộc La Mã chống lại giới quý tộc La Mã

+ Sự xuất hiện Nhà nước của người Giécmanh, ngoài những nhu cầu nội tại (nhu cầu giai cấp và nhu cầu xã hội) còn có thêm sự tác động của cuộc chiến tranh của các thị tộc Giécmanh đối với đế chế La Mã

+ Sự xuất hiện Nhà nước ở cấc nước phương đông cổ đại với những nguyên nhân nội tại (nhu cầu giai cấp và nhu cầu xã hội) chưa chín muồi nhưng có sự thúc đẩy của nhu cầu chống giặc ngoại xâm và nhu cầu làm thuỷ lợi để phát triển sản xuất, mở rộng khu vực sinh sống

Trang 34

2.4 Khái niệm pháp luật

Cũng như Nhà nước tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về pháp luật như: Pháp luật là ý muốn của Thượng đế; Pháp luật là phương tiện để quản lý xã hội (pháp luật gắn liền vối xã hội, ở đâu có xã hội thì ỏ đó có pháp luật); Pháp luật là những tiêu chuẩn căn bản mà mọi người phải tuân theo để quản lý xã hội và trừ khử những điểu gian

tà, bất chính trong xã hội; Pháp luật là công lý đại diện cho sự công bằng xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả mọi ngưòi trong xã hội; Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được

đề lên thành luật;

Các quan điểm hiện đại đểu cho rằng, pháp luật là công cụ quản lý xã hội ra đời khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trỏ nên phức tạp, đặc biệt

là khi trong xã hội có sự phân hoá thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau, các công cụ quản lý xã hội khác như tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp thông trị Trong những điểu kiện như vậy, Nhà nước đã ban hành ra pháp luật (thừa nhận những quy định đã có trong xã hội là pháp luật và bảo đảm cho chúng được thực hiện, Nhà nước còn tiến hành đặt ra những quy định pháp luật mới) để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyển.Theo nghĩa hẹp, pháp luật gồm các quy định mà phần lớn là các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành để điểu chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích của cả xã hội và vì lợi ích của giai cấp thống trị

Trang 35

Theo nghĩa rộng, pháp luật không chỉ gồm các quy tắc

xử sự chung mà còn bao hàm cả các nguyên tắc xử sự, các

tư tưởng, học thuyết pháp lý được thể hiện ở các loại nguồn pháp luật khác nhau

Thông thường, pháp luật được hiểu khái quát như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, th ể hiện ý chí của Nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì

sự tồn tại và phát triển của cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị.

2.5 Những đặc điểm cơ bản của pháp luật

Là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện:

Pháp luật do Nhà nưốc ban hành thông qua rất nhiềunhững trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các

tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điểu chỉnh các quan hệ xã hội.Pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thòi hạn,

tù chung thân Vối sự bảo đảm của Nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội

- Pháp luật có tính quy phạm p h ổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung:

Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện

Trang 36

trong những hình thức xác định, có kết cấu lôgích rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hoá từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội Điểu này đã làm cho các quy định pháp luật có tính khái quát hoá cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khí gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

Pháp luật mang tính bắt buộc chung, các quy định pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan Xuất phát từ vị trí, vai trò của Nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật là bắt buộc chung đối với toàn xã hội, bất cứ tổ chức, cá nhân nào khi đã ở vào hoàn cảnh, điểu kiện mà pháp luật đã dự liệu cũng đểu phải xử sự thống nhất theo quy định của pháp luật

Pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng đều được pháp luật điểu chỉnh Pháp luật là sự mô hình hoá những nhu cầu xã hội, những quy luật phát triển xã hội dưới dạng các quy tắc xử sự chung, không chỉ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Nhà nước, pháp luật còn phản ánh những nhu cầu, đòi hỏi khách quan của xã hội dưối hình thức pháp lý

- Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức:

Pháp luật luôn được thể hiện dưới những hình thức nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp,

Trang 37

tiền ]ệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điểu kiện để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng thòi, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật.

Ngoài các đặc điểm cơ bản nói trên, pháp luật còn có những điểm khác nữa như tính ổn định, tính hệ thống

2.6 Nguồn gốc và con đường hình thành pháp luật theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin

2.6.1 Nguồn gốc của pháp luật:

Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cũng như Nhà nưốc, pháp luật là sản phẩm của sự phát triển

xã hội Pháp luật không phải là ý chí của thượng đế hay của một lực lượng siêu nhiên nào ngoài trái đất gán ghép vào xã hội Pháp luật nảy sinh trong đời sống xã hội, là kết quả của sự biến đổi xã hội từ xã hội không có giai cấp sang xã hội có giai cấp:

- Trong xã hội nguyên thuỷ chưa có Nhà nước thì cũng chưa có pháp luật Để quản lý, điểu chỉnh các quan hệ xã hội khi đó người ta dựa vào tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo, là những công cụ điểu chỉnh thể hiện ý chí và bảo

vệ lợi ích chung của các thành viên trong xã hội nên được mọi người thừa nhận và tự giác tuân theo

- Nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật, nghĩa là, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (xem phần nguyên nhân xuất hiện nhà nước) thì những công cụ quản lý như

Trang 38

đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, không còn khả năng hoặc không thể duy trì quản lý xã hội được nữa, vì ý chí các thành viên trong xã hội không còn thống nhất; lợi ích các giai cấp trong xã hội đã có sự khác biệt căn bản, thậm chí đối lập vối nhau Trong điều kiện đó, để có thể giữ cho

xã hội trong vòng “trật tự”, đồng thòi bảo vệ được lợi ích của giai cấp mình, giai cấp, lực lượng thống trị đã thông qua Nhà nưóc hình thành ra một công cụ điều chỉnh mới

là pháp luật

Như vậy, pháp luật ra đời do nhu cầu xã hội để quản

lý một xã hội đã phát triển ở một giai đoạn nhất định, giai đoạn xã hội đã phát triển quá phức tạp, đã xuất hiện những giai cấp có lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu chính trị - giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thổng trị về kinh tế và chính trị trong xã hội

Theo quan điểm Mác - Lênin thì, pháp luật ra đời và tồn tại gắn liền với xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của

sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan (sinh ra

do nhu cầu đòi hỏi của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định) vừa mang tính chủ qụan (phụ thuộc ý chí nhà nước của giai cấp, lực lượng thống trị)

Cần chú ý là khi Nhà nưốc ra đồi thì các hình thức tổ chức của con người trưốc đó (thị tộc, bộ lạc) không còn tồn tại, nhưng khi pháp luật ra đòi, các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác vẫn song song cùng tồn tại vối nó

2.6.2 Các con đường hình thành pháp luật:

Quan điểm Mác - Lênin cho rằng, pháp luật được hình thành chủ yếu bằng hai con đường cơ bản sau:

Trang 39

Thứ nhất, Nhà nưốc tuyên bố (thừa nhận) một sô' các quy tắc đã có sẵn trong xã hội như tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo thành pháp luật và dùng quyển lực nhà nước bảo đảm cho chúng được tôn trọng, được thực hiện.

Thứ hai, Nhà nưốc đặt ra những quy tắc xử sự mới Những quy tắc này thường do các cơ quan nhà nước có thẩm quyển đặt ra thông qua những trình tự, thủ tục, hình thức nhất định

Trang 40

Chương 3

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, BỘ MÁY, KIỂU, HÌNH THỨC VÀ CÁC M ối QUAN HỆ

CỦA NHÀ NƯỚC

3.1 Bản chất của Nhà nước

Nói tới bản chất của Nhà nước là nói tối tổng hợp những mặt, những mối liên hệ, những thuộc tính có tính tất nhiên, tương đối ổn định bên trong của Nhà nước, quy định sự tồn tại, phát triển của Nhà nước

Nhà nưốc là một tổ chức đặc biệt của quyển lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưõng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện mục đích bảo vệ địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội và duy trì trật tự xã hội, vì sự tồn tại và phát triển của

cả xã hội

Việc xác định, đánh giá bản chất của Nhà nước phải xuất phát từ việc xem xét đánh giá cơ sở kinh tế và cơ sở

xã hội của Nhà nước Cơ sở kinh tế và xã hội của Nhà nước

ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau thì khác nhau nên nội dung bản chất của Nhà nước cũng biến đổi theo những thay đổi trong cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp của xã hội

Ngày đăng: 02/02/2020, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w