Mời các bạn cùng tham khảo tiếp nội dung cuốn sách Triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam - Nhìn từ góc độ pháp lý” của hai tác giả Luật sư Trịnh Văn Quyết và Đào Mạnh Kháng qua phần 2 sau đây. Cuốn sách không chỉ trình bày những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, mà còn đi sâu phân tích đầy đủ các vấn đề pháp lý liên quan đến việc vận hành và hoạt động của thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Trang 1chứng khoán, tạo lập cơ sở vững chắc cho sự vận hành và phát triển của thị trường chứng khoán.
Trong hoạt động chứng khoán, nếu việc phát hành chứng khoán là khâu đầu tiên và có vai trò quan trọng (vì
nó tạo ra hàng hóa cho thị trưòng chứng khoán) thì nhà đầu tư cũng đóng vai trò rất quan trọng vì nó là mặt thứ hai của một vấh đề cung và cầu.
Hoạt động của thị trường chứng khoán có sôi động, linh hoạt hay không phụ thuộc phần lớn vào sự tham gia của các nhà đầu tư Nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán rất đa dạng gồm doanh nghiệp, công ty tài chính, ngân hàng, công ty bảo hiểm và các cá nhân Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ nhà đầu tư nào cũng chú ý đến vấn đề lợi nhuận thu được và các rủi ro có thể xảy ra Vì vậy, trưốc khi quyết định đầu tư họ thường lựa chọn các công ty phát hành có uy tín, làm ăn có lãi, tình hình tài chính lành mạnh
Pháp luật Việt Nam quy định cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua hoặc bán chứng khoán phải mở tài khoản tiền gửi (đối với ngưòi có nhu cầu mua) hoặc tài khoản lưu ký chứng khoán (vối ngưòi có nhu cầu bán) tại một công ty
Trang 2chứng khoán Khi muôn tham gia giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư tối công ty chứng khoán viết lệnh yêu cầu, công
ty chứng khoán sẽ nhập lệnh này vào hệ thống chuyển lệnh cho đại diện chò khớp lệnh Khi trung tâm giao dịch chứng khoán tiến hành khóp lệnh, các lệnh mua bán chứng khoán được khớp sẽ được công ty chứng khoán thông báo cho nhà đầu tư và thực hiện thanh toán ngay trên tài khoản đã mỏ tại công ty chứng khoán Như vậy, các nhà đầu tư không được phép trực tiếp thương lượng, thỏa thuận giao dịch vói nhau mà cần phải giao tiếp thông qua các công ty chứng khoán.
ở Việt Nam, pháp luật quy định các cá nhân được miễn thuế thu nhập từ các nguồn thu cổ tức, lãi trái phiếu và chênh lệch mua bán chứng khoán Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định các hành vi bị cấm nhằm ngán ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trưòng chứng khoán.
Như vậy, các quy định của pháp luật đã tác động tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, tạo lập một thị trường chứng khoán công bằng minh bạch, an toàn, ổn định và từng bưóc phát triển.
Trang 3Nghị định sô" 48/1998/NĐ-CP và Quyết định số 05/1999/QĐ-UBCK3 ngày 27-3-1999 của Chủ tịch uỷ ban chứng khoán nhà nước ban hành quy chế lưu ký, thanh toán và đăng ký thanh toán đã trực tiếp tác động đến sự hình thành của các trung gian hỗ trờ cho hoạt động trên thị trưòng chứng khoán Các chủ thể này bao gồm: ngân hàng chỉ định thanh toán và thành viên lưu ký phục vụ cho các giao dịch chứng khoán.
Các ngân hàng thương mại có uy tín được ưỷ ban chứng khoán nhà nưóc chỉ định trên sự thỏa thuận với ngân hàng nhà nưóc và ngân hàng thương mại trong việc
mỏ tài khoản thanh toán cho Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký, phục vụ cho việc thanh toán các giao dịch chứng khoán Pháp luật quy định các thành viên lưu ký và Trung tâm giao dịch chứng khoán phải mỏ tài khoản tại ngân hàng chỉ định Khi giao dịch chứng
Trang 4khoán giữa ngưòi mua và người bán vào một thời điểm xác định, ngân hàng chỉ định thanh toán có nghĩa vụ trích sô' tiền phải thanh toán từ tài khoản thanh toán bù trừ của thành viên lưu ký để chuyển vào tài khoản của Trung tâm giao dịch chứng khoán mở tại ngân hàng Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán nhà nưóc đã ban hành Quyết địn.h số 39/QĐ- UBCK3 ngày 26-11-1999 chọn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm ngân hàng chỉ định, thực hiện chức năng mở tài khoản thanh toán bù trừ cho Trung tâm giao dịch chứng khoán.
“Thành viên lưu ký là công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng thương mại được u ỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký đ ể tham gia dịch vụ lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán tại Trung tàm
Điều 2 Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đáng ký chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định sô' 05/19W q Đ-UBCK 3 ngày 27-3-1999).
Các thành viên lưu ký có chức năng lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền đối vối chứng khoán Như vậy, quy định của pháp
Trang 5luật có vai trò rất quan trọng bảo đảm cho sự an toàn của các loại chứng khoán, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, tránh
sự biến động bất thường trên thị trường chứng khoán Do vai trò quan trọhg của việc lưu ký chứng khoán, pháp luật quy định chủ thể lưu ký được uỷ quyền cho ngân hàng chỉ định, Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện việc thanh toán tiền, tiến hành nghiệp vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán và chịu trách nhiệm về các hoạt động đó.
Các công ty chứng khoán nếu được Uỷ ban chứng khoán nhà nưốc cấp giấy phép hoạt động kinh doanh một trong bốh loại hình: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành
và tư vấn đầu tư được cấp phép hoạt động lưu ký chứng khoán Các ngân hàng thương mại đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật, có nhân viên được đào tạo nghiệp vụ sẽ được Uỷ ban chứng khoán nhà nước xem xét cấp giấy phép hoạt động lưu ký chứng khoán.
Như vậy, pháp luật đã trực tiếp tác động tối sự hình
t h à n h c á c t r u n g g i a n h ỗ trỢ Sự x u ấ t h i ệ n c á c t r u n g g i a n
này có tác đọng tích cực nhằm trợ giúp cho nhà đầu tư, góp phần hoàn thiện hơn các hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Để thị trường chứng khoán hình thành và đi vào hoạt động, một trong các điều kiện tiên quyết là phải xác định được các chủ thể có tư cách tham gia trên thị trường đó, tư
Trang 6cách các chủ thể tham gia là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Nhà nưốc thông qua các quy định của pháp luật đã trực tiếp tác động hình thành nên tư cách pháp lý cho các chủ thể, đảm bảo kích thích sự ra đòi và đỉ vào hoạt động của thị trường chứng khoán theo một trật tự nhất định nhằm bảo đảm tính định hướng cho sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam.
II TÁC ĐỘNG CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN
Để chứng khoán có chất lượng, cần có các tổ chức phát hành, công ty đại chúng, công ty niêm yết chất lượng Việc xác định chất lượng chứng khoán thường được dựa vào các yếu tô" như uy tín trong kinh doanh của tổ chức phát hành,
có thành tích kinh doanh tốt, hiệu quả kinh tế, triển vọng phát triển, vấn đề quản trị và điều hành doanh nghiệp
Trong nền kinh tế, công ty cổ phần ngày càng giữ vai trò chủ yếu trong việc cung cấp chứng khoán cho thị trưòng
Trang 7Phần 3 Nộ! dtma phấp ỉuật
ciia ^ 'tn iề M S ^
chứng khoán Pháp luật quy định công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu Luật Doanh nghiệp nám 2005 quy định việc huy động vốn bằng phát hành chứng khoán của công ty cổ phần được lựa chọn dưói hình thức phát hành chứng khoán ra công chúng hoặc phát hành chứng khoán riêng lẻ, tạo điều kiện cho công
ty cổ phần thành lập và thực hiện hoạt động kinh doanh Việc phát hành cổ phiếu lần đầu nhằm tăng vốh điều lệ của công ty được hình thành mối hay phát hành thêm để táng vốn công ty cổ phần gồm nhiều loại và có những đặc
tính pháp lý khác nhau Theo Luật Doanh nghiệp năm
2005, công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông và có thể
có cổ phần ưu đãi Pháp luật không quy định cụ thể sô" cổ phiếu tối đa mà cổ đông được phép mua mà do điều lệ công
ty quy định.
Do tính chất của cổ phần ưu đãi biểu quyết có thể ảnh hưỏng đến quyền quản lý công ty, nên pháp luật quy định chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần này, quyền ưu đãi biểu
q u y ế t c h ỉ có h i ệ u lự c t r o n g 3 n á m k ể t ừ n g à y c ô n g t y đưỢc
cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó,
cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ
Trang 8Tĩiển vọ tis tN ttườnQ chửng ỉihoán V iệ t Nam
cổ đông sáng lập Đối vói cổ phần phổ thông của cổ đông
sáng lập, trong thòi hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp
g i ấ y c h ứ n g n h ậ n đ ă n g k ý k i n h d o a n h , c ổ đ ô n g có q u y ề n t ự
d o c h u y ể n n h ư Ợ n g c ổ p h ầ n p h ổ t h ô n g c ủ a m ì n h c h o c ổ đ ô n g
s á n g l ậ p k h á c n h ư n g c h ỉ c h u y ể n n h ư ợ n g c ổ p h ầ n c ủ a m ì n h
c h o n g ư ò i k h ô n g p h ả i c ổ đ ô n g s á n g l ậ p , n ế u đ ư ợ c s ự c h ấ p
thuận của Đại hội đồng cổ đông.
Công ty cổ phần phát hành cổ phiếu trong hai trường
hỢ p s a u h u y đ ộ n g t h ê m v ố n đ ể s ả n x u ấ t k i n h d o a n h h o ặ c
k h i t h à n h l ậ p d o a n h n g h i ệ p c ổ p h ầ n m ớ i.
- P hát hành cổ phiếu đ ể thành lập công ty cổ phần mới
Trưóc đây, theo Luật Công ty nám 1990, việc chào bán
cổ phần để thành lập công ty cổ phần phải tiến hành theo thủ tục nhất định Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đàng
ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần được quyền chào bán Số cổ
Trang 9Đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã bãi bỏ những thủ tục quan trọng trên Luật Doanh nghiệp năm 1999 không quy định phương thức cũng như thủ tục chào bán cổ phần
để thành lập công ty cổ phần như Luật Công ty năm 1990 Việc phát hành cổ phiếu để thành lập công ty cổ phần mới hoàn toàn do éông ty tự quyết định: số lượng, trình tự, thủ
t ụ c , p h ư ơ n g t h ứ c c h à o b á n m i ễ n l à p h ù h Ợ p v ố i sô" v ố h
công ty dự định huy động Đây là một hạn chế lốn của Luật Doanh nghiệp năm 1999, khi không quy định các vấn đề trên tạo cơ chế quá thông thoáng dẫn đến tiêu cực trong hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định về cơ cấu cổ phần bán lần đầu khi thành lập công ty cổ phắn cổ đông
sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% tổng sô' cổ phần được quyền chào bán Trường hợp các cổ đông sáng
l ậ p k h ô n g đ ă n g k ý m u a h ế t , sô ' c ổ p h ầ n c ò n l ạ i p h ả i đưỢ c
chào bán và bán hết trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công
t y đưỢ c c ấ p g i ấ y c h ứ n g n h ậ n đ ă n g k ý k i n h d o a n h
Trang 10về việc bán cổ phần lần đầu: sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ sô" cổ phần đăng ký mua trong thòi hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong thòi hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp giấy
- Cổ đông sáng lập còn lại góp đủ sô' cổ phần đó theo tỷ
lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty;
- Một hoặc một sô" cổ đông sáng lập nhận góp đủ sô" cổ
p h ầ n đ ó ;
- Huy động ngưòi khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ sô" cổ phần đó, ngưòi nhận góp vôn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty.
Như vậy, Luật Doanh nghiệp nám 2005 đã có quy định cần thiết đốì với công ty cổ phần khi thực hiện chào bán cổ phần lần đầu nhằm thành lập công ty.
Trang 11Hiện nay, việc huy động thêm vô"n cho hoạt động sản xuấi kinh doanh của doanh nghiệp là nhu cầu cần thiết, qua phát hành cổ phiếu doanh nghiệp sẽ tăng vốh kinh doauh và tỷ lệ sở hữu của cổ đông.
yề phương thức phát hành. Luật Doanh nghiệp năm
1999 không quy định rõ phường thức phát hành cổ phiếu
để huy động thêm vốn của công ty cổ phần Theo quy định tại Điều 61 Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì “thủ tục và trìnk tự chào bán cổ phần thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán'', quy định này có thể hiểu công ty chỉ có thể huy động vô"n thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng Điều này không phù hợp với thực tế huy động vốh của doanh nghiệp
Để khắc phục bất cập trên, Điều 22 Nghị định sô" 03/2Ũ00/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp quy định: “Công ty chào bán cổ phần, trái phiếu theo hình thức phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật
về chứng khoán Việc chào bán cổ phần, trái phiếu theo hình thức khác do công ty quy định và được thực hiện theo
thoả thuận giữa công ty và người mua”. Nghị định đã giải quyết được vướng mắc về hoạt động phát hành cổ phần của
d o a i i h n g h i ệ p k h i k h ô n g t h ự c h i ệ n c h à o b á n r a c ô n g c h ú n g ,
đáp ứng được phần nào nhu cầu thực tiễn hoạt động phát hành cổ phần ỏ Việt Nam hiện nay.
- P h á t hành c ổ p h ầ n đ ể huy động th êm vốn
Trang 12Mboán \^lệt Mam
iồ
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp
có quyền lựa chọn phát hành chứng khoán riêng lẻ hay phát hành chứng khoán ra công chúng và chịu sự điều chỉnh giám sát khác nhau Khoản 6 Điều 87 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định “điều kiện, phương thức và thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán Chính phủ quy định hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng l ể \ Có thể thấy, hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ của các doanh nghiệp diễn ra sôi động Các công ty cổ phần đã thành công khi huy động vốh thông qua phát hành chứng khoán riêng
lẻ như: Công ty cổ phần Pull Power hoàn tất bán 2 triệu cổ phần cho cán bộ công chức Ngày 10-10-2005, hoạt động phát hành cổ phiếu REE theo phương thức phát hành riêng lẻ được đánh giá là khởi xướng cho hoạt động phát hành riêng lẻ hiện nay Phần lốn doanh nghiệp đang niêm yết cổ phiếu hiện nay đang thông qua kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu theo phương thức riêng lẻ cùng với phát hành ra công chúng Bên cạnh đó, các công ty cổ phần có
dự định phát hành thêm cổ phiếu theo phương thức riêng
lẻ do những ưu thế của phương thức phát hành này.
Như v ậ y , 80 v ớ i t h ự c tế phát h à n h v à s o v ớ i p h á p l u ậ t
đ i ể u c h ỉ n h p h á t h à n h c h ứ n g k h o á n r a c ô n g c h ú n g t a d ễ
d à n g n h ậ n t h ấ y p h á p l u ậ t v ề p h á t h à n h c h ứ n g k h o á n r i ê n g
lẻ c ò n q u á m ờ n h ạ t , c h ư a p h ù h Ợ p v ố i t h ự c t ế p h á t h à n h
Trang 13Về điều kiện phát hành, hiện nay không có quy định ràng buộc nào về vấn đề này Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì cơ quan có thẩm quyền quyết định việc phát hành cổ phiếu là Hội đồng quản trị, đông thòi cũng có thẩm quyền quyết định thời điêm, phương thức, giá chào bán cổ phần Hoạt động phát hành thêm cổ phần phổ thông vâ chào bán cổ phần đó cho tất cả cô đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty thì phải thực hiện theo quy định sau đây: thông báo bằng văn bản đến các cổ đông, các cổ đông đáng ký mua và phiếu đăng ký mua phải gửi về công ty đúng hạn như thông báo Trường
h ợ p s ố l ư ợ n g c ổ p h ầ n d ự đ ị n h p h á t h à n h k h ô n g đưỢ c c ổ
đông và ngưòi nhận quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì số cổ phần còn lại sẽ do Hội đồng quản trị quản lý Hội đồng quản trị có thể phân phôi sô cô phần cho cô đông của
c ô n g t y h o ặ c n g ư ò i k h á c t h e o c á c h t h ứ c hỢ p lý
Về mệnh giá cổ phần. Đối vói phát hành cổ phần ra công chúng, mệnh giá cổ phần xác định là 10.000 đồng Đối vối phát hành riêng lẻ chưa được quy định cụ thể mà
do Hội đồng quản trị quyết định giá chào bán, mệnh giá, hình thức.
của các doanh nghiệp.
Trang 14Hiện nay, Luật các tổ chức tín dụng quy định các tổ chức tín dụng ngoài việc huy động vốh tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, từ hỗ trỢ ngân sách nhà nưốc còn được phát hành chứng khoán để huy động vốh (Điều 46 Luật các tổ chức tín dụng).
- Phát hành cổ phiếu
Chỉ có tổ chức tín dụng là ngân hàng thương mại cổ phần mới được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốh Quyền phát hành cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ
Trang 15Các tổ chức tín dụng được quyền phát hành trái phiếu
để huy động vốn Trái phiếu ngân hàng cũng là một hình
t h ứ c v a y nỢ n h ư b ấ t k ỳ m ộ t l o ạ i t r á i p h i ế u n à o , n ó k h ô n g
làm tăng quy mô vốn điều lệ của chủ thể phát hành mà chỉ
mỏ rộng quy mô vốn kinh doanh, giúp đơn vỊ phát hành trái phiếu có thêm khả năng về tài chính để thực hiện mục tiêu của mình.
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một sô" điều của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật liên quan, các tổ chức tín dụng được phát hành giấy tò có giá trong đó bao gồm trái phiếu.
Trang 16T riể n v ọ n g thỉ trường chứng khoán
Đôi tượng ưà điều kiện mua cổ phần. Điều 4 Nghị định
số 187/2004/NĐ-CP ngày 16-11-2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nưốc thành công ty cổ phần quy định nhà đầu tư trong nưốc được quyền mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá với sô" lượng không hạn chế Nhà đầu
tư nước ngoài muốh mua cổ phần phải mở tài khoản tại các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam và chỉ được mua sô" lượng cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam vê' tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài Pháp luật quy định không hạn chế số lượng cổ phần bán cho nhà đầu
tư trong nưóc nhưng việc phát hành phải đảm bảo tỷ lệ cổ phần chi phối của Nhà nước trong doanh nghiệp mà Nhà nưốc giữ cổ phần chi phối Bên cạnh đó, ngưòi lao động được quyền mua, bán, chuyển nhượng cổ phiếu mà không bắt buộc giữ cổ phần ưu đãi trong thòi hạn 3 năm Như
v ậ y , c á c c h ủ s ỏ h ữ u đưỢ c t ự d o c h u y ể n n h ư ợ n g c ổ p h i ế u c ủ a
doanh nghiệp sau cổ phần hoá, góp phần tạo nên sức thanh
Trang 17Về việc bán cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước tiến hành
b á n c ổ p h ầ n s a u k h i p h ư ơ n g á n c ổ p h ầ n h o á đưỢ c p h ê
duyệt Cơ cấu cổ phần lần đầu bao gồm sô" cổ phần nhà nưóc nắm giữ xác định theo phương án cổ phần hoá; sô" cổ phần ưu đãi bán cho ngưòi lao động và cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược; số^cổ phần bán đấu giá công khai cho các nhà đầu tư.
khoản cho cổ phiếu của doanh nghiệp chuyển đổi.
S.2 Phát hành cẩphỉếu của doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài
Việc chuyển đổi hình thức đầu tư của doanh nghiệp có vổn đầu tư nước ngoài được quy định cụ thể tại Nghị định sô" 38/2003/NĐ-CP ngày 15-4-2003 của Chính phủ về việc chuyển đổi một sô' doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần Bên cạnh những yêu cầu chung áp dụng cho tổ chức phát hành, doanh nghiệp có vổh đầu tư nưốc ngoài cần phải tuân thủ thêm một sô' yêu cầu như phải có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, duy trì tỷ lệ vốh góp tốĩ thiểu 30% của nhà đầu tư nưốc ngoài.
Trang 18Thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng, những
tổ chức phát hành cần phải tuân thủ những nội dung cụ thể sau:
- Thứ nhất, về điều kiện chào bán c h ứ n g khoán ra công chúng Để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư và nâng cao trách nhiệm trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư, việc chào bán cổ phiếu ra công chúng phải thoả mãn những điều kiện nhất định Theo quy định của Luật Chứng khoán năm 2006, công ty cổ phần khi chào bán cổ phiếu ra công chúng phải thoả mãn những điều kiện sau:
- Doanh nghiệp có mức vốh điều lệ đã góp tại thòi điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trỏ lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng
k ý c h à o b á n p h ả i có l ã i , đ ồ n g t h ò i k h ô n g c ó lỗ l u ỹ k ế t í n h
đến năm đảng ký chào bán;
- Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốh thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
ĐỐì vối một sô' doanh nghiệp như công ty nhà nưóc,
Trang 19doanh nghiệp có vốh đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần theo lộ trình của Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp thành lập mổi trong trong lĩnh vực công nghệ, cơ sỏ hạ tầng hoặc chào bán chứng khoán ra nước ngoài sẽ theo những quy định cụ thể của Chính phủ.
Thứ hai, tuân thủ trình tự và thủ tục chào bán Theo quy định của Luật Chứng khoán năm 2006, việc chào bán chứng khoán ra công chúng được thực hiện thông qua các bưốc sau đây:
- Đăng ký chào bán.
Luật Chứng khoán năm 2006 quy định việc chào bán chứng khoán ra công chúng của những doanh nghiệp đủ điều kiện phải được đăng ký với uỷ ban chứng khoán nhà
n ư ớ c đ ể đư Ợ c c ấ p Giấy c h ứ n g n h ậ n đ á n g k ý , t r ừ m ộ t B ố
t r ư ò n g h Ợ p n h ấ t đ ị n h
Sau khi nhận đưỢc hồ sơ đăng ký có đầy đủ những thông tin theo quy định của pháp luật, uỷ ban chứng khoán nhà nước sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ để xác minh
t í n h t r u n g t h ự c v à đ ầ y đ ủ v ề n h ữ n g t h ô n g t i n đ ư ợ c d o a n h
nghiệp kê khai Thòi hạn để uỷ ban chứng khoán nhà nước hoàn tất việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận là 30 ngày, kể từ ngày nhận đưỢc hồ sơ đầy đủ Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban chứng khoán nhà nưốc phải nêu
Trang 20rõ lý do trong văn bản từ chôi.
Việc công bô' thông tin về đợt phát hành đưỢc chia thành hai giai đoạn Trong thòi gian uỷ ban chứng khoán nhà nưốc xem xét hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát
h à n h v à t ổ c h ứ c , c á n h â n c ó l i ê n q u a n c h ỉ đưỢ c s ử d ụ n g
trung thực và chính xác các thông tin trong Bản cáo bạch
đã gửi uỷ ban chứng khoán nhà nưốc để thăm dò thị trưòng, trong đó phải nêu rõ các thông tin về ngày phát hành và giá bán chứng khoán là thông tin dự kiến Việc thăm dò thị trưòng không được thực hiện trên phương tiện thông tin đại chúng.
Sau khi tổ chức phát hành được uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát hành trên một tò báo điện tử hoặc báo viết trong ba sô" liên tiếp, trong thòi hạn 7 ngày, kể từ ngày giấy chứng nhận có hiệu lực.
Việc phân phối chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành đã tiến hành xong việc công bố’ thông tin và đảm bảo là những nhà đầu tư có khả năng tiếp cận đầy
đủ với những thông tin ấy Thòi hạn đăng ký mua chứng
Trang 21khoán phải ít nhất là 20 ngày Hoạt động phân phối chứng khoán được thực hiện trong vòng 90 ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực.
Sau khi hoàn tất việc phân phốĩ chứng khoán, tổ chức phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán cho ưỷ ban chứng khoán nhà nước trong thòi hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, kèm theo bản xác nhận của ngân hàng nơi mỏ tài khoản phong toả về sô" tiền thu được trong đợt chào bán.
III PHÁP LUẬT XÁC LẬP VÀ TẠO c ơ sở CHO s ự VẬN HÀNH CỦA CÁC HÌNH THỨC Tổ CHỨC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Chủ thể quản lý, điều hành và giám sát các hoạt động mụa bán chứng khoán trên thị trường tập trung có thể là
Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịoh chứng khoán.
Để xây dựng và đảm bảo hoạt động cho thị trường chứng khoán, thì điều quan trọng là thiết lập các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trưòng chứng khoán Mục tiêu của thị trường chứng khoán là nhằm huy
Trang 22Triển vọng thị trường chứnỡ khoán v^ệt Nana
ỈSầin từ gỏc độ phấp lỷ
động, thu hút nhiều vốh dài hạn từ phía công chúng, để đạt được mục tiêu đó cần tạo lập một thị trưòng chứng khoán Điều đó có nghĩa là cần tạo lập một thị trưòng mà tại đó các chứng khoán có thể linh động được mua đi bán lại giữa các chủ thể vói nhau.
Thị trường giao dịch chứng khoán được tổ chức chặt chẽ theo quy định của pháp luật chứng khoán Giao dịch chứng khoán là giao dịch đặc thù vói hàng hóa đặc thù Bên cạnh
đó, tác động của thị trường chứng khoán nói chung và của các giao dịch chứng khoán nói riêng lên nền kinh tế rất nhạy cảm Chính vì vậy, chỉ có những tổ chức là pháp nhân được pháp luật quy định cụ thể mối được phép tổ chức thị trưòng giao dịch chứng khoán Theo quy định thì các pháp nhân này là sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao
dịch chứng khoán, các công ty chứng khoán Ngoài các tổ chức này ra, không có tổ chức nào được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán.
Pháp luật hiện hành đã phân biệt khái niệm “thị
Theo quan niệm thông thường thì Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán đều là những nơi mà các giao dịch chứng khoán được thực hiện Tuy nhiên, xét về bản chất, sở giao dịch chứng khoán, Trung
tâm giao dịch chứng khoán và cả công ty chứng khoán
Trang 23Phần 3 N ội d u n g p h áp h iật
iMỈa th ị trư ờng dhHÚeng
I&SI bảo sự |:rihát tr iề n
V ỉệtĩ^ tn
không phải là thị trường giao dịch chứng khoán mà chỉ đóng vai trò tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán, giám sát và quản lý thị trường để đảm bảo thị trưòng hoạt động hiệu quả và đúng pháp luật Chính vì vậy, ở một sô" nước hoạt động tổ chức thị trưòng giao dịch chứng khoán được coi là hoạt động chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép tương
tự các hoạt động chuyên nghiệp khác như môi giói, tự doanh, bảo lãnh phát hành
Pháp luật phân chia thị trưòng giao dịch chứng khoán
giao dịch chứng khoán Đây thường là những chứng khoán
có chất lượng cao của những nhà phát hành có uy tín, có khả năng tài chính vững mạnh, ổ cấp độ thấp hơn là thị trường giao dịch phi tập trung (thị trường OTC) được tổ chức bởi Trung tâm giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán Đôi tượng giao dịch trên thị trường này thường là những chứng khoán có chất lượng kém hơn của những nhà phát hành có khả năng tài chính kém hơn.
Bản thân thị trưòng giao dịch phi tập trung cũng được phân thành hai cấp độ riêng Trên thị trưòng giao dịch
Trang 24chứng khoán phi tập trung do Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức diễn ra các giao dịch đôi với chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Các chứng khoán này thưòng là các loại chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Đối vói những
loại chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết tại sỏ giao
dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán thì được giao dịch tại thị trưòng giao dịch phi tập trung do chính các công ty chứng khoán tổ chức Các loại chứng khoán này thông thường là chứng khoán của các công ty mới thành lập,
có số vốn điều lệ thấp, độ tín nhiệm không cao.
Như vậy, bằng cách phân chia thị trưòng theo các mô hình và các cấp độ khác nhau, pháp luật chứng khoán hiện hành đã bao quát hết được các giao dịch với các loại chứng khoán khác nhau để đảm bảo sự điều chỉnh toàn diện của pháp luật đốĩ với thị trường giao dịch chứng khoán.
Pháp luật loại các giao dịch “trao tay” được thực hiện trên thị trường “chợ đen" ra khỏi phạm vi điều chỉnh của pháp luật chứng khoán Thị trường “chợ đen” không được coi là thành tô' của thị trưòng giao dịch chứng khoán Nếu hiểu theo nghĩa rộng về giao dịch chứng khoán như đã nói
ỏ tr ê n t h ì n h ũ n g h o ạ t đ ộ ng n à y cũ n g được c o i là g ia o d ịe h
chứng khoán Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành thì các hoạt động mua, bán này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán mà chịu sự điều chỉnh của pháp
Trang 25luật dân sự chung Do vậy, khi phát sinh tranh chấp thì các chủ thể tiến hành các hoạt động mua bán này cũng không được bảo vệ bởi các thiết chế và theo cơ chế vốn là đặc trưng của thị trường chứng khoán.
Về nguyên tắc chung, các giao dịch chứag khoán trên thị trường giao dịch chứng khoán chỉ do các thành viên của thị trường thực hiện Tuy nhiên, có trường hỢp loại trừ, đốĩ với các giao dịch thực hiện trên thị trưòng giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán tổ chức thì các giao dịch này được thực hiện trực tiếp giữa công ty chứng khoán và khách hàng trên cơ sở sự chấp thuận của uỷ ban chứng khoán nhà nước ĐỐI vối thị trường giao dịch chứng khoán
do Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức thì các thị trường này có những thành viên riêng của mình để thực hiện các giao dịch tại đó Điều
37 và Điều 38 Luật Chứng khoán năm 2006 quy định vê
quyền hạn, trách nhiệm của s ở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán cơ bản là:
- Ban hành các quy chế về niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng khoán, công bô" thông tin và thành viên giao dịch sau khi được ưỷ ban chứng khoán nhà nưốc chấp thuận;
- Tổ chức và điều hành hoạt động giao dịch chứng khoán;
- Tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy b ỏ giao d ị c h chứng khoán theo Quy chế giao dịch chứng khoán trong trường
Trang 26- Chấp thuận, hủy bỏ niêm yết chứng khoán và giám
- Thu phí theo quy định của Bộ Tài chính;
- Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị
t r ư ò n g đ ư ợ c t i ế n h à n h c ô n g k h a i , c ô n g b ằ n g , t r ậ t t ự v à
h i ệ u q u ả ;
- Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thông kê, nghĩa
v ụ t à i c h ín h , t h e o q u y đ ị n h c ủ a p h á p l u ậ t ;
- Thực hiện công bố" thông tin theo quy định;
- Cung cấp thông tin và phối hỢp với các cơ quan nhà
hỢp cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư;
Trang 27nước có thẩm quyền trong công tác điều tra và phòng, chốhg các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Phối hỢp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Phôi hđp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư;
- Bồi thưòng thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hỢ p Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ
t r ư ò n g hỢ p b ấ t k h ả k h á n g
Điều kiện để trỏ thành thành viên của Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán rất khắt khe Trước hết, thành viên của sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán phải là công
t y c h ứ n g k h o á n đưỢ c U ỷ b a n c h ứ n g k h o á n n h à n ư ớ c c ấ p
giấy phép thành lập và hoạt động với nghiệp vụ môi giới hoặc/và tự doanh chứng khoán Ngoài ra, công ty chứng khoán phải thỏa mãn những tiêu chuẩn do Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán quy định trong điều lệ, quy chế và được sự chấp thuận của sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán đó để trở thành thành viên Thành viên của thi
Trang 28t r ư ờ n g n à o c h ỉ đưỢ c p h é p t h ự c h i ệ n g i a o d ị c h ỏ t h ị t r ư ò n g
đó Mặc dù vậy, pháp luật không cấm một công ty chứng khoán có thể trở thành thành viên ỏ nhiều thị trường khác nhau Điều này cũng phù hỢ p với thông lệ trên thế giới Thành viên của thị trường tập trung là các công ty chứng khoán được uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động và được Sở giao dịch (Trung tâm giao dịch) chứng khoán chấp nhận.
Tuỳ theo mức độ phát triển của thị trường mà quy định
về thành viên ở mỗi quốc gia là khác nhau Chẳng hạn, tại thị trường New York (là thị trường cho phép có s ự tham gia của cá nhân), các thành viên bao gồm các chuyên gia, nhà môi giới của công ty thành viên, nhà môi giới tự do tạo thành thị trường cạnh tranh Trong khi đó, tại Sở giao dịch Hàn Quốc lại có hai loại thành viên là thành viên thường
v à t h à n h v i ê n đ ặ c b i ệ t ; c á c t h à n h v i ê n đ ặ c b i ệ t đưỢ c h i ể u » • 7 • • •
l à t h à n h v i ê n k h ô n g t h a m g i a g ó p v ố h v à o s ở g i a o d ịc h
Cũng xuất phát từ mức độ phát triển của thị trưòng, điều kiện về thành viên ở mỗi nưốc cũng khác nhau Tuy nhiên, các điều kiện thành viên chủ yếu tập trung vào điều kiện về năng lực tài chính, về cơ sỏ vật chất kỹ thuật và điều kiện con người, ớ Việt Nam, do thị trường còn mới mẻ, sô" lượng các công ty chứng khoán còn hạn chế nên chỉ cần đăng ký với Trung tâm giao dịch chứng khoán và được
Trang 29Thành viên thị trường tập trung có những quyền hạn và nghĩa vụ cơ bản sau:
- Tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh
c h ứ n g k h o á n t ạ i t h ị t r ư ờ n g v à c h ị u s ự k i ể m t r a g i á m s á t
của Trung tâm (Sở) giao dịch.
- Báo cáo tình hình hoạt động, tình hình tài chính và các sự kiện quan trọng có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của mình và của ngưòi đầu tư.
- Nộp các khoản phí và đóng góp theo quy định.
- Được phép sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ
do thị trường cung cấp.
- Được rút khỏi tư cách thành viên khi đưỢc chấp thuận.
Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán là chủ thể tổ chức hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán Do vậy, hoạt động của thị trưòng giao dịch chứng khoán gắn liền với chức năng, quyền hạn
và nhiệm vụ của hai chủ thể này.
Hoạt động niêm yết chứng khoán. Nhận được bộ hồ sơ niêm yết chứng khoán, Trung tâm (Sở) giao dịch xem xét
và chấp nhận cho phép niêm yết, chứng khoán của tô chức phát hành được niêm yết tại Thị trường tập trung Để niêm yết chứng khoán cho các tổ chức phát hành, Trung tâm
chấp nhận là thành viên.
Trang 30(Sỏ) giao dịch chứng khoán phải tiến hành các hoạt động cần thiết đảm bảo quyền cho nhà niêm yết cũng như quyền của nhà đầu tư Khi niêm yết chứng khoán, Trung tâm (Sở) giao dịch chứng khoán phải công bô' giá niêm yết Giá niêm yết lần đầu có ý nghĩa quan trọng để xác định giá tham chiếu Giá tham chiếu là mức giá làm cơ sỏ cho việc tính giói hạn giao động giá chứng khoán Giá tham chiếu được hiểu chính là giá đóng (giá thực hiện tại lần khốp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch) của ngày hôm trước.
Biên độ dao động giá là khoảng dao động giá chứng khoán quy định trong ngày giao dịch so với giá tham chiếu Biên độ dao động giá được quy định phù h Ợ p với từng thòi
kỳ của thị trưòng và biến động của thị trường Biên độ dao động giá mà Việt Nam đang thực hiện không phải là hiện tượng riêng biệt mà được áp dụng cho rất nhiều thị trường tập trung trên thê giói Biên độ dao động giá không làm mất đi tính tự do đối vối các giao dịch tại thị trường mà chỉ nhằm giảm thiểu những khả năng gây ra tình trạng biến động giá quá lớn tại thị trường tập trung Điều này cực kỳ cần thiết cho các thị trường tập trung mối mở.
Chứng khoán được phép niêm yết và giao dịch tại Trung tâm (Sỏ) giao dịch chứng khoán, tuỳ theo từng trường hợp mà có thể huỷ bỏ niêm yết Việc huỷ bỏ niêm yết được tiến hành khi:
- Tổ chức niêm yết bị giải thể, phá sản.
Trang 31- Tổ chức niêm yết ngừng hoạt động kinh doanh hơn
1 năm hoặc bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đăng ký kinh doanh.
- Không chấp nhận hoặc từ chối cho ý kiến về tình hình tài chính của tổ chức niêm yết.
- Tổ chức niêm yết thường xuyên vi phạm về công bô" thông tin, không nộp báo cáo trong 2 năm liên tục; tài sẻn ròng âm trong 2 năm liên tục.
- Không có giao dịch chứng khoán trong thòi hạn 1 nám; thời hạn còn lại có hiệu lực của chứng khoán niêm yết dưới 2 tháng hoặc đã được tổ chức đó mua lại toàn bộ.
- Theo đề nghị của tổ chức niêm yết hoặc Uỷ ban chứng
k h o á n x é t t h ấ y c ầ n h u ỷ b ỏ đ ể đ ả m b ả o q u y ề n lợi c ủ a n h à
đầu tư.
Trước khi huỷ bỏ niêm yết nếu không phải theo yêu cầu của chính tổ chức niêm yết, các chứng khoán nêu trên có thể bị kiểm soát Chủ thể có thẩm quyền tiến hành kiểm soát là Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch.
Công bố thông tin. Công bô" thông t i n nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ thể có liên quan và mục đích quan trọng là nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, đặc biệt
là các nhà đầu tư ngay tình.
Các chủ thể có liên quan đến việc công bô" thông tin bao
Trang 32gồm: các tô chức niêm yết (không bao gồm Chính phủ) và Trung tâm (Sở) giao dịch chứng khoán.
Tiến hành công bô" thông tin, tuỳ theo từng loại thông tin và mục đích công bô' mà đó có thể là thông tin theo định
kỳ hoặc thông tin tức thòi.
Thông tin theo định kỳ là việc công bô" thông tin theo những thòi điểm quy định Công bôT định kỳ liên quan đến các thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh, vốh, tài sản, doanh thu, lợi nhuận, thuế
Thông tin bất thường là công bô' thông tia ngay sau khi xảy ra các điều kiện quan trọng có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán hoặc lợi ích của ngưòi đầu tư Công bô" tức thòi liên quan đến tình trạng hiện tại của tổ chức niêm yết hoặc các quyết định liên quan đến người đau tư như tách
h o ặ c g ộ p c ổ p h i ế u h o ặ c t h e o y ê u c ầ u c ủ a ư ỷ b a n c h ứ n g
khoán nhà nưốc Tuỳ theo từng trường hỢp cụ thể mà Trung tâm giao dịch sẽ xác định cụ thể nội dung công bô" tức thì cho từng tổ chức niêm yết.
Liên quan đến hoạt động của thị trưòrg, Trung tâm giao dịch có nhiệm vụ công bô" các thông tin:
- Thông tin về giao dịch trên thị trường.
+ Giá chứng khoán giao dịch trong ngà)^ bao gồm giá
mở cửa, đóng cửa, giá thấp nhất và cao nhất;
Trang 33+ Khôi lượng giao dịch, giá trị giao dịch;
+ Kết quả giao dịch lô lớn.
Giao dịch mua và bán lại cổ phiếu của chính tổ chức niêm yết Tổ chức niêm yết mua lại cổ phiếu của mình khi
- Thông tin về lệnh giao dịch trên thị trường.
+ Giá chào mua, chào bán tốt nhất;
+ Quy mô đặt lệnh giao dịch;
+ Sô' lượng lệnh mua hoặc lệnh bán.
- Thông tin về chỉ số giả chứng khoán niêm yết.
Về cơ cấu tổ chức của s ở giao dịch chứng khoán (Trung
tâm giao dịch chứng khoán).
Sở giao dịch chứng khoán là pháp nhân độc lập, có vô'n
và điều lệ riêng, có chức năng tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động thị trưòng giao dịch tập trung Pháp luật quy định mô hình hoạt động sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam là mô hình thành viên hoặc cổ phần.
Trang 34Trung tâm giao dịch chứng khoán là pháp nhân độc lập,
có vốh và điều lệ riêng, có chức năng cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch phi tập trung
Mô hình tổ chức hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán cũng tương tự như sở giao dịch chứng khoán, đó là
mô hình thành viên hoặc cổ phần Thẩm quyền quyết định việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu và hình thức sở hữu của Trung tâm giao dịch chứng khoán thuộc về Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhìn chung, bộ máy quản lý và điều hành của sở giao
dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán khá giốhg nhau, bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán đều do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm trên
cơ sở đề nghị của Chủ tịch ưỷ ban chứng khoán nhà nước.
IV TÁC ĐỘNG CÙA PHÁP LUẬT VỚI HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán có đặc trưng quan trọng là
Trang 35bảo sư phát triển
hoạt động theo nguyên tắc trung gian Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này chính là hoạt động môi giói chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán có chức năng môi giói chứng khoán và nhân viên môi giới chứng khoán Hoạt động môi giới đóng vai trò nhất định trong việc đưa ngưòi bán và ngưòi mua đến với nhau, giúp nâng cao tính thanh khoản và giá trị của hàng hoá trên thị trường chứng khoán, đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư Luật Chứng khoán năm 2006 quy định: “môi giới chứng khoán là việc
công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng” (khoản 20 Điều 6) Hoạt động môi giới mang lại cho công ty chứng khoán một khoản thu nhập là phí môi giới.
Hoạt động môi giối chứng khoán bắt đầu bằng hành vi
Trang 36hàng để mua, bán chứng khoán Nhằm hạn chế tốì đa tình trạng đó xảy ra, pháp luật yêu cầu công ty chứng khoán
''phải quản lý tách bạch tiền và chứng khoán của nhà đẩu
tư với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán”
(khoản 2 Điều 71 Luật Chứng khoán năm 2006), đồng thòi
s a u k h i k ý hỢ p đ ồ n g m ở t à i k h o ả n c h o k h á c h h à n g , c ô n g t y
phải mỏ tài khoản tiền gửi chuyên dùng không kỳ hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ tại một ngân hàng thương mại được phép hoạt động ngoại hối để lưu giữ toàn bộ tiền gửi giao dịch chứng khoán của khách hàng Đây là những biện pháp cần thiết bảo đảm an toàn cho tài sản của các nhà đầu tư trong mọi tình huống kể cả tình huốhg xấu nhất khi công ty chứng khoán bị phá sản Tuy nhiên nguy
cơ khách hàng bị lợi dụng tiền và chứng khoán vẫn tiềm ẩn
Trang 37vì lợi ích của khách hàng mà còn vì mục đích an toàn cho
cả công ty chứng khoán.
Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc công bằng cho tất cả khách hàng và để công ty chứng khoán thực hiện được quá trình kiểm tra, đối chiếu tài khoản tiền, tài khoản chứng khoán của khách hàng trưốc khi nhập lệnh, pháp luật quy định công ty chứng khoán có thể nhận lệnh của khách hàng tại trụ sở chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh nhưng trước khi truyền vào Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc sỏ giao dịch chứng khoán thì những lệnh này phải thông qua trụ sỏ chính hoặc chi nhánh trước.
Hoạt động môi giới chứng khoán đang chứng tỏ là hoạt động mang lại doanh thu chính cho nhiều công ty chứng khoán, nhưng trong pháp luật chứng khoán hiện hành của Việt Nam không có điều khoản quy định về vấn
đ ề p h í m ô i g iớ i Điều n à y k h ô n g t h ự c s ự p h ù h Ợ p v ớ i
nguyên tắc công bằng của thị trường chứng khoán, không đảm bảo được sự tự do cạnh tranh, nhưng xét trên một khía cạnh nào đó nó đã mang lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn khi tìm kiếm công ty chứng khoán thực hiện hoạt động môi giới cho mình.
Trang 38Tự doanh chứng khoán là loại hình kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán tự mua, bán chứng khoán cho chính mình Công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ tự doanh vối mục đích thu lợi nhuận Ngoài ra,
t r o n g m ộ t sô" t r ư ờ n g h Ợ p n h ấ t đ ị n h c ò n n h ằ m m ụ c đ í c h c a n
thiệp điều tiết giá trên thị trưòng.
Hoạt động này khác với hoạt động môi giói chứng khoán ở chỗ công ty chứng khoán thực hiện hoạt động môi giối kiếm tìm lợi nhuận cho khách hàng, còn thực hiện tự doanh chứng khoán là tìm kiếm lợi nhuận cho chính bản thân công ty Một công ty chứng khoán có thể cùng lúc thực hiện nghiệp vụ môi giối chứng khoán và tự doanh chứng khoán, nên hai nghiệp vụ này nếu không có sự phân biệt
rõ ràng sẽ ảnh hưởng và hạn chế lẫn nhau, gây bất lợi cho không chỉ công ty mà cả các nhà đầu tư Vì lý do đó, pháp luật yêu cầu công ty chứng khoán phải tách biệt hoạt động
tự doanh với hoạt động môi giới chứng khoán và tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ ồ hai bộ phận khác nhau.
Vói hoạt động tự doanh chứng khoán, công ty chứng khoán trở thành nhà đầu tư và hoạt động này chứa nhiều rủi ro cho nhà đầu tư Do vậy, hạn chế tốỉ đa rủi ro có thể
Trang 39xảy ra, công ty phải đảm bảo những điều kiện về vốh và phải có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch của chính mình Bên cạnh đó, công ty chứng khoán khi tiến hành hoạt động tự doanh sẽ bị hạn chế đầu tư và hạn chế góp vốn trong một số trường hợp theo luật định.
Vì hoạt động tự doanh dễ dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng và công ty chứng khoán, nên pháp luật các nưóc cũng như pháp luật Việt Nam đều buộc công ty chứng khoán tuân thủ nguyên tắc: “ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty chứng khoán”{ khoản 4 Điều 71 Luật Chứng khoán nám 2006) Điều đó có nghĩa là công ty chứng khoán phải xử lý lệnh giao dịch của khách hàng trưóc lệnh tự doanh của công ty Xu thế trong tương lai là nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng, pháp luật còn
có thể quy định đốì vối lệnh mua, bán chứng khoán của khách hàng có thể ảnh hưỏng lớn tới giá của loại chứng khoán thì công ty chứng khoán không được mua, bán trưốc cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin này cho bên thứ ba mua, bán chứng khoán đó.
Lần đầu tiên, nghiệp vụ bán khống chứng khoán đã được ghi nhận trong Luật Chứng khoán, cụ thể tại khoản
9 Điều 71 quy định: “Công ty chứng khoán được thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không
sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán
đê bán theo quy định của Bộ Tài chính”. Hiện nay, ưỷ ban
Trang 40chứng khoán nhà nước đang xây dựng dự thảo quy định về bán khốhg chứng khoán và theo dự kiến ban đầu, chỉ công
ty chứng khoán có hoạt động tự doanh mối được triển khai
n g h i ệ p v ụ n à y v ớ i m ứ c k h ố h g c h ế k h á c h ặ t : c h ỉ đưỢ c c h o
nhà đầu tư vay ngắn hạn trong thòi gian chứng khoán chưa về tài khoản với mức tối đa bằng 20% số chứng khoán
mà công ty chứng khoán đang nắm giữ.
Bán khống là nghiệp vụ hoàn toàn mới tại Việt Nam, trước đây pháp luật cấm thực hiện vì điều kiậii của thị trường chứng khoán và của công ty chứng khoán nhưng tại thòi điểm đó chưa đủ khả năng Hiện nay, thị trường chứng khoán nước ta đang liên tục phát triển, các nhà đầu
tư chuyên nghiệp tham gia ngày càng nhiều thì việc áp dụng nghiệp vụ bán không là điều tất yếu Tuy nhiên, để nghiệp vụ bán khống phát huy tác dụng tốt nhất đôl vối thị trường chứng khoán Việt Nam, đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao từ tất cả các bên tham gia thị trường và một khung pháp lý hoàn thiện.
Hoạt động tự doanh đang trở thành hoạt động quan trọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận, Ngoài vai trò đó, thông qua tự doanh chứng khoán, các công ty chứng khoán có tilm lực tài chính lớn mạnh còn có thể tác động đến giá cả chứng khoán nhằm điều tiết, thị trưồng Mặc dù pháp luật hiện hành không quy định đây là nghĩa vụ của công ty chứng