1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Ẩm thực ngày tết của người Mường xã Xuân Phú huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa

35 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 404,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tìm hiểu ẩm thực của người Mường nói chung vàngười Mường ở xã Xuân Phú nói riêng không chỉ để hiểu biết về đặc điểm cácmón ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa của ng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc mường có quan hệ mậtthiết với các dân tộc anh em khác Văn hóa Mường là nền văn hóa bản địa,phong phú đa dạng giàu bản sắc và rất độc đáo thể hiện qua nếp nhà, bộ trangphục truyền thống cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, người Mường

đã xây dựng nên nền văn hóa tộc người đặc sắc, đóng góp vào nền văn hóa đadạng

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Mường , tuy nhiêncác công trình vẫn chưa nghiên cứu một cách thấu đáo về từng nhóm địaphương Trong số đó có nhóm mường ở Thanh Hóa Mặc dù có nhiều điểmtương đồng , song do quá trình tục cư, quy mô, mức độ giao tiếp văn hóa với cácnước dân tộc láng giềng mà có nhiều điểm khác biệt Người Mường ở xãXuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một trong những trường hợp nhưvậy Chính vì vậy tìm hiểu về người Mường ở Xuân Phú , đặc biệt là về ẩm thựctrong ngày Tết Nguyên Đán cần đòi hỏi khoa học và thực tiễn hiện nay

Đối với người Mường, tết Nguyên Đán là cái tết quan trọng nhất, to nhấttrong một năm Bởi vậy các món ăn cũng được làm cầu kì và đặc sắc hơn đểdâng cúng lên tổ tiên thần thánh Điều này phản ánh truyền thống và đặc trưngcủa cư dân Mường Vì vậy tìm hiểu ẩm thực của người Mường nói chung vàngười Mường ở xã Xuân Phú nói riêng không chỉ để hiểu biết về đặc điểm cácmón ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa của người Mường hơn.Không những thế , nghiên cứu đồ ăn uống, hút truyền thống còn góp phần xácđịnh tiềm năng , nguồn lực phát triển du lịch, văn hóa Bởi vậy nghiên cứu ẩmthực trong ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa là nhu cầu thực tiễn hiện nay Từ những lí do trên em

Trang 2

chọn đề tài “Ẩm thực ngày tết của người Mường xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài tiểu luận của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu

Cho đến nay, việc nghiên cứu về người Mường đã trở thành vấn đề nghiêncứu của không ít nhà nghiên cứu, nhà khoa học và đã được đề cập đến trong một

số công trình nghiên cứu sau:

Từ xưa, ăn uống đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu Dân tộchọc ở cả trong và ngoài nước Về ẩm thực truyền thống trong ngày tết dân tộccủa người Mường ở Việt Nam được đề cập trong các công trình như Từ Chi với

Văn hóa Mường, Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Thanh Hóa; Nguyễn Thị

Thanh Nga (chủ biên) với Người Mường ở Tân Lạc, Thanh Hóa…

Tuy vậy, việc nghiên cứu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của ngườiMường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa phải đã quantâm đúng mức

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề tự nhiên, xã hội liên quan đến ẩm thực trong ngàytết cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHóa

Nâng cao hiểu biết về ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở xã XuânPhú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Tìm hiểu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã XuânPhú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và những biến đổi của nó trong giai đoạnhiện nay

Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của ẩm thực trong ngàytết cổ truyện của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHóa

Trang 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của bài tiêu luận là ẩm thực trong ngày tếtNguyên Đán cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hóa Bên cạnh đó bài tiểu luận cũng đề cập đến một số yếu tố liên quanđến người Mường như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, những yếu tố ảnhhưởng đến ẩm thực của người Mường trong đời sống thường ngày cũng nhưtrong ngày tết Nguyên Đán

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Thời gian: Từ năm 2000 trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung là dựa trên Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng HồChí Minh Đó là đặt nội dung nghiên cứu trong bối cảnh môi trường tự nhiên,kinh tế , xã hội và văn hóa tộc người mà cụ thể là dân tộc Mường và của vùng,đặt ẩm thực Mường trong một hệ thống với nhiều thành tố có mối quan hệ và sựtác động qua lại , và đặt trong xu thế vận động và phát triển

Phương pháp chính được sử dụng là nghiên cứu điền dã ở thực địa,với các

kĩ thuật chủ yếu như :quan sát, phỏng vấn, hỏi chuyện, chụp ảnh, ghi âm Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp để thuthập những tài liệu hiện có của địa phương nơi nghiên cứu về những nội dungliên quan tới đề tài, như các báo cáo và số liệu thống kê Ngoài ra còn tham khảotài liệu từ những công trình, các tạp chí chuyên nghành đã công bố về ẩm thực ,đặc biệt là ẩm thực Mường

Để bổ sung tư liệu, tác giả còn nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tham khảocác sách, các tạp chí chuyên ngành, cũng được chú trọng thực hiện

Trang 4

6 Bố cục tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của tiểu luận được

trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về người Mường xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2: Ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tình Thanh Hóa

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MƯỜNG XÃ XUÂN PHÚ, HUYỆN THỌ

XUÂN, TỈNH THANH HÓA

1.1. Điều kiện tự nhiên xã Xuân Phú

1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Xuân Phú có một vị trí hết sức quan trọng của huyện Thọ Xuân,cách trung tâm huyện 15km về phía Tây Bắc, dọc theo tuyến đường Hồ ChíMinh.Có vị trí giao lưu thuận lợi, với tổng diện tích đất tự nhiên là 3180,92 ha

xã có địa giới hành chính tiếp giáp với các khu vực khác nhau như sau:

Phía Bắc giáp thị trấn Lam Sơn

Phía Đông giáp thị trấn Sao Vàng

Phía Nam giáp thị trấn Khe Hạ, huyện Thường Xuân

Phía Tây giáp xã Luận Thành, huyện Thường Xuân

Xã Xuân Phú gồm 13 thôn: Bàn Lai, Cửa Trát, Đồng Cốc, Hố Dăm,

Đá Dựng, Đồng Tro, Thôn 12, Đồng Luồng, Thôn đội 3, Làng Bài, Làng Sung,

Ba Ngọc, Làng Pheo

Với vị trí địa lý như vậy, xã Xuân Phú có nhiều điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế-xã hội giữa các làng và khu vực lân cận

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Địa hình: Xuân Phú là xã có địa hình đồi núi thấp, xen kẽ là đồng ruộng

có hai dạng địa hình chính là địa hình đồi núi thấp và địa hình đồng ruộng xen ởcác chân núi

Địa hình đồi núi thấp thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, địa hìnhđồng ruộng phát triển trồng cây lương thực thực phẩm, phát triển chăn nuôi giasúc, gia cầm Với điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp lúanước, trồng cây lâm nghiệp, chăn nuôi đồng thời phát triển giao thông liên xãgiao lưu trao đổi buôn bán giữa các vùng

Trang 6

-Khí hậu: Trên nền nhiệt chung của cả huyện, xã có khí hậu lạnh về mùa

đông, nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hè, tạo sự đa dạng trong cây trồng vật nuôi,ảnh hưởng đến phong tục tập quán nơi đây

- Đất đai: Xã Xuân Phú có diện tích đất tự nhiên là 3180,92 ha trong đó đất

nông nghiệp chiếm 2,662,88 ha đất lâm nghiệp là 128,22 ha đất chưa sử dụng là58,47 ha

- Sông ngòi: Trong địa bàn xã có nhiều suối lớn nhỏ, bắt nguồn từ các vách

núi, đồi chảy xuống, các kênh mương nằm rải rác…Ngoài ra, ở xã còn có 2 hồlớn đó là hồ Cửa Trát và hồ Chùa Hang cung cấp nước cho đời sống sinh hoạt vàsản xuất của người dân

- Rừng: Xã có diện tích rừng lớn, có hệ động thực vật đa dạng, phong phú

có giá trị kinh tế cao, phát triển các ngành khai thác chế biến lâm sản…

1 2 Nguồn gốc dân cư

Cũng như người Mường ở nhiều địa phương khác, tộc danh của ngườiMường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân được nhà nước chính thức công nhận

là Mường Trong thực tế họ còn được gọi là Mon, Mọi, Mual, Mường Xuân Phú,

Ở Việt Nam người Mường sống nhiều ở Thanh Hóa, Thanh Hóa, PhúThọ…Hiện nay tổng số dân tộc Mường ở Việt Nam là 1.268.963 (2009), trong

đó ở Thanh Hóa là 328.744 (1999) chiếm 9,5% dân số của tỉnh Thanh Hóa

Tổ tiên người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cưtrú ở quê hương của họ hiện nay đã từ rất lâu đời Theo các tài liệu đã công bố,

tổ tiên của họ đã có mặt ở Thọ Xuân, ngay từ giai đoạn Đồ đá mới, và là chủnhân của văn hóa Thanh Hóa

Hiện nay, người Mường cư trú ở khắp các xóm, bản ở xã Xuân Phú, họcũng cư trú xen kẽ cùng người Thái, người Kinh (Việt) từ đã lâu đời Đây chính

là tiền đề cho giao tiếp văn hóa giữa người Mường ở xã Xuân Phú, huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, sâu sắc

1.3 Tập quán mưu sinh

Trang 7

Với đặc điểm cư trú ở những thung lũng ven núi nên người Mường ở xãXuân Phú lấy trồng trọt lúa ở ruộng nước và ruộng bậc thang làm hoạt đôngkinh tế chủ đạo Từ xa xưa người Mường ở Xuân Phú đã biết phát nương làmrẫy bên cạnh những thửa ruộng nước Kỹ thuật canh tác lúa nương của họ kháphát triển, người Mường có kinh nghiệm quý báu trong việc chọn đất làm nươngrẫy; họ thường chọn những những mảng rừng có giang , nứa mọc dày, trồngmùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi Ngoài việc trồng lúa nước, lúanương, người Mường ở xã Xuân Phú còn trồng thêm các loại cây hoa màu vàcây lương thực khác trên nương.

Hoạt động trồng trọt rất quan trọng đối với người Mường ở đây, việc trồngtrọt đáp ứng nhu cầu lương thực mà còn là hàng hóa trao đổi mua bán Vì thế cónhiều nghi lễ , tục lệ nông nghiệp như: lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới kèm theokiêng kị mang tính chất ling thiêng

Người Mường được đánh giá là một trong những tộc người có tài về chănnuôi với nhiều động vật khác nhau nhưng chủ yếu nuôi trâu bò, (chăn nuôi theokiểu thả rông) Ngoài việc cung cấp sức kéo thì trâu bò còn là nguồn cung cấpthực phẩm trong những ngày hội trọng đại của cộng đồng và gia đình.Đối vớingười Mường , trâu bò có vị trí đặc biệt trong đời sống thường ngày vì đối với

họ chúng là cả tài sản, cơ nghiệp, phản ánh tiềm lực kinh tế từng nhà trong bản

và bản này với bản khác

Bên cạnh đó người Mường còn nuôi lợn, gà để lấy thịt, trứng Chúng cũngđược người Mường nuôi thả thành bầy Ngoài ra người Mường còn biết tận dụng

ao, hồ, sông ngòi để nuôi thả cá

Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường thì đan lát và dệtvải là hai nghề phổ biến nhất

Người Mường đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng tronggia đình từ nguyên liệu tự nhiên là tre, nứa, giang mây như: rổ, rá, thúng, nia,giỏ

Trang 8

Nghề dệt vải cũng khá phổ biến Trong mỗi gia đình người Mường đều cócác khung cửi dùng để dệt vải bông, phục vụ may mặc cho các thành viên Côngviệc trông bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhiệm Nguyên liệu dùng đểdệt vải ngoài bông, còn có tơ tằm,

Bên cạnh đó nghề mộc cũng tương đối phát triển.Hầu như bản làng nào củangười Mường cũng có một đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây dựngnhà cửa, đình miếu

Chợ đối với người Mường ở Xuân Phú có via trò quan trọng , đây khôngchỉ là nơi gặp gỡ của mọi người mà quan trọng hơn cả là nơi trao đổi buôn bán.Các mặt hàng ở đây rất phong phú đa dạng từ lương thực, thực phẩm hằng ngày,các nông cụ để sản xuất

Những sản phẩm người Mường thu được từ rừng không chỉ đủ dùng tronggia đình mà còn được dùng để trao đổi như: măng, mộc nhĩ, nấm Người Mườngtrao đổi những sản phẩm khai thác từ rừng về và đổi lấy những vật dụng dùngtrong gia đình như : muối , dầu thắp, bát đĩa, xoong nồi

Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản Mường xa của xãXuân Phú, từng bước tạo nên mối quan hệ giữ miền xuôi và miền ngược, giữangười Mường và các dân tộc khác góp phần vào giao lưu văn hóa – kinh tế giữacác tộc người gần gũi nhau

1.4.1 Đặc điểm văn hóa vật chất

1.4.1.1 Nhà cửa

Trước đây người Mường ở xã Xuân Phú ở nhà sàn Nhà sàn của họ nhìnbên ngoài không khác gì nhà sàn của người Tày, người Thái, nhưng nhỏ bé vàxây cất đơn giản, mộc mạc hơn Nhà của họ đều được làm bằng gỗ, tre, nữa, lớpbằng cỏ tranh hay lá cỏ Ngôi nhà cổ xưa thường chôn cột xuống đất, nay châncột đều kê táng Thiết kế nhà truyền thống của họ theo kiểu vì kèo, liên kết chủyêu là buộc, gá Những ngôi nhà cổ của họ thường nhỏ và thấp, vách làm bằngphên nứa, mái chảy xuống gần hết cửa sổ Cửa sổ thường thiết kế ở đầu hồi vàvách phía sau Cầu thang phía gian ngoài dành cho nam giới, cầu thang phía

Trang 9

gian trong dành cho nữ giới Cách bố trí nơi ăn ở trong nhà của họ tương đốithống nhất Nửa sàn phía trên (giáp voong tong) thường dùng để ngủ, nghỉ, nửaphía dưới đặt bếp, là nơi sinh hoạt của gia đình Nếu tính theo chiều ngang sànnhà, phần bên ngoài dành cho nam giới, phần bên trong (voong khưa) là khu vựccủa phụ nữ Bên ngoài liền với phần dành cho phụ nữ là sàn phơi và để nước ăn.Hiện nay nhà ở của người Mường ở xã Xuân Phú đã thay đổi rõ nét, khôngcòn những ngôi nhà sàn truyền thống mà thay vào đó là các ngôi nhà cao tầng,nhà mái bằng, nhà xây lợp ngói Tổ hợp kiến trúc nhà ở của họ có nhiều thay đổi Nhà ở, nhà bếp và chuồng trại gia súc được thiết kế, xây dựng thành khu riêngbiệt Khuôn viên cư trú đều được thu hẹp lại.

1.4.1.2 Trang phục

- Trang phục nữ giới

Trang phục của người Mường không chỉ đơn thuần mang chức năng xãhội mà nó còn mang nhiều giá trị văn hóa thẩm mỹ cao Một bộ trang phục hoànchỉnh gồm rất nhiều bộ phận khác nhau hợp thành một thể thống nhất trong cộngđồng các dân tộc Việt Nam Ngoài ra các phụ kiện kèm theo là đồ trang sức:vòng tay, xà tích…cũng được sử dụng

-Khăn đội đầu: Được dệt bằng vải thô, màu đen,không có viền,ở hai đầu

khăn có hoa văn,khi đội trùm lên đầu và buộc ở đằng sau gáy Hiện nay phụ nữMường ở một số vùng có xu hướng buông tóc dài nhiều hơn là đội khăn ,còntầng lớp trung niên và những người cao tuổi thì chiếc bít tlốk truyền thống vẫnthường xuyên được dùng và trở thành vẻ đẹp riêng của người phụ nữ Mường

- Áo (gọi là áo khóm): cắt thẳng không có eo, ngắn hơn áo cánh của người

Kinh(Việt), cổ tròn không có khuy, tay nối với thân áo đằng sau cổ có hai dâybuộc, áo khóm được may bằng vải tơ tằm, vải bông dệt màu trắng, xanh, hồng…Với hình dáng áo như vậy tạo nên vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Mường Tuy

áo không thêu hoa văn nhưng vẫn mang nét dịu dàng mà đầy quyến rũ của ngườiphụ nữ Mường

Trang 10

- Váy và cạp váy: Sau khi dệt thành tấm vải, váy được may thành hình ống

tròn, màu đen, phần cạp váy che ngực được dệt từ sợi tơ tằm và thường được dệtthành các đường ngang trang trí rất cầu kỳ, trên cạp váy chủ yếu khắc họa các ôvuông trong tự nhiên với đường nét tinh tế Về thân váy, eo rộng về chiều ngangnên khi mặc họ thường quấn xung quanh thân, phần thừa quấn lại thành nếpchạy dài thân váy dọc xuống phía trước rất gọn gàng tạo cho bước đi của họ rất

tự tin không có cảm giác vướng víu khi di chuyển

Cùng với áo và váy được mặc vào làm tăng thêm vẻ dịu dàng hiền lành

và chất phác,đảm đang của người phụ nữ Mường Khi mặc váy được quấn chặtphần ngực thừa gấp nếp cho ra phía trước,buộc một sợi dây nhỏ trước ngực giữcho váy không bị tuột,cách mặc như trên vừa đơn giản vừa đáp ứng nhu cầu,phùhợp với chức năng sinh hoạt đi lại trong nếp sống truyền thống của người phụ

nữ Mường.Họ thường mặc váy dài đến chấm gót,lối mặc váy này bây giờ chỉcòn thấy ở cụ già.Phụ nữ Mường thường kiêng kỵ việc mặc lộn đầu xuống dướigấu váy lên trên,bởi vì váy chỉ được mặc như vậy khi chồng chết chưa kịp phát

tang,váy phụ nữ Mường tiện lợi trong sinh hoạt

Chiếc váy nào cũng có cạp, nhưng bộ váy Mường ở đây được xem làkhác biệt so với bộ váy Mường ở nơi khác như ở Thanh Hóa hay Phú Thọ, ngay

cả bộ váy Mường của người Mường giáp biên giới Thanh Hóa và Lào cũng đãthấy sự khác biệt, bởi cạp váy của họ bị ảnh hưởng của văn hóa Thái

-Thắt lưng: Thắt lưng là băng vải có chức năng giữ cho cạp váy quấn vào

cơ thể của người mặc, thắt lưng truyền thống của người phụ nữ Mường thườnglàm bằng vải tơ tằm Thắt lưng của người Mường ở Xuân Phú có hai chiếc đượcgọi là dây tênh, một dây tênh trắng và một dây tênh xanh đó là sự khác biệt đốivới người Mường ở các nơi khác.Bên cạnh đó phục nữ Mường còn đeo thêm cáirón,cái rỏ ở bên hông do chính họ làm ra.Trong rón có một con dai và một chiếckhăn mùi xoa nhưng chỉ khi con gái về nhà chồng mẹ mới giao cho,cán daođược làm bằng báng sừng hươu có bịt bằng bạc.Con dao thường được gọi là vật

Trang 11

kỉ niệm thiêng liêng nhất và luôn gắn với bàn tay người con gái được ví như tìnhmẫu tử không bao giờ lìa xa,ngay cả khi mang thai,sinh đẻ.

- Đồ trang sức: Đa số phụ nữ đều đeo hoa tai, khi chưa lấy chồng các cô

gái đeo hoa tai do bố mẹ cho, lấy chồng thì đeo hoa tai do bố mẹ chồng muatặng Từ khi sinh ra được 10 ngày các bà mẹ đã bấm lỗ tai cho con gái, từ 7-10tuổi thì đeo

- Trang phục truyền thống của nam giới

Trang phục truyền thống của nam giới Mường thì đơn giản hơn chỉ cókhăn, áo và quần, không chỉ phụ nữ mà nam giới Mường cũng có khăn, thắtkhăn, đội khăn Tuy nhiên khăn của nam giới không thêu hoa văn giống của nữgiới mà chỉ là một miếng vải đen màu chàm, khăn của nam giới thường có mộtmàu, dài hơn 1m Đàn ông Mường thường quấn khăn trên đầu khi đi xa hoặc khi

đi làm nương,trong các dịp hội hè, lễ tết Khăn của nam giới cũng giống của nữgiới có tác dụng che nắng, mưa, tránh rét

-Áo cánh: Được khâu kiểu 4 thân, may từ chất liệu bông hay lụa tơ tằm,

thường là màu nâu hoặc tối Vạt áo dài gần chấm mông, hai bên hông xẻ tà, áođơm khuy, cài cúc Áo thường được may có túi nhỏ ở trên ngực, hai túi to ở phíatrước hai vạt áo, toát lên vẻ đẹp mạnh mẽ và khỏe khắn của các chàng traiMường

-Quần vải: Được may rộng, dài tới mắt cá chân, cạp quần được may to Khi

mặc họ thường lấy dây vải buộc chặt lại dây vải này được xem là chiếc thắtlưng, hiện nay được thay bằng dải rút có thuận lợi hơn

Có thể thấy cùng với việ sử dụng chất liệu vải, thường là vải bông tựtrồng và bằng tơ tằm, cùng với quá trình cắt may hết sức bình thường, thủ côngđơn giản tạo nên trang phục nam của người Mường mang dáng dấp khỏe khoắn

và mạnh mẽ Tạo nét khác biệt và một phong cách riêng trong trang phục namgiữa các thành phần dân tộc khác

Trong quá trình phát triển của lịch sử, quá trình giao lưu văn hóa giữacác dân tộc có những nét thay đổi, trang phục nam không còn giữ được nét

Trang 12

truyền thống, hiện nay nam giới Mường không còn mặc chiếc quần truyền thốngnữa Tuy nhiên vẫn có người mặc quần áo truyền thống trong các dịp lễ tết.1.4.2. Đặc điểm văn hóa tinh thần

1.4.2.1. Tôn giáo, tín ngưỡng

Người Mường ở Xuân Phú theo quan niệm vạn vật hữu linh Chính vì vậy

mà họ cầu cúng tất cả các loại thần thánh, ma quỷ, một khi cảm thấy cần thiết

Họ cho rằng con người chết đi cũng biến thành ma, và ma tổ tiên có thể phù hộđược con cháu Vì thế thơ cúng tổ tiên (thờ hùy, chiềng thờ, thổm thắm,…) cótầm quan trọng số một trong đời sống tâm linh của họ Ngoài việc thờ cúng tổtiên dòng bố (bố mẹ, ông bà nội, các cụ nội, các kỵ nội/ bác mạng, pố tá-mệ tá,

pố mệ hượn), người Mường còn thờ cúng cả tổ tiên bên vợ (pố mộng, mộnghạm,…).Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện ngay tại bàn thờ ở (voong tong)

trong nhà Đối với người Mường Xuân Phú, ngày giỗ là ngày chôn cất, chứ

không phải là ngày người thân qua đời Tuy thế việc cúng bái tổ tiên của họ chỉdiễn ra vào ngày lễ tết cổ truyền, các dịp gia đình tiến hành các nghi lễ thuộcchu kỳ vòng đời cho các thành viên, hoặc khi dựng nhà mới Lễ vật cúng tổ tiêncủa họ thường chỉ là cơm nếp đồ, cá nướng, canh và thit luộc Ngoài việc thờcúng tổ tiên, họ còn có tục: thờ đá, cúng bí đỏ (lễ lên nhà mới), thờ cây si (churồng), thờ mó nước, thờ vật tổ dòng họ (Tô tem), thờ thổ công, ông Tùng, ôngKeo Heng, Ải Lý, Ải Lo, ông Chàng Vàng,…)

1.4.2.2. Lễ hội

Lễ hội là một trong những nét văn hóa tiêu biểu của người Mường Cónhiều lễ hội diễn ra trong năm, mà chủ yếu tập trung vào tháng giêng Và đángchú nhất là các lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp, và mang ý nghĩa cầumùa Những nghi thức cầu mùa đó đều thể hiện một cách sinh động bởi tín

ngưỡng phồn thực Lễ hội của người Mương tiêu biểu là Tết nguyên Đán, lễ hội

sắc bùa, lễ hội xuống đồng, lễ hội cơm mới

1.4.2.3. Văn học nghệ thuật dân gian

Trang 13

Người Mường ở xã Xuân Phú có kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian kháphong phú Đáng chú ý nhất phải kể tới các truyền thuyết về Ông Tùng, Sự tíchchim páng pang pỏi pỏi, Sử tích ve sầu, Nàng Nga Hai Mối, Con côi, Đẻ đất Đẻnước…Đó là những tài liệu có giá trị lớn giúp hiểu được phần nào về vũ trụquan, nhân sinh quan, lịch sử của người Mường ở xã Xuân Phú Đặc biệt hơn,

Sách Đoi của họ làm bằng 12 mảnh tre, trên đó khắc vạch, đánh dấu tiết thời,

hoặc những hiện tượng thời tiết đặc biệt

Múa dân gian của người Mường Xuân Phú khá đặc biệt, trong đó các điệu

múa đã ăn sâu vào phong cách sống của họ phải kể tới: múa cờ, múa quạt ma,

múa dâng lễ vật, múa mặt nạ (trong các đám tang) Biểu diễn cồng chiêng là

hoạt động biểu diễn dân gian đặc biệt của họ Cồng chiêng được diễn tấu trong

các đám rước (đón dâu, rước cơm mới, rước thần nước…), trong các cuộc lễ, hội

hè, đình đám Đặc biết nhất là chiêng sắc bùa, chiêng đám cưới, chiêng tang lễ,

chiêng đi săn, Trò chơi dân gian người Mường ở xã Xuân Phú khá nhiều Đó là:

Đánh căl (đánh gậy), đánh chó (đẩy bưởi vào lỗ), đánh mảng (chơi nhảy cò),

Trang 14

Những món ăn của người Mường chủ yếu là khai thác tự nhiên và chănnuôi Với các sản vật mà thiên nhiên mang lại như rau rừng, măng rừng, đánhbắt cá ở sông suối, săn bắt động vật….

Cách chế biến món ăn của người Mường khá đa dạng nhưng chủ yếu sửdụng cách chế biến các món đồ và xào Người Mường thích ăn các món ăn cókhậu vị chua Có lẽ do điều kiện khí hậu nóng ẩm qui định, những thức ăn dễchuyển hóa hơn, dễ ăn và cũng ngon miệng hơn, chẳng hạn các món cá muối củkiệu và quả cà dại; rau cải muối dưa, đu đủ muối dưa ép; rau sắn muối dưa nấucá…

Đồ ăn chế biến từ các loại thịt của người Mường xã Xuân Phú tương đối

phong phú Chế biến từ lợn có: giò lụa làm bằng thịt nạc, giò đầu (trlốc) làm bằng thịt thủ, giò chân (gio bỏi) làm bằng thịt nạc ở chân lợn, chả lá bưởi, chả

sườn, mọc đồ, mọc luộc Chế biến từ thịt gà có: gà luộc, gà nấu gừng, gà nấumăng chua Chế biến từ thịt trâu có: trâu xào tiêu rừng, thịt trâu nấu lá lồm Chế biến từ các loại thủy sản có: cá rán, cá nướng, cá đồ, ếch nấu măng chua,băm viên gói lá lốt và rán

Người Mường không chỉ coi ăn uống là việc nuôi sống bản thân mà còn lànhững giá trị văn hóa cần được giữ gìn và phát huy

2.2 Những món ăn trong ngày Tết của người Mường

Tết Nguyên Đán là những ngày quan trọng nhất trong năm, là ngày mà đấttrời chuyển giao năm cũ sang năm mới Vì vậy gia đình nào cũng dọn dẹp nhàcửa sạch sẽ và có tập quán là dựng cây nêu ở ngoài cổng Theo phong tục, ngườiMường không ăn tết Ông Công, Ông Táo mà sắm Tết bắt đầu từ 27 tết, trong dịptết đồng bào sẽ chuẩn bị các nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu là khai thác ởrừng và nhà tự sản xuất lấy để phục vụ cho ngày Tết cổ truyền

Đại diện gia đình đi mời các bác, các chú, anh em tổ tiên, họ hàng, xómgiềng đến tham dự và cùng chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc Trướckhi ăn con cháu phải xếp hàng ngay phía dưới lấy kính các tuổi các cụ, ông bà,cha mẹ Người già đứng lên trên cảm ơn con cháu và chúc con cháu sang nămmới khẻo mạnh, làm ăn phát đạt Tiếp đó người ta mời nhau rựa tay trong chậu

Trang 15

nước được con cháu đặt sẵn ở phía ngoài cửa, rồi ngồi vào mâm cố theo thứ tựphụ nữ ngồi với nhau ở mâm trong, còn nam giới ngồi mâm phía ngoài, trẻ conthì ngồi với nhau ở những mâm giữa hoặc phía dưới.

Theo tập quán thì vào dịp tết cổ truyền, mỗi gia đình người Mường phải cómột mâm cơm mặn cúng tổ tiên bắt đầu vào sáng mùng một tết Cỗ dâng cúngphải được soạn đầy đủ các món là bánh chưng, bánh uôi, thịt lợn luộc, thịt gàluộc để cả con, xôi nếp đồ, rượu chai, một bát nước lã, tăm, trầu, cau, nước mắt

ớt, muối rồi bưng lên đặt vào vị trí định sẵn trên bàn thờ Bàn thờ tổ tiên đượcđặt ba mâm: mâm ngoài cùng thờ bố mẹ, mâm thứ hai ở giữa thờ ông bà, mâmthứ ba thờ các cụ kỵ ở trong cùng Ở mâm thờ các cụ kỵ thì cơm không đongbằng bát, đũa không tính bằng đôi mà được nắm bằng một nắm thật to, đũa đểđược hàng chục đôi Điều này biểu thị mâm đó thờ rất nhiều các cụ tổ tiên màcon cháu không thể nhớ hết

2.2.1 Những món được chế biến từ gạo

2.2.1.1 Bánh chưng

Bánh chưng là lễ vật không thể thiếu trong ngày tết Nguyên Đán, đó là món

ăn trang trọng nhất, cao quý nhất thể hiện lòng tưởng nhớ, biết ơn của con cháuđối với vua Lang của dân tộc Mường Gia đình nào cúng bao nhiêu người thìlàm bao nhiêu cái bánh chưng

- Nguyên liệu chế biến

Gạo nếp: thường dùng loại gạo thu hoạch vụ mùa Gạo vụ này thường hạt

to, tròn, dẻo, đều hơn các vụ khác

Đỗ xanh: đỗ thường được lựa chọn rất công phu, đỗ phải mẩy và màu vàngtươi, có mùi thơm

Hạt tiêu rừng : là loại có gia vị cay, mùi thơm

Thịt : thường là thịt lợn , và loại thịt dùng để gói là thịt ba chỉ

Lá để gói bánh : thường là lá dong tươi Lá dong chọ lá dong rừng bánh tẻ,

to bản, đều nhau, không bị rách , màu xanh mướt

Lạt buộc : Bánh Chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giangchẻ mảnh Lạt có thể được ngâm với nước muối hay hấp mềm để gói bánh

Trang 16

- Quy trình gói bánh

Lá dong được rửa từng lá thật sạch hai mặt và lâu thật khô Rửa càng sạchbánh càng đỡ mốc về sau Trước khi gói, lá dong được người ta gói bánh dùngdao bài mài thật sắc (loại dao nhỏ chuyên để gọt) cắt lột bỏ bớt cuống dọc sốnglưng lá để bớt cứng để ráo nước (nếu lá quá già có thể hấp một chút cho lá mềm

dễ gói)

Gạo nếp: nhặt bỏ hết những hạt khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo trongnước cùng 0,3% muối trong khoảng thời gian 12-14 tiếng tùy loại gạo và tùythời tiết sau đố vớt ra để ráo Có thể xóc với muối sau khi ngâm gạo thay vìngâm nước muối

Đỗ xanh: giã nhuyễn ngâm nước ấm 40° trong 2 tiếng cho mềm và nở, đãi

đổ lên trên và phủ kín hết thịt và đỗ xanh Gấp đồng thời hai lá dong lớp trênvào, vừa gấp vừa vỗ nhẹ để tạo hình khối vuông, gấp tiếp đồng thời hai lá dong

ở lớp dưới vào như lớp trên, vừa gấp vừa lén chặt nhẹ tay Dùng lạt buộc xoắnlại tạo hình chữ thập Hai bánh chưng buộc úp vào nhau thành một cặp

- Với cách gói có khuôn các giai đoạn được tiến hành như trên Tuy nhiên, người

ta cắt tỉa bớt lá dong cho vừa kích thước khuôn và đặt trước các lớp lá xen kẽnhau vào trong khuôn (3 hoăc 4 lá, nếu gói 4 lá sẽ vuông và đẹp hơn Khi đóthường thì 2 lá xanh quay ra ngoài xếp tại hai góc đối xứng nhau, và hai lá xanh

Trang 17

quay vào trong để tạo mù cho bánh), sau khi đã cho nhân vào trong, các lớp lálần lượt được gập lại và sau đó được buộc lạt.

Cách gói bánh có khuôn thì bánh đều nhau hơn và chắc hơn do được vỗđều gạo, nén chặt còn gói không khuôn được gói nhanh hơn do đỡ mất công đocắt lá theo kích thước khuôn

- Luộc bánh

Khi luộc cần lấy nồi to tùy theo số lượng bánh được gói, rải cuộng lá dongthừa xuống đáy nhằm mục đích tránh bánh bị cháy Xếp lần lượt từng lớp bánhđến đầy xoong và xen kẽ các cuộng lá thừa cho kín rồi đổ ngập nước nồi và đậyvung đun Người nấu bánh phải canh giờ tính từ thời điểm nước sôi trong nồi vàduy trì nước sôi liên tục trong 10 đến 12 giờ, trong quá trình đun phải bổ sungnước để đảm bảo nước luôn ngập bánh

Khi luộc bánh xong vớt ra rửa lá dong trong nước lạnh cho hết nhựa để ráo.Sau đó được treo lên chỗ khô ráo trong nhà để bảo quản

Bánh Chưng được dùng trong thờ cúng tổ tiên, đây là lễ vật quan trọng nhấtnhằm bày tỏ tình cảm chân thành của gia đình mình với tổ tiên

2.2.1.2 Món cơm nếp đồ

Cơm nếp đồ là món ăn truyền thống của người Mường Người Mường cócâu rằng: “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” có thể thấyrằng món cơm nếp đồ gắn bó với người Mường như thế nào Đó không đơnthuần là một món ăn mà là lễ vật dâng cúng tổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên phải

để trong một cái đĩa to để cầu mong tổ tiên phù hộ cho năm tới mưa thuận gióhòa để được mùa tốt tươi

- Nguyên liệu chế biến

Nguyên liệu chế biến boa gồm gạo nếp: gạo nếp nương là giống lúa nếpcái.Giống lúa này hạt gạo nhỏ, tròn và được trồng vào vụ mùa

Ngày đăng: 01/02/2020, 23:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bẩy (2004), Văn hóa ẩm thực vùng cao phía Bắc, Tạp chí dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực vùng cao phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Bẩy
Năm: 2004
2. Trần Bình (2001), Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây BắcViệt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
3. Trần Bình (2014), Các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2014
4. Ma Ngọc Dung (2001), Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Thái Nguyên, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Thái Nguyên
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Nhà XB: NxbKHXH
Năm: 2001
5. Cao Sơn Hải (2013), Lễ tục vòng đời người Mường – Điều tra khảo sát hồi cố ở vùng Mường (Thanh Hóa), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục vòng đời người Mường – Điều tra khảo sát hồi cố ởvùng Mường (Thanh Hóa)
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
6. Trần Quốc Vượng (1996), Đôi điều về văn hóa Mường, Dân tộc và thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về văn hóa Mường
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1996
7. Trần Quốc Vương (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vương
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w