1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại

12 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 469,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm định sức chịu đựng rủi ro- Stress test (ST) ngày càng được quan tâm từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhưng thực tế ST đã được các ngân hàng quốc tế sử dụng từ những năm 1990. Nội dung chi tiết của ST trong ngân hàng rất đa dạng phụ thuộc vào từng nền kinh tế và các nhà điều hành chính sách, nhưng về cơ bản, chúng thường dùng để kiểm tra tình hình hoạt động các ngân hàng khi môi trường kinh tế có những diễn biến bất lợi bao gồm cả yếu tố vĩ mô, tài sản- nợ và các hoạt động ngoại bảng. ST được thiết kế không chỉ để hiểu được các rủi ro của ngân hàng mà còn chắc chắn rằng ngân hàng sẽ chuẩn bị tốt lượng vốn cần thiết khi đối mặt với các tình huống bất lợi nhằm làm giảm tổn thất tiềm tàng. ST rủi ro thị trường (RRTT) là một cấu phần quan trọng trong ST, bao gồm cả ST nội bộ được thực hiện bởi ngân hàng hay ST được thực hiện bởi các nhà điều hành chính sách tài chính. Trong suốt cuộc khủng hoảng 2007-2009, tổn thất lớn nhất thường được phát hiện trong danh mục nhạy cảm với lãi suất thị trường. ST RRTT được thực hiện cho danh mục trong sổ kinh doanh của ngân hàng, bằng cách sử dụng các kịch bản có thể xảy ra cho các yếu tố RRTT. Bài viết này sẽ giới thiệu nội dung cơ bản về ST và các nguyên tắc của Ủy Ban Basel liên quan đến phương pháp ST tại ngân hàng, nhấn mạnh đến phương pháp luận về quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng.

Trang 1

rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại

Nguyễn Thị Diễm Hương

Học viện Ngân hàng

Ngày nhận: 15/05/2019 Ngày nhận bản sửa: 10/06/2019 Ngày duyệt đăng: 17/06/2019

Kiểm định sức chịu đựng rủi ro- Stress test (ST) ngày càng được quan tâm

từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhưng thực tế ST đã được

các ngân hàng quốc tế sử dụng từ những năm 1990 Nội dung chi tiết của

ST trong ngân hàng rất đa dạng phụ thuộc vào từng nền kinh tế và các nhà

điều hành chính sách, nhưng về cơ bản, chúng thường dùng để kiểm tra tình

hình hoạt động các ngân hàng khi môi trường kinh tế có những diễn biến

bất lợi bao gồm cả yếu tố vĩ mô, tài sản- nợ và các hoạt động ngoại bảng

ST được thiết kế không chỉ để hiểu được các rủi ro của ngân hàng mà còn

chắc chắn rằng ngân hàng sẽ chuẩn bị tốt lượng vốn cần thiết khi đối mặt

với các tình huống bất lợi nhằm làm giảm tổn thất tiềm tàng ST rủi ro thị

trường (RRTT) là một cấu phần quan trọng trong ST, bao gồm cả ST nội

bộ được thực hiện bởi ngân hàng hay ST được thực hiện bởi các nhà điều

hành chính sách tài chính Trong suốt cuộc khủng hoảng 2007-2009, tổn

thất lớn nhất thường được phát hiện trong danh mục nhạy cảm với lãi suất

thị trường ST RRTT được thực hiện cho danh mục trong sổ kinh doanh

Market risk stress testing Methodology

Abstract: Stress test has received increased attention from financial institutions, regulations and experts since

financial crisis 2008 In reality, Stress test has been actively adopted by international banks since the 1990s ST processes are varied among banks depending on economy background and supervisors but they are often applied to test the performance of banks in the downturn of the economy through macro factors, assets- liabilities and off-balance sheet items Stress test is designed not only to understand bank’s risk profile but also to ensure that banks have adequate capital to reduce potential losses in adverse scenarios Market risk stress test is an important component of stress test including internal stresstest in banks and macro stress test excuted by supervisors During the 2008 financial crisis, the significant losses were often found in the portfolio which were sensitive to market interest rates Market risk stress test is applied for porfolios in the trading book, using possible scenarios of market risk factors This paper describes the basics of stress test and Basel Commitees principles to design and governance stress test in banks In additional, it emphasizes the methodology of market risk tress test in banks.

Keywords: market risk, stress test, market risk stress test.

Huong Thi Diem Nguyen, MEc.

Email: huongnt@hvnh.edu.vn

Banking Academy of Vietnam

Trang 2

của ngân hàng, bằng cách sử dụng các kịch bản có thể xảy ra cho các yếu

tố RRTT Bài viết này sẽ giới thiệu nội dung cơ bản về ST và các nguyên

tắc của Ủy Ban Basel liên quan đến phương pháp ST tại ngân hàng, nhấn

mạnh đến phương pháp luận về quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro

thị trường tại ngân hàng.

Từ khóa: Rủi ro thị trường, kiểm tra sức chịu đựng, kiểm định sức chịu

1 Giới thiệu về kiểm định sức chịu

đựng rủi ro và rủi ro thị trường

1.1 Khái niệm kiểm định sức chịu đựng

rủi ro (ST)

Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel

(Basel Comitee on Banking Supervision-

BCBS,1999) cho rằng, các tình huống

bất lợi cần phải bao hàm các yếu tố có

thể tạo ra các tổn thất hoặc thu nhập bất

thường trong danh mục kinh doanh của

ngân hàng thương mại (NHTM) và chúng

sẽ cung cấp các thông tin về tác động của

tình huống này lên các trạng thái của ngân

hàng BCBS (1999) cũng đề xuất các chỉ

tiêu định tính và định lượng để nhận biết

các tình huống căng thẳng có thể xảy ra

Những chỉ tiêu này nên nhấn mạnh vào hai

mục tiêu chính của ST là nhằm đánh giá

lượng vốn cần thiết của ngân hàng để hấp

thụ các tổn thất lớn tiềm tàng và để nhận

biết các bước mà ngân hàng cần phải thực

hiện để giảm thiểu rủi ro và bảo toàn vốn

Berkowitz (1999) cho rằng ST là lựa chọn

các tình huống bất lợi và hiếm, sau đó, đưa

các tình huống này vào mô hình định giá

Như vậy, việc lựa chọn các tình huống ST

phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của chuyên

gia, điều này khiến cho các nhà điều hành

chính sách gặp nhiều khó khăn trong việc

kiểm tra lại chương trình ST của ngân

hàng

BCBS (2009) mô tả ST là tập hợp các kỹ thuật khác nhau được sử dụng bởi các tổ chức tài chính nhằm đo lường những tổn thương tiềm ẩn dưới những sự kiện ngoại

lệ, bất thường (extreme & exceptional) nhưng có thể xảy ra (plausible) Kết quả của Stress test thường đánh giá sự thay đổi của (1) các chỉ số tài chính về vốn, mức

độ tổn thất (solvency stress test), hoặc (2) các tỷ lệ an toàn về thanh khoản (liquidity stress test) Nói một cách khác, ST giúp cơ quan quản lý và các tổ chức tài chính chủ động đối phó những tình huống xấu nhất

có thể ST được sử dụng như một công cụ

bổ sung và hoàn thiện cho các mô hình thống kê truyền thống như Value at risk (Var) trong quản lý rủi ro

Tóm lại, ST là các kỹ thuật nhằm đo lường

sự nhạy cảm của danh mục hoặc của hệ thống trước các cú sốc cực độ nhưng có khả năng xảy ra Hiểu một cách đơn giản,

ST ước lượng giá trị một danh mục thay đổi như thế nào dưới sự thay đổi lớn của một hoặc nhiều yếu tố rủi ro

1.2 Các nguyên tắc của Basel liên quan đến hoạt động ST tại NHTM

Theo BCBS (2009), cuộc khủng hoảng tài chính đã bộc lộ các tồn tại trong thực tiễn triển khai ST trước khi bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu khủng hoảng trên bốn khía cạnh:

Trang 3

(i) Áp dụng ST và kết hợp ST trong quản

trị rủi ro: các NHTM thường thực hiện ST

một cách độc lập và không liên quan đến

các lĩnh vực kinh doanh chính, vì vậy các

cấp quản lý các lĩnh vực kinh doanh này

không nhận thấy ST hữu ích đối với họ

Thêm vào đó, ST chủ yếu được thực hiện

bởi các đơn vị độc lập tập trung vào từng

dòng sản phẩm kinh doanh hoặc từng rủi

ro cụ thể Chính vì vậy, chúng tạo ra rào

cản tổ chức khi kết hợp các kết quả ST

định tính và định lượng trong NH

(ii) Phương pháp luận ST: Trong một thời

gian dài ổn định, các thông tin quá khứ thể

hiện các điều kiện khá bình ổn nên các mô

hình ST không thể hiện được các cú sốc

nghiêm trọng tiềm tàng cũng như không

tạo ra các tổn thương trong hệ thống

(iii) Lựa chọn kịch bản: Các kịch bản lịch

sử thường được triển khai dựa trên các sự

kiện thị trường nghiêm trọng trong quá

khứ ST không thể bao hàm các rủi ro của

các sản phẩm trong khi chúng là trung tâm

của cuộc khủng hoảng Đối với các kịch

bản giả định, NHTM thường chỉ áp dụng

các kịch bản nghiêm trọng vừa phải vì các

kịch bản cực độ thường được xem là khó

xảy ra trong thực tế

(iv) ST cho từng rủi ro và sản phẩm cụ

thể: Các rủi ro cụ thể không được đề cập

đến trong nội dung của hầu hết các ST là:

rủi ro liên quan đến các sản phẩm cấu trúc

phức tạp dưới các điều kiện thanh khoản

căng thẳng, rủi ro cơ bản liên quan đến

chiến lược phòng ngừa rủi ro, rủi ro chứng

khoán, rủi ro lan truyền và rủi ro thanh

khoản tài trợ vốn

Ủy ban Basel đã nhận ra tầm quan trọng

của ST như một cấu phần của quản lý rủi

ro nên cần phải được tăng cường cả về

mức độ chi tiết và phạm vi rủi ro được xem xét Một số ngân hàng đã bắt đầu giải quyết các vấn đề và các tồn tại của ST cho các rủi ro đã được xác định ở trên Ủy ban Basel cũng đã ban hành các nguyên tắc triển khai và giám sát ST hiệu quả với mức độ áp dụng cần phải phù hợp với quy

mô và mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và mức độ tổng quát của rủi ro NHTM có thể chấp nhận được Bản đề xuất các nguyên tắc triển khai và giám sát ST hiệu quả gồm

21 nguyên tắc tương đương với 4 phần: Nguyên tắc 1-6 đề cập đến việc áp dụng

và cần phải kết hợp ST trong quản trị rủi ro; nguyên tắc 7-10 là về phương pháp ST

và lựa chọn kịch bản; nguyên tắc 11-15 là các lĩnh vực đặc biệt cần phải tập trung;

và cuối cùng nguyên tắc 16-21 là khuyến nghị cho cơ quan giám sát Như vậy, các nguyên tắc này sẽ góp phần giúp các NHTM triển khai ST hiệu quả hơn

1.3 Tổng quan rủi ro thị trường

Theo Saunders (2008), RRTT được định nghĩa là rủi ro liên quan đến sự biến động thu nhập của ngân hàng trong danh mục kinh doanh gây ra bởi giá của tài sản, lãi suất, biến động thị trường và thanh khoản của thị trường Chính vì vậy, những rủi ro như rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến RRTT Tuy nhiên RRTT nhấn mạnh đến những rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh các tài sản, nợ và phái sinh hơn là việc nắm giữ chúng nhằm đầu tư dài hạn, tạo vốn hoặc mục đích phòng ngừa rủi ro

Định nghĩa RRTT lần đầu tiên được Ủy ban Basel đề cập trong Bản sửa đổi Hiệp ước vốn nhằm kết hợp rủi ro thị trường năm 1996 Trong văn bản này, RRTT được tổng quát là rủi ro liên quan đến

Trang 4

những tổn thất của trạng thái nội và ngoại

bảng cân đối gây ra bởi những biến động

trong giá cả thị trường, bao gồm: (a)

Những rủi ro gắn liền với những công cụ

lãi suất và cổ phiếu trong sổ kinh doanh;

(b) Rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa trong

ngân hàng Có thể thấy RRTT xuất phát

từ tất cả các trạng thái trong sổ kinh doanh

của ngân hàng và từ rủi ro hàng hóa và rủi

ro tỷ giá trong bảng cân đối kế toán của

ngân hàng

BCBS (2016) đã sửa đổi và bổ sung định

nghĩa về RRTT như sau: “RRTT là rủi ro

liên quan đến những tổn thất gây ra bởi sự

biến động trong giá cả thị trường Những

rủi ro này bao gồm nhưng không bị giới

hạn bởi: (a) Rủi ro vỡ nợ, rủi ro lãi suất,

rủi ro chênh lệch tín dụng (credit spread

risk), rủi ro cổ phiếu, rủi ro tỷ giá và rủi

ro hàng hóa trong sổ kinh doanh; (b) Rủi

ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa trong sổ ngân

hàng” Như vậy, Ủy ban Basel đã bổ sung

thêm rủi ro vỡ nợ và rủi ro chênh lệch tín

dụng trong sổ kinh doanh vào định nghĩa

RRTT Điều này được giải thích là do

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng

nổ năm 2007 cho thấy khung vốn trước

đó cho RRTT chưa bao hàm một số rủi ro

quan trọng trong sổ kinh doanh ngân hàng,

chính vì vậy, đã góp phần gây ra những

tổn thất và đòn bẩy tài chính tăng cao cho

ngân hàng (BCBS, 2010)

Tóm lại, RRTT bao gồm các rủi ro tổn thất

tài chính phát sinh bởi sự biến động bất lợi

của lãi suất, tỷ giá, giá cả thị trường của

chứng khoán và hàng hóa và các tham số

có liên quan như khả năng vỡ nợ và rủi ro

chênh lệch tín dụng Rủi ro thị trường bao

gồm bốn loại rủi ro chính: Rủi ro lãi suất,

rủi ro tỷ giá, rủi ro trạng thái cổ phiếu và

rủi ro hàng hóa

2 Quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường

2.1 Khái niệm kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường và so sánh với kiểm định sức chịu đựng rủi ro tín dụng

Khái niệm ST RRTT: Đánh giá sức chịu

đựng RRTT là kỹ thuật kiểm tra tính ổn định, khả năng chịu đựng của tổ chức tài chính trước những biến động của thị trường Theo Ngân hàng Thanh toán quốc

tế (BIS, 2001), những biến động của thị trường có thể ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của các tổ chức tài chính, các ngân hàng là những yếu tố như: lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, giá hàng hóa…

So sánh ST RRTT và ST rủi ro tín dụng:

Hiện nay, hầu hết các tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về ST có xu hướng

đề cập nhiều đến ST rủi ro tín dụng vì rủi

ro tín dụng gây ra tổn thất khá lớn cho các NHTM, trong khi đó các nghiên cứu về

ST RRTT chưa có nhiều mặc dù RRTT đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng tại các NHTM và là yêu cầu bắt buộc nếu triển khai Basel II Tuy nhiên,

ST rủi ro tín dụng và ST RRTT vẫn tồn tại những khác biệt cơ bản về phương pháp

ST

ST RRTT và rủi ro tín dụng có chung mục đích cuối cùng là ước lượng sự tác động của các kịch bản nghiêm trọng nhưng có khả năng xảy ra lên giá trị của các danh mục ngân hàng ST RRTT thường được hiểu là ST sổ kinh doanh ngân hàng So với sổ ngân hàng, sổ kinh doanh có nhiều công cụ với trạng thái đa dạng và các yếu

tố rủi ro Hơn nữa, các tổn thất hạch toán theo giá thị trường cho sổ kinh doanh thường được đo lường vào một thời gian nhất định Cụ thể, các trạng thái phái sinh

Trang 5

là kết quả của hoạt động ngoại bảng của

các tổ chức tài chính thường là nội dung

trọng tâm của ST RRTT Các phương

pháp đo lường rủi ro như Var, là công cụ

chủ yếu nhằm đo lường lượng vốn rủi ro

cũng như tính toán vốn pháp lý cho các

hoạt động đó Basel 2.5 cũng đã giới thiệu

khái niệm “Stress Var”

Ngược lại, ST rủi ro tín dụng được thực

hiện chủ yếu cho danh mục trong sổ ngân

hàng, bao gồm các danh mục nợ, chứng

khoán hoặc các trạng thái được nắm giữ

để đầu tư cũng như đầu tư vốn trực tiếp

Kết quả của ST cho rủi ro tín dụng thường

là tính toán tổn thất trong một khoảng

thời gian nhất định dựa trên tác động của

sự thay đổi xếp hạng, xác suất vỡ nợ và

tổn thất ước tính Việc lựa chọn các kịch

bản cho ST rủi ro tín dụng đa dạng hơn

vì các thành phần trong danh mục có thể

chịu tác động của các điều kiện thị trường

khác nhau Tuy nhiên, các trạng thái sổ

kinh doanh cũng chịu tác động của rủi ro

tín dụng nếu các yếu tố rủi ro bao gồm cả

chênh lệch tín dụng (credit spread) Hơn

nữa, cả trạng thái sổ kinh doanh và sổ

ngân hàng đều chịu tác động của rủi ro đối

tác cho các giao dịch tài chính phái sinh

hoặc chứng khoán

Một sự khác biệt nữa giữa hai loại rủi ro

này xuất phát từ rủi ro thanh khoản Sự

thay đổi trong thanh khoản có thể có tác

động ngay lập tức và nghiêm trọng đến

giá trị của trạng thái sổ kinh doanh Cuộc

khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhấn

mạnh tác động nghiêm trọng của thanh

khoản mà trước đó chưa được chú ý nhiều

trong ST trước khi cuộc khủng hoảng xảy

ra Trong khi các ngân hàng, cơ quan quản

lý và các nhà nghiên cứu đã nhận ra tầm

quan trọng của quản lý rủi ro thanh khoản,

việc kết hợp rủi ro thanh khoản vào ST

được cho là không đơn giản

2.2 Quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường

Như đã nói ở trên, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ST tại NHTM thường có xu hướng tập trung vào phương pháp, quy trình rủi ro tín dụng, ít có các nghiên cứu tập trung vào ST RRTT

Markovic (2011) và Akhatar (2013) là một trong số ít các nghiên cứu tập trung vào phương pháp luận ST RRTT Markovic (2011) tập trung vào quy trình ST RRTT tại các tổ chức tài chính quốc tế với danh mục khá phức tạp, quy trình do Markovic

đề xuất gồm 7 bước bao gồm xác định phạm vi và hình thức ST, lựa chọn nhóm tài sản, xác định khoảng thời gian cho ST, lựa chọn yếu tố rủi ro, chuẩn bị dữ liệu, xây dựng cú sốc thị trường và áp dụng cú sốc thị trường và tính toán lãi lỗ của danh mục Tuy nhiên, nghiên cứu của Markovic cũng đề cập đến yếu tố rủi ro tín dụng

và rủi ro thanh khoản là những yếu tố

có thể gây ra tác động lớn đến danh mục

sổ kinh doanh của các tổ chức tài chính quốc tế nên nội dung quy trình khá phức tạp Trong khi đó, Akhatar (2013) chỉ tập trung vào một số bước của ST RRTT như thiết kế kịch bản, đánh giá và tính toán lãi

lỗ của các danh mục trong bối cảnh căng thẳng Bài viết sẽ hệ thống lại quy trình

ST RRTT dựa trên các nghiên cứu có liên quan Bài viết sẽ hệ thống lại quy trình

ST RRTT gồm 7 bước dựa trên việc tổng quan nghiên cứu của Markovic (2011), Akhatar (2013) và các quy định của BCBS (2009) về ST

2.2.1 Xác định phạm vi và loại hình ST

Bước đầu tiên để phát triển ST là xác định mục tiêu của ST, từ đó xác định loại hình

Trang 6

ST phù hợp vì mỗi loại ST phục vụ cho

một mục tiêu khác nhau Các bài kiểm tra

độ nhạy tập trung vào một yếu tố rủi ro

trong một thời điểm xác định và thường

sử dụng để đánh giá một danh mục được

phòng ngừa rủi ro như thế nào dưới các

biến động tiêu cực trong một yếu tố rủi ro

Các bài kiểm tra kịch bản tập trung vào

các thay đổi được xác định trước của một

nhóm các yếu tố rủi ro thông qua thiết lập

sự kiện hoặc kịch bản Các sự kiện này

khá đa dạng từ khủng hoảng thị trường

chứng khoán đến khủng hoảng nợ Mục

tiêu của các bài kiểm tra này để xác định

tác động tiềm ẩn của các sự kiện lên danh

mục

Thiết lập các giả định kịch bản có vẻ đơn

giản Tuy nhiên, trên thực tế, không phải

lúc nào cũng dễ dàng lường trước những

thay đổi trong điều kiện thị trường có liên

quan đến danh mục đầu tư Đó là lý do

tại sao các NHTM cần phải tiến hành các

thử nghiệm nhiều tình huống, bao gồm cả

các tình huống về sự cố thị trường nghiêm

trọng Các NHTM cũng có thể tìm thấy

một kịch bản xấu nhất, ví dụ như kịch bản

mà danh mục đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng

nề nhất Việc tạo ra một kịch bản xấu nhất

đòi hỏi phải phân tích các động thái trong

tất cả các yếu tố rủi ro liên quan, rõ ràng,

không phải là một vấn đề dễ dàng

Một cách để tạo ra một kịch bản toàn

diện là sao chép đầy đủ các động thái của

các yếu tố rủi ro của một sự kiện lịch sử

cụ thể Các kịch bản lịch sử như vậy có

thể bao gồm các sự kiện thị trường bất

lợi được biết đến rộng rãi Trong thực tế,

phổ biến nhất là cuộc khủng hoảng dầu

mỏ năm 1973/74, sự cố thị trường chứng

khoán vào Thứ Hai Đen 1987, cuộc khủng

hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, sự thất bại

của Quản lý vốn dài hạn (LTCM) và sự

vỡ nợ của Nga năm 1998, và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mới nhất gây ra là cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn vào năm 2008

Xác định phạm vi ST cũng là một vấn đề quan trọng Trong trường hợp đơn giản nhất, có thể thực hiện một bài ST trên một danh mục duy nhất; ví dụ, thị trường chứng khoán Anh Nếu mục tiêu là để ST một đơn vị kinh doanh như FICC (Fixed Income, Currency and Commodities unit- tài sản có thu nhập cố định, tiền tệ và hàng hóa), sẽ mất nhiều thời gian và công sức hơn để phát triển thử nghiệm Một bài ST toàn ngân hàng là đòi hỏi khắt khe nhất,

vì nó bao gồm tất cả các tài sản có thể bán được bởi một ngân hàng và liên quan đến

sự hợp tác chặt chẽ của các bộ phận khác nhau Lợi ích của một bài kiểm tra toàn ngân hàng là cung cấp cho ban quản lý (hoặc cơ quan quản lý) một cái nhìn tổng quan toàn diện về các rủi ro mà công ty

đã thực hiện Bằng cách tổng hợp các kết quả của ST RRTT toàn ngân hàng sẽ cho

ra một giá trị duy nhất cho các tổn thất

dự kiến nếu có thể xảy ra sự kiện bất lợi

Bên cạnh đó, nó cũng cho phép phân tích kết quả lãi/ lỗ trên một số khía cạnh quan trọng, từ đó xác định các tổn thương tiềm

ẩn của ngân hàng

2.2.2 Lựa chọn nhóm tài sản

Bước tiếp theo trong ST RRTT là phân chia danh mục đầu tư thành các nhóm tài sản phù hợp bao gồm các chứng khoán

có các yếu tố rủi ro tương tự Sự phân chia phụ thuộc vào loại danh mục đầu tư đang được ST Nếu nó chỉ chứa trái phiếu, chẳng hạn, nó có thể được chia nhỏ theo vùng xuất xứ, xếp hạng tín dụng của nhà phát hành, hoặc theo lĩnh vực kinh doanh của các tổ chức phát hành

Trang 7

Cách phổ biến để phân chia danh mục

đầu tư giao dịch của một NHTM là phân

chia vào các nhóm RRTT như: cổ phiếu,

ngoại hối, sản phẩm lãi suất, chênh lệch

tín dụng và hàng hóa Sự lựa chọn tương

ứng với sự phân chia thị trường điển hình

(và tương ứng với sự phân chia điển hình

trong các ngân hàng lớn nhất toàn cầu)

Điều quan trọng cần lưu ý là mỗi nhóm

trong số năm nhóm có thể được phân chia

nhỏ hơn thành các danh mục cấu phần phù

hợp

2.2.3 Lựa chọn các yếu tố rủi ro

Một trong những vấn đề khó khăn nhất

liên quan đến ST là tìm ra các yếu tố rủi

ro phù hợp nhất, tức là tập hợp các biến

số ảnh hưởng nhiều nhất đến giá trị của

danh mục đầu tư Trong việc lựa chọn các

yếu tố rủi ro, NHTM phải chấp nhận sự

đánh đổi giữa tính đầy đủ và khả năng vận

hành/ tốc độ thực hiện của mô hình ST

Chọn nhiều yếu tố rủi ro sẽ làm giảm nguy

cơ bỏ qua các rủi ro quan trọng Mặt khác,

việc giới thiệu quá nhiều yếu tố rủi ro có

thể khiến các bài ST trở nên quá phức tạp

và không thực tế Do đó, NHTM cần phải

lựa chọn những yếu tố rủi ro ảnh hưởng

nghiêm trọng đến giá trị của danh mục đầu

tư, đồng thời hạn chế các yếu tố rủi ro ở

mức có thể quản lý được

Việc xác định các yếu tố rủi ro phụ thuộc

vào từng danh mục đầu tư Đối với danh

mục đầu tư trái phiếu, các yếu tố rủi ro

liên quan có thể là lãi suất chuẩn hoặc xếp

hạng tín dụng Đối với cổ phiếu, hàng hóa,

phái sinh và sản phẩm FX, lợi nhuận trên

giá giao ngay thường được lựa chọn làm

yếu tố rủi ro

Khi các yếu tố rủi ro được chọn, các biến

động và mối tương quan của chúng cần

được dự báo Trong phương pháp tiêu chuẩn, độ biến động được xác định dựa trên một số ngày giao dịch nhất định trong quá khứ (giả sử 250), sử dụng trọng số bằng nhau cho mỗi quan sát Trong các phương pháp nâng cao hơn như EWMA hoặc GARCH (Markovic, 2011), thông tin thị trường mới hơn có trọng số khác (nhiều hơn) so với thông tin thị trường cũ

Ưu điểm của những phương pháp này là thông tin mới được sử dụng trong hệ thống ngay khi nó xuất hiện Trong thời kỳ căng thẳng tài chính, các phương pháp EWMA

và GARCH cung cấp dự báo biến động tốt hơn so với phương pháp tiêu chuẩn (Markovic, 2011) Ngoài ra, một phương pháp khác thường được sử dụng là phương pháp biến động hàm ý (Christoffersen, 2003)

Các yếu tố rủi ro khác của sản phẩm liên quan đến lãi suất là lãi suất và biến động của chúng đối với các kỳ hạn khác nhau

Số lượng kỳ hạn được sử dụng phụ thuộc vào độ chính xác mong muốn của bài ST Theo thông lệ, người ta thường sử dụng một vài kỳ hạn lãi suất ngắn hạn, một vài

kỳ hạn lãi suất trung hạn và một kỳ hạn dài hạn Nguyên nhân là các nhà đầu tư biết rằng lãi suất sẽ đảo ngược về giá trị trung bình và kỳ vọng chúng sẽ trở lại mức trung bình đó trong dài hạn

2.2.4 Lựa chọn dữ liệu

Thu thập dữ liệu hợp lệ để xây dựng các

cú sốc là một quá trình quan trọng nhưng phức tạp, bao gồm việc phân tích các

dữ liệu chuỗi thời gian khác nhau từ các nguồn dữ liệu khác nhau Dữ liệu chuỗi thời gian cần phải được khớp theo loại, kỳ hạn, đơn vị và tần suất Dữ liệu thu thập được thường có vấn đề nghiêm trọng về tính nhất quán của dữ liệu

Trang 8

Định giá theo giá thị trường là một trong

những khía cạnh quan trọng của đánh giá

rủi ro tài chính vì giá thị trường thể hiện

chính xác nhất giá trị của chứng khoán,

tức là giá mà tại đó chúng có thể được

mua hoặc bán trên thị trường tự do Ngay

cả khi giá theo mô hình đôi khi có thể là

đại diện tốt hơn cho giá trị nội tại, tuy

nhiên, một chứng khoán sẽ luôn được giao

dịch theo giá thị trường, không phải giá

mô hình Đây là lý do tại sao, bất cứ khi

nào có thể, dữ liệu giá nên được thu thập

trực tiếp từ thị trường Ngoài ra, dữ liệu

thị trường là cần thiết để hiệu chỉnh bất kỳ

mô hình nào, và từ đó có thể xác định giá

theo mô hình

Định giá theo mô hình cũng là cần thiết

trong quá trình ST vì có nhiều chứng

khoán không được giao dịch thường xuyên

trên thị trường và do đó không có giá thị

trường sẵn có Đối với một chứng khoán

không thường xuyên giao dịch, nên sử

dụng phương pháp định giá theo mô hình

Nếu mô hình định giá cho chứng khoán

được xác định rõ ràng và thể hiện được giá

trị gần đúng của chứng khoán, các kết quả

của ST sẽ hợp lý

2.2.5 Lựa chọn các kịch bản

Để thực hiện ST RRTT, các kịch bản

nghiêm trọng nhưng có thể xảy ra đã được

lựa chọn Việc lựa chọn các kịch bản do

đó vô cùng quan trọng nhưng khó tránh

được tính chủ quan cao Cách tiếp cận

truyền thống đối với các kịch bản sử dụng

3 phương pháp: Kịch bản tiêu chuẩn, kịch

bản lịch sử và kịch bản tồi tệ Việc phân

tích sử dụng các kịch bản tiêu chuẩn, giá

trị của các danh mục được ước lượng bằng

cách làm căng thẳng các yếu tố rủi ro

thông qua các cú sốc được xác định trước,

ví dụ như thay đổi giá cổ phiếu một độ

lệch chuẩn hoặc tăng giá dầu tới một mức

độ xác định Nói một cách đơn giản, đây là kịch bản giả định Đối với phân tích kịch bản lịch sử, tình trạng thị trường trong một khoảng thời gian lịch sử xác định liên quan đến danh mục của ngân hàng được

sử dụng Các kịch bản này bao gồm khủng hoảng tín dụng 2007- 2009… Đối với phân tích kịch bản tồi tệ, việc nghiên cứu

tự động các thay đổi tương lai theo điều kiện thị trường được thực hiện nhằm đánh giá lợi nhuận và rủi ro dưới kịch bản đó

Cũng giống như ST cho các loại rủi ro khác, ST RRTT cũng dựa vào các kịch bản giả định và lịch sử Các kịch bản sử dụng trong ST toàn ngân hàng có xu hướng tập trung vào các biến tài chính và vĩ mô như GDP, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, giá nhà

và lãi suất Các tổn thất xuất phát từ RRTT trong các kịch bản này thường khó để ước lượng trực tiếp Các ngân hàng thường chuyển các kịch bản vĩ mô thành các yếu

tố RRTT như sự thay đổi trong chênh lệch tín dụng, giá hàng hóa và biến động của các yếu tố khác được sử dụng để tính toán tổn thất cho các cú sốc thị trường

Ví dụ, đánh giá hoán đổi rủi ro vỡ nợ phụ thuộc vào tỷ lệ phục hồi và xác suất vỡ nợ của các tài sản tham chiếu Nếu các kịch bản vĩ mô được xác định với các yếu tố GDP, tỷ lệ thất nghiệp và giá nhà, ngân hàng sẽ phải sử dụng một mô hình bổ trợ

để chuyển các biến vĩ mô thành các xác suất vỡ nợ và tỷ lệ phục hồi Cũng như vậy, đối với các sản phẩm tài chính như chứng khoán, NHTM thường sử dụng hệ thống như Intex để đánh giá chứng khoán Các yếu tố đầu vào cho Intex thường được tính toán từ các kịch bản vĩ mô sử dụng các mô hình bổ trợ Đối với phần lớn các tổn thất của RRTT, các biến cần thiết là yếu tố đầu vào của mô hình định giá sử

Trang 9

dụng cho các trạng thái sổ kinh doanh bao

gồm giá, biến động và các thông số khác

như mức độ tương quan giữa các yếu tố

đầu vào Nhìn chung, các căng thẳng được

mô hình hóa là các biến động lớn của các

yếu tố đầu vào này

Do sự linh hoạt tương đối lớn trong việc

chuyển các biến vĩ mô thành các biến

được sử dụng nhiều trong ST RRTT,

tính tương đương và nhất quán trong và

xuyên suốt các ngân hàng có thể là một

thách thức trong ST RRTT so với ST rủi

ro tín dụng Chính vì vậy, trong nhiều

bài ST của cơ quan quản lý dựa trên Đạo

luật Dod-Frank (Dod-Frank Act) hoặc

Chương trình Rà soát và Phân tích vốn

toàn diện của Cục dự trữ liên bang Mỹ

(Federal Reserve’s Comprehensive Capital

Analysis and Review- Fed’ CCAR) và

ST giám sát được thực hiện bởi Cơ quan

Ngân hàng Châu Âu (European Banking

Authority- EBA), các cơ quan quản lý

sẽ chỉ định các giá trị của các biến số sẽ

tạo thành đầu vào của hệ thống đánh giá

RRTT mà NHTM cần phải thực hiện Tuy

nhiên, ngay cả trong các trường hợp đó,

các ngân hàng thường xuyên phải bổ sung

đầu vào của các yếu tố rủi ro mà các cơ

quan quản lý không chỉ định Bên cạnh đó,

khác với sổ ngân hàng có tài sản chủ yếu

là tín dụng dài hạn, các danh mục trong sổ

kinh doanh NHTM tạo ra nhiều trạng thái,

có thể có các trạng thái có lợi trong một

kịch bản bất lợi Điều này gia tăng áp lực

về phương pháp để xác minh các kết quả

của ST RRTT Bởi các kịch bản do các

cơ quan quản lý cung cấp có thể đã không

bao gồm tất cả các yếu tố rủi ro có thể xảy

ra mà một NHTM đã sử dụng, điều này

cho thấy mức độ không nhất quán của ST

RRTT cao hơn ST rủi ro tín dụng Chính

vì vậy, hiệu quả của việc kiểm soát của cơ

quan quản lý trở nên vô cùng quan trọng

Mặc dù mục tiêu của các cơ quan quản lý trong việc xác định các giá trị cho các yếu

tố đầu vào của đánh giá RRTT là nhằm tăng cường tính nhất quán và khả năng so sánh giữa các ngân hàng, nhưng nó sẽ gặp phải các vấn đề như “một phương pháp không thể phù hợp cho tất cả các ngân hàng” và “ bắt kịp những thay đổi” Nhằm đảm bảo rằng các ST RRTT phản ánh chính xác mức độ rủi ro của mỗi NHTM,

cơ quan quản lý cần phải đưa ra các yếu

tố đầu vào, đặc biệt là các yếu tố được tạo ra bởi các NHTM, nhằm xem xét kỹ lưỡng hơn về tính đại diện và toàn diện của chúng

2.2.6 Lựa chọn khoảng thời gian trong ST RRTT

ST các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng thường tập trung vào các tổn thất trong một khoảng thời gian dài 9 quý như đã áp dụng trong Đạo luật Dod-Frank và Fed’ CCAR Một phần quan trọng của các ST này là xác định danh mục sẽ thay đổi như thế nào trong khoảng thời gian căng thẳng Trong lịch sử, các bài ST về RRTT, chẳng hạn như các bài ST tập trung vào danh mục kinh doanh, có thời gian rất ngắn, ví

dụ như 10 ngày hoặc thậm chí tức thời, tùy thuộc vào tần suất giao dịch của các sản phẩm trong danh mục đầu tư Như vậy, thời gian trong ST RRTT ngắn hơn xuất phát từ đặc trưng của sổ kinh doanh

là giao dịch thường xuyên hơn và thời gian nắm giữ ngắn hơn

Sự lựa chọn khoảng thời gian không chỉ

có tác động trực tiếp đến việc định giá danh mục đầu tư trong các bài ST, mà còn

là căn cứ để ngân hàng đưa ra các biện pháp như giảm mức rủi ro dựa trên kết quả của các bài ST (Markovic, 2011) Ví

dụ, một khía cạnh quan trọng trong sự lựa

Trang 10

chọn khoảng thời gian ST là điều gì sẽ

xảy ra sau cú sốc ban đầu, hay nói cách

khác là dư chấn Alexander và Sheedy

(2008) đã chỉ ra rằng hậu quả của một

sự kiện gây sốc có thể bao gồm một số

hoặc tất cả những điều sau đây: Những

biến động lớn hơn nữa trong cùng một thị

trường; biến động lớn trong các thị trường

khác và tương quan cao hơn giữa các thị

trường; và biến động trong các thị trường

quyền chọn tăng lên và thanh khoản thị

trường giảm Trong một bài ST RRTT ở

cấp độ danh mục đầu tư về RRTT, khoảng

thời gian được sử dụng có thể giống như

khoảng thời gian sử dụng trong VaR,

chẳng hạn như 10 ngày Trong một kịch

bản như vậy, dư chấn có thể không xảy ra

Tuy nhiên, đối với các bài ST mở rộng

toàn ngân hàng, khoảng thời gian trong

các bài ST RRTT thường được yêu cầu

phải giống với các bài ST cho các rủi ro

khác, như rủi ro tín dụng, bởi vì cần có

một khoảng thời gian chung để tạo ra tính

nhất quán giữa các rủi ro khác nhau Hai

vấn đề sau cần được xem xét thận trọng

trong quá trình kéo dài thời gian cho

RRTT Đầu tiên là có liên quan dư chấn

nhắc đến ở trên Ví dụ, nếu NHTM tính

tổn thất trong một năm bằng cách lấy tổn

thất của 10 ngày và mở rộng nó đến một

năm thông qua phương pháp như nhân

với căn bậc hai của thời gian sẽ có thể

làm sai lệch các tổn thất, vì bỏ qua các

dư chấn Thứ hai là tác động của phòng

ngừa rủi ro (hedging), cách thức quản lý

và những giả định được thực hiện liên

quan đến phòng ngừa rủi ro Việc phòng

ngừa rủi ro có được tính đến hay không

và cách thức phòng ngừa rủi ro được điều

chỉnh có khác nhau giữa các tổ chức hay

không là những vấn đề cần phải quan

tâm Các ngân hàng thường lập luận rằng

họ có thể thực hiện các chiến lược phòng

ngừa rủi ro năng động nhằm giảm đáng

kể các khoản tổn thất bất ngờ của danh mục đầu tư Tuy nhiên, trong một môi trường căng thẳng nghiêm trọng, không chắc chắn rằng các công cụ phòng ngừa rủi ro liệu còn tồn tại với đủ thanh khoản hay không Những kinh nghiệm với cuộc khủng hoảng năm 1987 cho thấy các chiến lược phòng ngừa rủi ro năng động trong điều kiện thông thường đã thất bại khi không tính đến các phản hồi tích cực của nhu cầu phòng ngừa rủi ro trong điều kiện căng thẳng, đặc biệt khi có sự gián đoạn lớn Việc kéo dài khoảng thời gian cho ST RRTT nhằm thực hiện ST toàn ngân hàng

có thể xuất hiện vấn đề khi cho rằng chiến lược phòng ngừa rủi ro năng động thực sự trong những điều kiện căng thẳng này vẫn

tỏ ra hiệu quả như ở trong điều kiện bình thường

2.2.7 Đánh giá lại và tính toán lãi, lỗ dưới kịch bản căng thẳng

Khi các kịch bản căng thẳng thị trường được xác định, bước tiếp theo là đánh giá trạng thái trong danh mục dưới các kịch bản căng thẳng Sự khác biệt trong giá trị của các trạng thái dưới kịch bản căng thẳng và giá trị hiện tại là chỉ tiêu lãi hoặc

lỗ Quá trình ước lượng lãi, lỗ trong bối cảnh căng thẳng bao gồm một số bước sau:

Định giá theo giá thị trường (Mark-to-market) và định giá theo mô hình (market-to-model)

Định giá nhằm mục đích báo cáo và quản

lý rủi ro thường dựa vào hai phương pháp: (i) Định giá theo giá thị trường sử dụng giá đóng cửa; (ii) định giá theo mô hình dựa trên mô hình phân tích hoặc số học (Akhtar, 2013) Các mô hình này thường

Ngày đăng: 01/02/2020, 21:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w