ĐỀ TÀI: Tìm hiểu ứng dụng mơ hình phân tích, dự báo nhằm mục tiêu am hiểu tiên đốn tình hình doanh nghiệp thị trường Lời giới thiệu tính cần thiết việc nghiên cứu đề tài: Kinh tế lĩnh vực đời sống quan trọng quốc gia nói chung mối quan tâm cá nhân nói riêng Xét việc hưng thịnh quốc gia kinh tế nhân tố tiên làm tiêu chí định Vì người ta ln có khát khao, mong muốn có nhận định đắn tình hình thị trường kiểm sốt xu hướng phát triển nhằm có ứng phó hướng phù hợp nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nói riêng phồn thịnh quốc gia nói chung Từ kinh tế bắt đầu có bước tiến đường phát triển bên cạnh người không ngừng nghiên cứu phát minh lý thuyết kinh tế, cơng cụ phân tích dự báo nhằm hiểu chất kinh tế, đánh giá thực tế làm tiền đề cho bước cơng ổn định tiến trình phát triển kinh tế Đến hình thành nên hệ thống lý thuyết, công cụ cho hệ sau học hỏi phát triển áp dụng Tuy nhiên, cách vấn đề lớn mà nhiệm vụ sinh viên người thừa hưởng tài sản quý giá cần có thêm nhiều nỗ lực Bởi hệ trước đổ công sức chí mồ nước mắt có kinh nghiệm, cô đọng lại thành lý thuyết mơ hình Là sinh viên suốt bốn năm mái trường đại học, không lẽ lại học trở nên lý thuyết sng mà cách ứng dụng vào thực tế Theo dễ dàng nhận thấy thực trạng Việt Nam, kinh tế nước ta có bước phát triển lớn non trẻ, nhận định đánh giá phần lớn nhà đầu tư, phương thức làm việc doanh nghiệp theo cảm tính nhiều Cho nên để kinh tế Việt Nam sánh kịp với nước phát triển giới bước tiến dài đổi tư tưởng người dân Việt Nam Là sinh viên ngành Tốn Tài Chính khoa Tốn – Thống kê, trọng học hành thiêng kỹ thuật phân tích dự báo tài chính, kinh tế không khỏi muốn thực am hiểu thầy nhiệt tâm dạy mà mong áp dụng học cho kinh tế nước nhà trở nên tân tiến chuyên nghiệp Với cấp độ viết chuyên đề tốt nghiệp, đề tài khơng có tính chun sâu cố gắng khái qt học phân tích dự báo đề phương hướng ứng dụng vào thực trạng Việt Nam CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU, TỶ SỐ CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Trang 1ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo nhằm mục tiêu am hiểu và tiên đoán tình hình doanh nghiệp và thị trường.
Trang 2Lời giới thiệu về tính cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Kinh tế là lĩnh vực đời sống quan trọng của mỗi quốc gia nói chung và là mối quan tâm của mỗi cá nhân nói riêng Xét về việc hưng thịnh của một quốc gia thì kinh tế chính là một trong những nhân tố chính tiên quyết làm tiêu chí quyết định Vì thế người ta luôn có khát khao, mong muốn có những nhận định đúng đắn về tình hình thị trường và kiểm soát được các
xu hướng phát triển của nó nhằm có những ứng phó và hướng đi phù hợp nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nói riêng và sự phồn thịnh của quốc gia nói chung.
Từ khi nền kinh tế bắt đầu có những bước tiến mới và trên đường phát triển thì bên cạnh đó con người cũng không ngừng nghiên cứu và phát minh ra những lý thuyết kinh tế, những công cụ phân tích và dự báo nhằm hiểu hơn về bản chất kinh tế, đánh giá thực tế làm tiền đề cho những bước đi tiếp theo trong công cuộc ổn định tiến trình phát triển của kinh tế.
Đến nay đã hình thành nên một hệ thống các lý thuyết, các công cụ cho thế hệ sau học hỏi phát triển và áp dụng Tuy nhiên, bằng cách nào và như thế nào mới chính là vấn đề lớn mà nhiệm vụ của mỗi sinh viên là người được thừa hưởng tài sản quý giá ấy cần có thêm nhiều nỗ lực Bởi các thế hệ trước đã đổ biết bao công sức thậm chí là mồ hôi nước mắt mới có được những kinh nghiệm, cô đọng lại thành những lý thuyết và
mô hình Là một sinh viên suốt bốn năm dưới mái trường đại học, không
lẽ nào lại để cho những gì mình học được trở nên lý thuyết suông mà không hề biết cách ứng dụng vào trong thực tế.
Theo như những gì dễ dàng nhận thấy trên thực trạng ở Việt Nam, nền kinh tế nước ta mặc dù đã có những bước phát triển lớn nhưng còn non trẻ, nhận định đánh giá của phần lớn các nhà đầu tư, phương thức làm việc của các doanh nghiệp còn theo cảm tính là nhiều Cho nên để nền kinh tế Việt Nam sánh kịp với các nước phát triển trên thế giới còn là một bước tiến dài và sự đổi mới trong tư tưởng hơn nữa của mỗi người dân Việt Nam.
Là sinh viên của ngành mới Toán Tài Chính trong khoa Toán – Thống kê, được chú trọng học hành thiêng về những kỹ thuật phân tích và dự báo tài chính, kinh tế càng không khỏi muốn thực sự am hiểu những gì mình đã được các thầy cô nhiệt tâm chỉ dạy mà còn mong có thể áp dụng được những gì mình đã học cho nền kinh tế nước nhà trở nên tân tiến và
chuyên nghiệp hơn.
Với cấp độ là viết chuyên đề tốt nghiệp, đề tài này không có tính chuyên sâu nhưng sẽ cố gắng khái quát về những gì đã được học về phân tích và
dự báo và đề ra phương hướng ứng dụng vào thực trạng Việt Nam hiện nay.
Trang 3CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU, TỶ SỐ CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Để đánh giá nhận định được thực lực của một nền kinh tế cũng như của một doanh nghiệp, người ta đã đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể có khả năng so sánh,
đo lường được Và các chỉ tiêu, tỷ số là một cách thức tính toán đơn giản, dễ nhận biết nhất
có tính chất đại diện (như lương thực, năng lượng, quần áo, giao thông) và chưa tính thuế
Là chỉ số được sử dụng để
đo lường tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, tình hình lạm phát trong tiêu dùng và
có tác động lớn tới quyết định lãi suất của Ngân hàng Trung ương
PPI – chỉ số giá
hàng sản xuất
Là một chỉ số để đo lường lạm phát Chỉ
số thể hiện giá phí sản xuất Hàng tháng,các giá cả được thu nhập từ các công ty sản xuất
Trong khi CPI đo lường lạmphát gây nên bởi sự tăng lên của giá cả hàng hóa đầu ra thì PPI đo lường mức tăng giá trong nền kinh tế bị gây nên bởi sự tăng lên của giá phí trong sản xuất Dùng để
dự đoán CPIPCE – chỉ tiêu
tiêu dùng cá
nhân
Là một trong những thay đổi về giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Chỉ số này tăng cho thấy chitiêu tăng, kéo theo giá bị áp lực tăng theo, do đó được dùng để dự đoán mức độ lạm phát trong nền kinh tế
Trang 4kỳ nhất định, bao gồm chi tiêu cá nhân, chi tiêu của chính phủ
và cán cân thương mại
Đây là chỉ số rất quan trọng
có ảnh hưởng lớn tới thị trường vì GDP biểu hiện tốc
độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia GDP thường
có độ trễ về thời gian do thống kê theo quý nên quan sát chuỗi số liệu hơn là từng con số cụ thể
và môi trường làm việc Mỗi chỉ số có các tỉ trọng khác nhau
và được điều chỉnh theo các nhân tố nhất định
Chỉ số lớn hơn 50 có nghĩa
là các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đang được mở rộng và ngược lại Đây là chỉ số cực kì quan trọng với thị trường tài chính vì nó là chỉ số tốt nhất thể hiện sức sản xuất PMI có ảnh hưởng lớn tới việc dự đoán các hoạtđộng sản xuất trong các tháng tiếp theo
suất Lãi suất thể hiện giá cả một đồng tiền Là công cụ trong
chính sách tiền tệ nên gây raảnh hưởng lớn trong thị trường về nhiều mặt
Thị
trường
lao
động
Báo cáo việc
làm Thông tin được thu thập qua cuộc điều tra
các doanh nghiệp và các hộ gia đình
Được coi là một trong những chỉ số quan trọng nhất trong việc thống kê tìnhhình chung của thị trường lao động
Tỷ lệ thất
nghiệp Liệt kê số người thất nghiệp Không chỉ ảnh hưởng lớn đến kinh tế mà còn về mặt
xã hội Cần được theo dõi vàđiều chỉnh để tỷ lệ ở mức phù hợp
mại Là phần lớn nhất chiếm trong cán cân
thanh toán quốc tế, đolường sự khác biệt về
Cán cân thương mại sẽ thặng dư nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại cán cân sẽ bị thâm hụt nếu
Trang 5giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu so với giá trị hàng hóa
và dịch vụ nhập khẩu
xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu Là chỉ số tác động lớn tới thị trường
Giúp các nhà đầu tư định hình được rằng tại thời điểmnày người tiêu dùng có muốn xài tiền của họ hay không
II/ CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CÔNG TY:
Để đo lường tình hình tài chính của một công ty, người ta thường dựa vào việc xác định và sử dụng các chỉ số tài chính Số liệu có thể được lấy từ bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo thu nhập, bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các chỉ số được tính toán dựa trên nhiều mục đích tìm hiểu khác nhau Sau đây là một số các loại tỷ số với ý nghĩa của
chúng
1) Tỷ số thanh khoản: giúp chúng ta đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty.
a Tỷ số thanh khoản hiện thời (hay tỷ số thanh khoản ngắn hạn):
- Giá trị tài sản lưu động: tổng số tiền, chứng khoán ngắn hạn,
khoản phải thu và tồn kho.
- Giá trị nợ ngắn hạn: tổng số các khoản phải trả người bán, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn phải trả, phải trả thuế,
và các chi phí phải trả ngắn hạn khác.
Tuy nhiên, phần lớn các loại hàng tồn kho có tính kém thanh khoản
Nhược điểm này đã được khắc phục bởi tỷ số thanh khoản nhanh.
b Tỷ số thanh khoản nhanh:
2) Tỷ số quản lý tài sản (hay tỷ số hiệu quả hoạt động): đo lường hiệu quả hoạt động của công ty, đánh giá cơ cấu tài sản so với doanh thu
Trang 6Nếu công ty đầu tư vào tài sản quá nhiều sẽ dẫn đến dư thừa tài sản và vốn hoạt động Ngược lại, sẽ không đủ tài sản hoạt động, làm tổn hại đến khả năng sinh lợi của công ty.
a Tỷ số hoạt động tồn kho: được đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho trong năm, đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho.
Hoạt động tồn kho còn có thể được xem xét trên số ngày tồn kho trong năm:
b Kỳ thu tiền bình quân: (Average Collection Period – ACP) cho biết bình quân khoản phải thu mất bao nhiêu ngày, đo lường hiệu quả và chất lượng quản
lý khoản phải thu
c Vòng quay tài sản cố định: đo lường hiệu quả sử dụng tài sản cố định như máy móc, thiết bị và nhà xưởng
Tài sản cố định ròng : giá trị tài sản sau khi đã trừ khấu hao
(Phương pháp tính khấu hao ảnh hưởng quan trọng đến việc tính tỷ số này)
c Vòng quay tổng tài sản: là số đồng doanh thu được tạo ra bởi bình quân một đồng tài sản nhằm đo lường hiệu quả sử dụng tài sản công ty
* Điểm lưu ý đối với việc tính toán những tỷ số quản lý tài sản:
Các tỷ số quản lý tài sản được thiết kế trên cơ sở so sánh giá trị tài sản, sử dụng
số liệu thời điểm từ bảng cân đối tài sản, với doanh thu, sử dụng số liệu từ thời
kỳ báo cáo thu nhập nên chúng ta cần lưu ý xử lý số liệu và thời điểm cho phùhợp để đưa ra các tỷ số một cách hợp lý
Trang 73) Tỷ số quản lý nợ:
Trong tài chính công ty, mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công
ty gọi là đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính có hai mặt, một mặt giúp gia tănglợi nhuận cho cổ đông, mặt khác làm gia tăng rủi ro Do đó, quản lý nợ cũngquan trọng như quản lý tài sản
a Tỷ số nợ trên tổng tài sản: đo lường mức độ sử dụng nợ của công ty so vớitài sản
Tổng nợ: tổng nợ vay ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả
b Tỷ số khả năng trả lãi: đo lường khả năng trả lãi của công ty
EBIT: thu nhập trước thuế và lãi
c Chỉ số khả năng trả nợ: đo lường khả năng thanh toán nợ nói chung bao gồm tiền thuê
EBITDA: thu nhập trước thuế, lãi, khấu hao tài sản hữu hình và khấu hao tàisản vô hình
4) Tỷ số khả năng sinh lợi:
a Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu: cho biết một đồng doanh thu tạo ra được baonhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông
b Tỷ số sức sinh lợi căn bản: phản ánh khả năng sinh lợi của công ty khi chưa
kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính Thường được sử dụng để sosánh khả năng sinh lợi trong trường hợp các công ty có thuế suất thu nhập vàmức sử dụng nợ rất khác nhau
Trang 8c Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản: (return on total assets – ROA) đo lườngkhả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty Sử dụng lợi nhuận ròngsau thuế để tính:
d Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu: (return on common equity – ROE)
đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường
Khi đem so sánh với ROA có thể nhận xét được đòn bẩy tài chính có tác dụngnhư thế nào đối với lợi nhuận ròng dành cho cổ đông
e Tỷ số thu nhập trên nguồn vốn: ( Return on Capital – ROE) đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn vay và vốn chủ sở hữu trong kỳ của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh bình quân = Vốn vay bình quân + Vốn chủ sở hữu bình quân
Vốn vay bình quân = Tổng số tiền lãi vay trong kỳ/Lãi suất bình quân của khoản tiền vay trong kỳ
Vốn chủ sở hữu bình quân: xác định dựa trên những thời điểm tăng/giảm vốn chủ sở hữu trong kỳ
5) Tỷ số tăng trưởng: cho thấy triển vọng phát triển của công ty trong dài hạn
Do vậy, nếu đầu tư hay cho vay dài hạn người ta thường quan tâm nhiều hơnđến các chỉ số này
a Tỷ số lợi nhuận tích lũy: đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận sau thuế để tíchlũy cho mục đích tái đầu tư
Trang 9b Tỷ số tăng trưởng bền vững: đánh giá khả năng tăng trưởng của vốn chủ sởhữu thông qua tích lũy lợi nhuận, phản ánh triển vọng tăng trưởng bền vững,tăng trưởng từ lợi nhuận giữ lại.
6) Tỷ số giá trị thị trường: được thiết kế để đo lường kỳ vọng của nhà đầu tưdành cho cổ đông Giá trị tương lai của công ty như thế nào còn tùy thuộc vào
kỳ vọng của thị trường
a Tỷ số P/E: ( Price/Earning Ratio ) cho thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu
để có được một đồng lợi nhuận của công ty
b Tỷ số M/B: so sánh giá trị thị trường của cổ phiếu với giá trị sổ sách, haymệnh giá cổ phiếu
III/ CÁCH THỨC SỬ DỤNG CÁC CHỈ SỐ ĐỂ ĐƯA RA NHẬN ĐỊNH:Các chỉ số được tạo ra để đánh giá thị trường nói chung và doanh nghiệp nóiriêng tùy theo mục đích của từng đối tượng sử dụng Và việc sử dụng các chỉ
số cũng tùy theo đặc điểm riêng của từng quốc gia, từng vùng và từng thờiđiểm Vì lẽ đó mà trên thế giới đã có rất nhiều loại chỉ số và thậm chí chúng tacũng có thể tự tạo ra những chỉ số riêng cho quốc gia, khu vực, ngành nghề…của mình
Ví dụ:
- Chỉ số cạnh tranh giữa các tỉnh (CPI) do cộng đồng doanh nghiệp bìnhxét hằng năm về môi trường kinh doanh của các địa phương
Trang 10- Chỉ số đánh giá niềm tin, động thái của doanh nghiệp Việt Nam VBISvừa mới ra đời vào 24/3/2010 và sẽ được công bố hàng quý, bắt đầu từquý I/2010
Khi đã có cơ sở đáng tin cậy thì việc tính toán các chỉ số là điều không mấy khó khăn Tuy nhiên, hiểu được ý nghĩa của những chỉ số đó phản ánh lên đượcmới là vấn đề đáng quan tâm Mỗi chỉ số mô tả hoặc là một phương diện hoặc
là một số phương diện khác nhau nhưng không hẳn là toàn bộ bối cảnh Cho nên khi đánh giá, xem xét các chỉ số chúng ta cần có sự kết hợp với các chỉ số khác và kết hợp với môi trường và tình hình kinh tế chung để cho nhận định có
sự tương thích, không khập khiễng và toàn diện, sắc nét hơn
CHƯƠNG 2: CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH
Các chỉ số nói chung chỉ mang tính chất phản ánh kết quả từ thị trường và doanh nghiệp, dựa vào chúng chỉ có thể đưa ra được những đánh giá mang tính
bề nổi
Quản lý, điều hành công ty hiệu quả mới có thể cho ra những chỉ số tốt Và các phương pháp phân tích chính là những công cụ hữu hiệu định giá mang tính khoa học đúng đắn, góp phần tự tin và cơ sở vững chắc hơn cho người ra quyết định
Sự cần thiết của phân tích tài chính đối với doanh nghiệp :phân tích tài chính làmột tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý, nhằm xác định vị trí và đánhgiá tình hình tài chính trong quá khứ, hiện tại, đánh giá rủi ro, mức độ và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp
Như vậy, bản chất của phân tích tài chính là việc áp dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích các dữ liệu được cung cấp trong các báo cáo tài chính, nhằm rút
ra những đánh giá hữu ích, có ý nghĩa cho việc ra quyết định Quá trình phân tích tài chính có thể được mô phỏng theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào các mục tiêu đặt ra Phân tích tài chính có thể được sử dụng như một công cụ đánh giá quản lý Do vậy, phân tích tài chính làm giảm đi sự tín nhiệm vào linhcảm, sự chuẩn đoán và trực giác thuần tuý Điều này góp phần thu hẹp phạm vi không chắc chắn trong quá trình ra quyết định
Có rất nhiều phương pháp phân tích đơn giản mà chúng ta dễ nắm bắt được về
cơ bản, nhưng lại có tính ứng dụng cao trong nhiều trường hợp khi cần định giá, định lượng nhằm hỗ trợ cho việc ra các quyết định chiến lược trong kinh doanh
- Phân tích thống kê mô tả
- Quy hoạch tuyến tính và các bài toán tối ưu
Trang 11- Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư.
- Phương pháp hiện giá thuần
- Phương pháp tỷ suất sinh lợi nội tại
- Phương pháp điểm hòa vốn
- …
Có khi ta nên sử dụng một phương pháp hiệu quả nhất, có khi nên xem xét trên nhiều phương diện của các phương pháp và cũng có khi cần có sự kết tương hỗ nhau không thể tách rời giữa chúng
Điều quan trọng nhất trước khi bước vào sử dụng các phương pháp đó chính là
xử lý thông tin, và đều có các bước sơ khởi cơ bản như sau:
Các phương án hoạt động đầu tư hiệu quả hay không luôn được thể hiện ra bởi những con số kết quả khá cụ thể từ việc phân tích chi phí và lợi ích Trong nội tại vấn đề luôn có mối liên hệ giữa các yếu tố tác động mà ta có khả năng định lượng được chúng Và chính nhờ vào việc phân tích tài chính
sẽ góp phần thu hẹp phạm vi không chắc chắn trong quá trình ra quyết định.Các thành phần cơ bản cần được xác định:
- Các biến độc lập: có thể tác động và kiểm soát được
- Các biến ngoại lai: không thuộc phạm vi kiểm soát của người ra quyết định, thường phụ thuộc vào môi trường kinh tế
- Các chính sách, quy định và giới hạn: các điều kiện ràng buộc của mô hình
- Các thước đo kết quả của quyết định: là những con số được lượng hóa từmục tiêu cụ thể của người ra quyết định
- Các biến phụ thuộc: chỉ mối liên hệ giữa biến độc lập và biến ngoại lai với thước đo kết quả
Trang 121/ Phương pháp thống kê mô tả:
Thống kê là phương pháp thu thập, phân tích, diễn giải và trình bày các dữ liệu
để từ đó tìm ra bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế, xã hội - tự nhiên
Thống kê là một loại toán học ứng dụng dựa vào lý thuyết xác suất mà tạo ra
mô hình từ những số liệu có tính chất ngẫu nhiên và sự không chắc chắn Vì mục đích của thống kê là để tạo ra thông tin "đúng nhất" theo dữ liệu có sẵn Bao gồm các bước cơ bản sau:
a Thu thập và trình bày dữ liệu của tổng thể hoặc mẫu:
- Đối với mẫu cần có sự lựa chọn phù hợp sao cho mẫu có khả năng mang đặc tính của tổng thể nhiều nhất
- Cần biết nguồn dữ liệu được sử dụng là sơ cấp hay thứ cấp
- Chọn lựa phương pháp thống kê mô tả dữ liệu định tính hay dữ liệu định lượng
b Xác định các đặc trưng đo lường và độ phân tán của tổng thể hoặc mẫu:
- Các đặc trưng đo lường khuynh hướng trung tâm như: các số trung bình,trung vị, mode
- Các đặc trưng đo lường độ phân tán như: khoảng biến thiên, tứ phân vị,
độ trãi giữa, độ lệch tuyệt đối trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ
số biến thiên và hình dáng phân phối của dãy số
Trang 13- Các đặc trưng cơ bản của phân phối trung bình mẫu.
c Phân phối mẫu và ước lượng:
- Xác định mối quan hệ giữa tham số tổng thể và giá trị thống kê mẫu đối với thống kê suy diễn
- Sử dụng các phương pháp ước lượng xác định khoảng tin cậy cho trung bình tổng thể, tỷ lệ tổng thể, phương sai và sự khác biệt giữa các tham số của
2 tổng thể từ dữ liệu mẫu với kích thước mẫu phù hợp
d Kiểm định giả thuyết:
Khi cần kiểm tra tình trạng về trung bình, phương sai, tỷ lệ của tổng thể hay kiểm tra sự khác biệt giữa các đặc tính trên của 2 tổng thể Ta đặt ra giả thiết tương ứng với ý đồ muốn kiểm tra, sau đó sử dụng các phép kiểm định giả thiết
e Tương quan và hồi quy tuyến tính đơn giản:
( chỉ xét với 1 biến độc lập và 1 bước phụ thuộc)
Trong phân tích tương quan người ta đề cập đến cường độ của mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, đánh giá xem hai biến có quan hệ với nhau không
Trong phân tích hồi quy người ta lại xác định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và độc lập dưới dạng phương trình toán học, từ đó ta có thể dự đoán được biến phụ thuộc dựa vào phụ thuộc
f Đánh giá kết quả và mô hình:
Trên đây chỉ là một cách tiếp cận khá đơn giản đến phương pháp thống kê mô
tả Tuy nhiên trên thực tế, xác định đặc tính tổng thể từ mẫu và xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính rất phức tạp và cần tính đến nhiều yếu tố biến độc lập,biến phụ thuộc và biến ngoại lai khác Do đó, khoa học thống kê mô tả đã được nghiên cứu khá phát triển và rất nhiều chương trình máy tính được xây dựng để thực hiện ứng dụng phương pháp phân tích này ví dụ: Eview, SPSS,
… Những mô hình này càng lúc được cải tiến và có nhiều phương pháp đánh giá tốt hơn Chúng ta cần có sự am hiểu về lý thuyết căn bản trong thống kê
mô tả để một mặt áp dụng đúng đắn phù hợp với các điều kiện kinh tế của từng khu vực, mặt khác có sự kết hợp các phương pháp kiểm định để có nhậnđịnh về kết quả và mô hình toàn diện hơn
3/ Thời giá của tiền tệ và mô hình chiết khấu dòng tiền:
Suy cho cùng thì mỗi bước đi trong hoạt động doanh nghiệp, một quyết định được đưa ra đều có ý mang đến lợi ích Mà lợi nhuận và chi phí tiết kiệm được chính là con số thể hiện rõ ràng khả năng mang lại lợi ích sau khi thực hiện Vì thế ở mục này sẽ gọi chung các vấn đề cần nghiên cứu lợi ích là phương án hoạt động, đầu tư
Đây là công cụ khá đơn giản trong việc định giá trị của các phương án hoạt động đầu tư Tuy nhiên nó bao gồm các nền tảng lý thuyết cơ bản cần được
Trang 14hiểu rõ Tiền tệ có giá trị theo thời gian, ở những thời điểm khác nhau thì chúng có giá trị khác nhau Vì vậy khi tính toán hay so sánh cần phải quy đổi chúng về cùng một giá trị tương đương kể cả mặt thời gian và lợi suất, rủi ro (mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro sẽ đươc nhắc đến ở mục sau)
Để đơn giản và dễ thấy được sự khác biệt trong giá trị tiền tệ tại mỗi thời điểm, ta xét đến giá trị tiền tệ của một dòng tiền không đổi A phát sinh theo cuối mỗi năm với tỷ suất sinh lợi r (%/năm)
Mô tả dòng tiền
Bảng: Hiện giá tiền tệ của mỗi năm
Số tiền Năm Giá trị hiện tại thời điểm năm 0
Bảng: Giá trị tương lai của của tiền tệ mỗi năm
Số tiền Năm Giá trị hiện tại thời điểm năm 0
Trang 15Tổng giá trị tương lai
của dòng tiền:
Trước khi thực hiện các phương án hoạt động đầu tư, cần thiết phải xác định được chi phí và lợi ích Chắc chắn người ta chỉ đồng ý bỏ ra chi phí để thực hiện nếu lợi ích thu lại không những bù đắp đủ chi phí mà còn đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của người ra quyết định Phân tích chi phí và lợi ích của mộtphương án hoạt động đầu tư cụ thể gồm các bước sau:
1 Xác định chi phí liên quan đến hoạt động, đầu tư đó hay mua tài sản
2 Xác định lợi ích của việc tăng doanh thu nhờ hoạt động, đầu tư này
3 Xác định những khoản tiết kiệm chi phí cần đạt được
4 Vạch ra kế hoạch thời gian cho chi phí mong đợi và doanh thu dự báo
5 Đánh giá những lợi ích và chi phí không thể định lượng
Dựa vào việc phân tích chi phí và lợi ích, chúng ta có thể xác định được dòng tiền thuần thu được từ hoạt động đầu tư trong mỗi thời điểm xác định Với tỷ suất sinh lợi đã được ước tính, ta dễ dàng áp dụng mô hình chiết khấu dòng tiền
Riêng việc áp dụng phương pháp thời giá tiền tệ và mô hình chiết khấu dòng tiền, ta có thể ứng dụng nghiên cứu tài chính về các vấn đề như sau:
- Ước lượng giá trị tài sản
- Định giá cổ phiếu và trái phiếu và các công cụ tài chính khác
- Định giá giá trị liên quan đến sáp nhập, thôn tính doanh nghiệp
- Phân tích danh mục đầu tư
*** Sau khi phát triển theo lý thuyết thời giá tiền tệ và mô hình chiết khấu dòng tiền ta có các công cụ phân tích các góc độ khác nhau của phương án hoạtđộng đầu tư như:
- Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư
- Phương pháp hiện giá thuần
- Phương pháp tỷ suất sinh lợi nội tại
- Phương pháp điểm hòa vốn
Vì mô hình chiết khấu dòng tiền đã chỉ ra được mối liên hệ giữa: thời gian, dòng tiền, lợi nhuận, chi phí và tỷ suất sinh lợi đòi hỏi…
Đánh giá dự án ở những góc độ khác nhau: thời gian hòan vốn, giá trị của dự
án, hay suất sinh lợi của vốn đầu tư
Trang 16Lựa chọn thông tin đánh giá tùy thuộc vào môi trường kinh doanh để cho quyếtđịnh hợp lý nhất
4/ Phương thức khác không kém phần thiết thực khi phân tích hoạt động, đầu
tư là xây dựng mô hình đơn giản phản ánh được bản chất của nó:
Cũng từ những bước cơ bản trong quy trình phân tích trên ta có phương pháp phân tích tối ưu hóa Dựa trên các nguyên tắc cơ bản, lập mô hình bài toán tối
ưu, giải chúng ra ta sẽ có các phương án giải quyết trong nhiều vấn đề kinh tế
3/ Phân tích lợi nhuận và rủi ro:
Tỷ suất sinh lời: là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận thu được và số vốn
bỏ vào đầu tư trong 1 kỳ hạn nhất định
Rủi ro: là sự sai lệch của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng.
Những khoản đầu tư nào có khả năng có sự sai lệch càng lớn được xem như córủi ro lớn hơn
Mỗi khoản đầu tư đều có thể gặp phải hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống vàrủi ro phi hệ thống
Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
Để đo lường, đánh giá rủi ro người ta sử dụng phân phối xác suất với 2tham số là giá trị kỳ vọng và độ lệch chuẩn
Trang 17Rủi ro được xem xét thơng qua việc theo dõi phân bố xác suất của tỷsuât sinh lời Tỷ suất sinh lời càng phân tán, biến động càng lớn thì rủi ro càngcao.
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là một học thuyết kinh tế mô tả quanhệ giữa rủi ro và thu nhập kỳ vọng CAPM đã chỉ ra rằng rủi ro hệ thống làmối quan tâm đối với các nhà đầu tư vì chúng không thể loại bỏ được bằngbiện pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư Đặc biệt, CAPM cho chúng ta biếtthu nhập kỳ vọng của một danh mục đầu tư được tính tương đương với: Thu nhập của danh mục đầu tư không có rủi ro + Một phụ phí rủi ro
Trong mô hình CAPM: Phụ phí rủi ro = mức độ rủi ro x Giá thị trườngcủa rủi ro đó
Hệ số Beta của một DMĐT là một chỉ số của rủi ro hệ thống của tàisản và được xác định bằng phương pháp thống kê
Mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời
2.5.1 Rủi ro hệ thống và hệ số bêta
Để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, các nhà đầu tư sẽ tìm cách đadạng hĩa danh mục đầu tư của mình, khi số lượng các khoản đầu tư Tuy nhiên
đa dạng hĩa danh mục đầu tư chỉ cĩ thể loại trừ được các rủi ro riêng biệt (rủi
ro khơng hệ thống), mà khơng loại trừ được rủi ro thị trường
* Hệ số bêta (β):β):):
Hệ số đo lường rủi ro của chứng khốn, trong thực tế các nhà kinh
doanh sử dụng mơ hình hồi qui dựa trên số liệu lịch sử để ước lượng β Hệ số
bêta xác định cho các chứng khốn được cung cấp bởi các cơng ty phân tích tàichính Hệ số β thường được tính cho nhiều giai đoạn: 1 năm, 2 năm, 4 năm, 5năm… Hệ số của chứng khốn cho phép biết được chứng khốn là cĩ nhiềurủi ro và nhạy hay ngược lại chắc chắn và ổn định
: Cổ phiếu kém nhạy hơn, ít rủi ro hơn thị trường
2.5.2 Tác động của rủi ro tới tỷ suất sinh lời
Tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư địi hỏi là tỷ suất sinh lời cần thiết tốithiểu phải đạt được khi thực hiện đầu tư sao cho cĩ thể bù đắp được rủi ro cĩthể gặp phải trong đầu tư
Tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư địi hỏi được xác định trên cơ sở:
Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát + mức bù rủi ro
Sử dụng mơ hình định gía tài sản vốn (CAPM) để tính tỷ suất sinh lờiđịi hỏi của nhà đầu tư đối với chứng khốn i:
Trang 18Ri = Rf + β (Rm – Rf)iTrong đó:
Ri: Tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư đối với chứng khoán i
Rf: Tỷ suất sinh lời phi rủi ro, thường được tính bằng tỷ suất lợi tức tráiphiếu dài hạn của Chính phủ
Rm: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng thị trường (danh mục đầu tư thị trường).i
β : Hệ số rủi ro của chứng khoán i
Rm - Rf: Mức bù rủi ro thị trường
i
β (Rm - Rf): Mức bù rủi ro của chứng khoán i
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
Trong nhiều thập kỷ qua, với việc ứng dụng ngày càng nhiều các công cụ toán học vào nghiên cứu kinh tế, các phương pháp dự báo kinh tế đã phát triển không ngừng Các mô hình toán và kinh tế lượng được vận dụng một cách triệt
để trong công tác dự báo Tuy nhiên, cho đến nay, tính chính xác của các mô hình dự báo kinh tế còn nhiều giới hạn Các cơ quan nghiên cứu lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đều có các mô hình dự báo rấtphức tạp và tỉ mỉ nhưng các kết quả dự báo của họ luôn sai biệt so với thực tiễnkhá xa Điều này có thể nhận thấy qua việc so sánh các chỉ tiêu dự báo của họ với các chỉ tiêu thực tế diễn ra sau đó (xem De Masi, 1996; Beach và các tác giả, 1999)
Các cơ quan chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, nhà doanh nghiệp… luôn cần đến các dự báo kinh tế để làm cơ sở cho việc điều hành chính sách và thiết lập kế hoạch kinh doanh Những dự báo mang tính chủ quan, cảm tính và thiếu sự luận giải từ các cơ sở khoa học đã ăn sâu vào lối suy đoán dựa trên kinh nghiệm có giới hạn của mỗi người và đôi khi nó chỉ phản ánh được khía cạnh bên ngoài Những kỹ thuật dự báo giúp chúng ta giảm đến mức tối thiểu tác động của thành kiến và sự nhìn nhận một mặt lên vấn đề Điều này không
có nghĩa là dự báo luôn luôn đưa ra một dự báo tốt hơn của một ai đó bói bằng quả cầu pha lê hay là sự may mắn nhưng cũng phản ánh được xu hướng của các biến động kinh tế
Dự báo kinh tế có thể phân theo thời gian: dự báo ngắn hạn, dự báo trung hạn,
dự báo dài hạn Hoặc có thể phân theo đặc tính của các phương pháp dự báo:
dự báo định tính, dự báo định lượng, dự báo nguyên nhân…
Những bước cơ bản trong tiến trình dự báo:
- Xác định mục đích sử dụng dự báo