- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết
Trang 1KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I Khoa học
Lịch sử phát triển khoa học từ xưa đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về khoa học :
- Aristote cho rằng : “Chỉ có cái tổng quát mới đáng gọi là khoa học” - Furie : “Khoa học phải hướng tới cái chân lí tổng quát hoặc hơn nữa là cái tất yếu về cùng một đối tượng”
- Cuvrie :”Khoa học là hệ thống những nhận thức và nghiên cứu có phương pháp nhằm mục đích khám phá ra những qui luật tổng quát về các hiện tượng” [17 , 40] - “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết”
- “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” (Pierre Auger: Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris, 1961, tr 17-19)
- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội
Từ những quan niệm trên về ‘khoa học’, có lẽ chúng ta sẽ thống nhất với hai quan niệm sau của các tác giả :
- Nguyễn Sinh Huy - Trần Trọng Thuỷ : “Khoa học là toàn bộ hệ thống kiến thức mà nhân loại
đã tích luỹ được về những qui luật trong sự phát triển của thiên nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ lợi ích cho con người”
- Từ điển tiếng Việt : “Khoa học là một hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”
Trên cơ sở khái niệm về khoa học được trình bày, chúng ta cũng cùng thống nhất tác giả Phạm Viết Vượng trong quan niệm về nội dung của khoa học :
- Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có
- Những nguyên lí được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực nghiệm chứng minh
- Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lí luận
- Những phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học
- Những qui trình vận dụng lí thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội
II Nghiên cứu khoa học
Theo Phạm Viết Vượng : “Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử d ụng vào cải tạo thế giới” [20, 41]
Theo Vũ Cao Đàm : “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới” [5, 20]
Từ quan niệm về NCKH của Vũ Cao Đàm và quan niệm về nội dung khoa học của Phạm Viết Vượng đã nêu ở trên, cho thấy NCKH có phạm vi vô cùng rộng lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới Nhưng điều đó không phải chỉ dành cho những nhà NCKH "chính hiệu” Vậy sinh viên
sẽ làm gì trong hoạt động NCKH của mình?
Trang 2CÁC HÌNH THỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hiện nay có bốn hình thức NCKH được xác định trong các trường lớp đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nước ta Đó là :
- Luận án (Tiến sĩ)
- Luận văn (Thạc sĩ và Đại học)
- Khoá luận tốt nghiệp (Đại học)
- Bài tập nghiên cứu khoa học
Những hình thức trên được trình bày từ cao đến thấp, từ khó đến dễ Theo Lê Khánh Bằng, Vũ Cao Đàm :
- Luận án tiến sĩ phải là công trình độc lập Trên cơ sở nghiên cứu, nó phải nêu tên và lập luận cho những luận điểm khoa học tạo nên hướng mới có triển vọng trong lĩnh vực khoa học tương ứng Hoặc nó thể hiện được sự tổng kết về lí thuyết và giải quyết vấn
đề khoa học lớn lao có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội
- Luận văn tốt nghiệp là công trình NCKH của sinh viên được tiến hành vào năm cuối cùng của khoá học, có giá trị thay thế tất cả các môn chuyên môn phải thi tốt nghiệp Luận văn tốt nghiệp phải được tác giả trình bày và bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Luận văn tốt nghiệp thường dài từ 40-70 trang Luận văn tốt nghiệp sau đại học có yêu cầu cao hơn luận văn tốt nghiệp đại học, thường đòi hỏi phải tiến hành thực nghiệm/khảo sát thực tế, phải có khối lượng lớn hơn, thường dài từ 50-100 trang
- Khoá luận tốt nghiệp là công trình NCKH của học sinh đại học ở năm tốt nghiệp có giá trị thay thế một môn thi tốt nghiệp Yêu cầu đối với khoá luận tốt nghiệp cao hơn nhiều
so với bài tập nghiên cứu và nhất thiết phải được bảo vệ trước hội đồng chấm khoá luận tốt nghiệp Khoá luận tốt nghiệp thường dài từ 30-60 trang
- Bài tập nghiên cứu khoa học là những bài làm, những công trình nghiên cứu chủ yếu mang tính chất thực hành, tính tập dượt nghiên cứu bước đầu của học sinh đại học và cao đẳng Nó gồm một hệ thống bài tập từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ năm thứ nhất đến năm thứ ba hoặc thứ tư Có thể có hai loại bài tập nghiên cứu :
- Các bài tập nghiên cứu sau một bài hoặc một chương nhằm đào sâu, mở rộng tri thức, hoặc làm căn cứ bước đầu để học một chủ đề nào đó hoặc làm phong phú thêm bài giảng bằng những tài liệu trong sách báo hay trong thực tế qua điều tra, tiến hành thử nghiệm Trong quá trình làm các bài tập nghiên cứu này, sinh viên bước đầu được bồi dưỡng về cách thức thực hiện một công trình NCKH theo quy trình Đối với những loại bài tập nghiên cứu này, không yêu cầu sinh viên phải có một sự sáng tạo đặc biệt Về khối lượng, loại bài tập nghiên cứu này thường dài từ 8 – 15 trang
- Một loại bài tập nghiên cứu nữa là bài tập nghiên cứu được thực hiện sau một giáo trình (thường được gọi là bài tập lớn hoặc khoá luận) Yêu cầu đối với loại bài tập nghiên cứu này cao hơn và có dung lượng từ 20 – 40 trang Loại bài tập nghiên cứu này thường được tiến hành ở các năm thứ hai và ba, thường do giáo viên chấm, nhưng cũng có thể tổ chức cho bảo vệ Trong hình thức bài tập nghiên cứu, áp dụng trong khi học tập từng học phần
Ngoài ra hiện nay Đề tài nghiên cứu khoa học để giải quyết các yêu cầu của thực tế đang được đặc biệt chú ý vì các lý do: giúp sinh viên ứng dụng được những bài bản đã được trang bị vào giải quyết vấn đề thực tiễn, tăng khả năng thích ứng với thực tế sau khi ra trường, giúp giảng viên tiếp cận thực tế để năng cao chất lượng bài giảng, có nhiều chất liệu sinh động cho bài giảng của mình, nâng cao uy tín ủa trưởng đại học đối với cộng đồng doanh nghiệp, tạo ra nguồn thu cho sinh viên, giảng viên, khoa và trường Ở một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới thì nguồn thu từ nghiên cứu ứng dụng thực tế đóng góp một khoảng khá dáng kể đối với ngân sách hoạt động của trường
Trang 3NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÙ HỢP ĐỐI VỚI SINH VIÊN NĂM 2 NĂM 3
SV cử nhân, nhất là SV năm 2 và năm 3 là những người đang sử dụng và “tiêu dùng” các tri thức khoa học, đến năm thứ 4 bắt đầu chập chững tập tạo ra trí thức khoa học Bước qua bậc cao học, học viên cao học chủ yếu vẫn còn là những người tiêu dùng trí thức khoa học và bắt đầu sáng tạo tri thức khoa học Đến bậc nghiên cứu sinh thì người nghiên cứu sử dụng các trí thức khoa học hiện có để sáng tạo ra trí thức khoa học mới
Hình thức tham gia nghiên cứu khoa học của SV năm 2 & 3 chủ yếu là tiêu dùng tri thức khoa học, chuẩn bị nền tảng để làm nghiên cứu khoa học, cho nên các hình thức nghiên cứu khoa học phù hợp bao gồm:
- dịch tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh (các môn học cơ sở ngành hay chuyên ngành)
- làm các bài tập nghiên cứu khoa học trong các môn học (bài tập nghiên cứu trong chừng chương hay của cả môn học)
- tham gia các dự án nghiên cứu khoa học của các giảng viên trong khoa, ngoài khoa, hay của các nhà nghiên cứu nếu họ có yêu cầu
- xây dựng đề cương nghiên cứu làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học sinh viên chính thức ngay khi có điều kiện
Để chuẩn bị tốt cho nghiên cứu khoa học sinh viên, các bạn cần:
- Tiếng Anh: Trau giồi tiếng Anh, nhất là tiếng Anh chuyên ngành: tập đọc tài liệu các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh
- PPNCKH: Đọc các tài liệu về phương pháp nghiên cứu khoa học, tham gia các hội thảo
và các khóa huấn luyện về PPNCKH
- Kiến thức nền tảng: Học tốt các môn học chuyên ngành
- Ý tưởng nghiên cứu: đọc và cố gắng hiểu các đề tài nghiên cứu đã thực hiện và công
bố trong đó có gợi ý các nghiên cứu tiếp theo, trao đổi với các giảng viên, quan sát thực
tế, đọc báo cập nhật tình hình kinh tế - xã hội các vấn đề cần phải giải quyết