Thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong tiến trình Hội nhập kinh tế Quốc tế, Việt Nam đang cắt giảm thuế suất hàng nhập khẩu và dỡ bở hàng rào phi thuế quan.
Trang 1Đổi mới phương pháp phân tích lợi
nhuận TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
DỆT MAY Ở VIỆT NAM
Thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong tiến trình Hội nhập kinh tế Quốc tế, Việt Nam đang cắt giảm thuế suất hàng nhập khẩu và dỡ bở hàng rào phi thuế quan Thực tế đó đã
và đang đặt ra cho các doanh nghiệp dệt may nhiều thách thức, phải đương đầu với hàng dệt may của các nước trong khi vực
Trang 2
Để nâng cao được năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp dệt may phải sử dụng nhiều công cụ quản lý kinh tế khác nhau, trong
đó phân tích lợi nhuận được coi là một công cụ quản lí kinh tế hữu hiệu Kết quả nghiên cứu thực trạng phân tích lợi nhuận
trong các doanh nghiệp dệt may cho thấy phương pháp phân tích lợi nhuận trong các doanh nghiệp này còn khá đơn giản nên việc xác định các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
để tìm ra các biện pháp nâng cao lợi nhuận còn hạn chế
Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào kinh tế khu vực và thế giới Thực hiện các cam kết quốc tế song phương
và đa phương; APEC, AFTA, BTA, WTO, trong lộ trình cắt giảm thuế quan và xóa bỏ dần hàng rào phi thuế quan đã và đang đặt
ra cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam nhiều cơ hội và không ít thách thức, buộc phải đương đầu cạnh tranh với các nước trong
Trang 3khu vực
Để tồn tại và phát triển, các DN nói chung và các DN dệt may nói riêng phải áp dụng nhiều biện pháp quản lý khác nhau trong đó phân tích lợi nhuận (PTLN) được coi là một trong những công cụ quản lý kinh tế đắc lực nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho DN Qua khảo sát thực trạng PTLN tại các DN dệt may cho thấy các
phương pháp PTLN trong các DN này còn đơn giản nên việc xác định các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận để tìm ra các biện pháp nâng cao lợi nhuận còn hạn chế
Vì vậy, các DN dệt may Việt Nam cần sớm đổi mới phương pháp PTLN, để giúp các DN dệt may đánh giá chính xác kết quả hoạt động, xác định đúng đắn mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, tìm
Trang 4ra các nguyên nhân làm tăng giảm LN, để từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh hoạt động của DN như các biện pháp điều chỉnh
về giá bán, khối lượng và cơ cấu sản phẩm (SP) tiêu thụ, giá thành, cơ cấu chi phí, mặt hàng kinh doanh nhằm không ngừng nâng cao lợi nhuận cho DN Việc đổi mới phương pháp PTLN trong các doanh nghiệp dệt may cần được tiến hành theo 2
hướng là hoàn thiện các phương pháp đang sử dụng và bổ sung thêm một số phương pháp mới cho phù hợp
Hoàn thiện phương pháp đang sử dụng
Phương pháp đang sử dụng là phương pháp so sánh, chủ yếu mới so sánh các số liệu tài chính năm báo cáo với năm trước đó nên chưa phản ánh được chính xác được xu hướng biến động
Trang 5của chỉ tiêu cần phân tích Vì vậy, khi phân tích, các DN cần phải phân tích số liệu trong một thời gian dài tối thiểu là 3 năm cho đến 5, 10 năm Về kỹ thuật so sánh, các DN mới dừng ở kỹ thuật
so sánh tuyệt đối, và kỹ thuật so sánh tương đối trên cùng một hàng ngang Sự phân tích bằng kỹ thuật so sánh này chỉ mới
đánh giá được sự biến động và tốc độ phát triển của chỉ tiêu cần phân tích Vì vây, các DN dệt may cần kết hợp kỹ thuật so sánh tuyệt đối trên cùng một hàng dọc để đánh giá được tầm quan trọng hay vị trí, sức mạnh của chỉ tiêu cần phân tích
Bổ sung phương pháp thay thế liên hoàn
Lợi nhuận của DN phụ thuộc vào khối lượng SP tiêu thụ, kết cấu
SP, giá bán, các khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi
Trang 6phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN) Vì vây, bên cạnh việc sử dụng phương pháp so sánh để PTLN các DN dệt may cần phải sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để PTLN Trình tự phân tích như sau
Lợi nhuận từ hoạt động SXKD = Doanh thu từ hoạt động SXKD - Chi phí hoạt động
Hay:
Trang 7
Trong đó:
LNHDSXKD: lợi nhuận từ hoạt động SXKD
Qi : khối lượng sản phẩm tiêu thụ loại i
Pi : giá bán đơn vị SP loại i
Cktmi : chiết khấu thương mại đơn vị SP loại i
Ghbi : giảm giá hàng bán đơn vị SP loại i
HBtli : doanh thu hàng bán bị trả lại đơn vị SP loại i
Txki : thuế xuất khảu đơn vị mặt hàng i
TttĐbi : thuế tiêu thụ đặc biệt đơn vị mặt hàng i
Tgtgti : thuế GTGT đơn vị tính theo phương pháp trực tiếp của mặt hàng i
Zi : giá thành sản xuất đơn vị SP loại i (giá vốn SP tiêu thụ)
Cql : chi phí QLDN
Trang 8Cbh : chi phí bán hàng
Như vậy đối tượng phân tích được xác định như sau:
Trong đó:
LNHDSXKD(1) : lợi nhuận từ hoạt động SXKD kỳ phân tích (kỳ thực
tế)
LNHDSXKD(0) : lợi nhuận từ hoạt động SXKD kỳ gốc
(chỉ số l là kỳ phân tích, chữ số 0 là kỳ gốc)
Từ đó, xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
Trang 9SXKD của DN như sau:
- Nhân tố khối lượng SP tiêu thụ (Q):
Xét về mức độ ảnh hưởng, có thể thấy, nếu khi giá bán, giá thành
Trang 10SP, chi phí bán hàng và chi phí QLDN không thay đổi thì nhân tố này ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến lợi nhuận bán hàng Từ đó có thể rút ra kết luận, biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận là tăng khối lượng SP hàng hóa bán ra
- Nhân tố cơ cấu SP tiêu thụ (k):
Việc thay đổi cơ cấu SP bán ra có thể làm tăng hoặc làm giảm lợi nhuận từ hoạt động SXKD Cụ thể trong thực tế DN tăng tỷ trọng bán ra những SP có mức lợi nhuận cao, giảm tỷ trọng bán ra những SP bị lỗ hoặc có mức lợi nhuận thấp thì tổng lợi nhuận sẽ
Trang 11tăng lên hoặc ngược lại
Xét về tính chất, việc thay đổi cơ cấu SP bán ra trước hết là do tác động của nhu cầu thị trường, tức là tác động của nhân tố khách quan Mặt khác, để thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu củ thị trường thường xuyên biến động, các DN phải tự điều chỉnh hoạt động SXKD, do đó nó lại là tác động của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý DN
- Nhân tố giá bán của SP tiêu thụ (P):
Trang 12
Giá bán SP là nhân tố ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của DN Trong điều kiện khối lượng SP bán ra không đổi, giá bán thay đổi
sẽ làm cho lợi nhuận thay đổi theo Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, giá bán lại không phải chỉ do DN quyết định, mà còn
do quan hệ cung cầu về SP, hoàng hóa quyết định Vì vậy, giá bán SP sẽ thay dổi theo su hướng thuận chiều với lợi nhuận
nhưng lại nghịch chiều với khối lượng SP bán ra
- Nhân tố chiết khấu thương mại (CKtm0i ):
Trang 13
Nếu thuần túy xét theo phương pháp xác định, chiết khấu thương mại có ảnh hưởng nghịch chiều đến lợi nhuận của DN Tuy
nhiên, chiết khấu thương mại lại là khoản khuyến khích khách hàng mua với số lượng lớn làm tăng khối lượng hàng bán của
DN và do đó lại làm tăng lợi nhuận của DN
- Nhân tố giảm giá hàng bán (Ghb):
- Nhân tố doanh thu hoàng hóa bị trả lại (HBtl):
Trang 14
Giảm giá hàng bán và háng bán bị trả lại có ảnh hưởng nghịch chiều đến lợi nhuận của DN: giảm giá hàng bán phát sinh càng lớn thì lợi nhuận càng giảm và ngược lại Hai khoản này phát sinh là do công tác quản lý chất lượng SP của DN chưa được tốt, nên để tránh tổn thất trong khâu bán hàng làm giảm lợi nhuận, các DN cần phải kiểm tra chặt chẽ chất lượng SP, không ngừng
áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, công nghệ làm tăng chất lượng SP hay thay đổi mẫu mã SP để SP không bị lạc hậu thị
Trang 15hiếu
- Nhân tố thuế xuất, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp:
Trang 16
Sự ảnh hưởng của các nhân tố trên là nghịch chiều đến LN của DN: các loại thuế trên càng lớn thì LN của DN càng giảm và
ngược lại Tuy nhiên, các loại thuế trên là do Nhà nước quy định,
DN không thể tác động đến chúng
- Nhân t ố giá thành So tiêu thụ (Z):
Trang 17
DSXKD(k) + LNHDSXKD(P) + LNHDSXKD(CKtm) +
LNHDSXKD(Ghb) + LNHDSXKD(HBtl) + LNHDSXKD(Txk) +
LNHDSXKD(Tttdb) + LNHDSXKD(Tgtgt) + LNHDSXKD(Z) +
LNHDSXKD(Cbh) + LNHDSXKD(Cql)
Bổ sung phương pháp phân tích tài chính Dupont
Các DN dệt may có thể sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont để phân tích mối quan hệ giữa các hệ số tài chính để tìm
ra các biện pháp tăng LN
Ví dụ: Có thể phân tích chỉ tiêu tỷ suất LN trên vốn CSH theo phương pháp Dupont:
Trang 18Tỷ suất
lợi nhuận
trên vốn
chủ sở
hữu
= Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
x Số vòng quay tổng tài sản
x Tổng
tài sản
VCSH
Cách xác định tỷ suất LN trên vốn CSH theo phương pháp
Dupont cho thấy được các hệ số tài chính ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của vốn CSH, từ đó tìm ra các biện pháp tăng LN của DN