Nội dung cuốn sách là một tài liệu hướng dẫn cụ thể và sinh động phục vụ cho những người lập trình và quản trị web có mong muốn xây dựng website cho người khiếm thị. Sách gồm 5 chương, phần 1 sách với 2 nội dung chính nhằm tìm hiểu về: Website dành cho người khiếm thị cần những gì, mô hình phát triển website dễ tiếp cận cho người khiếm thị Việt Nam. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
Trang 1HƯỚNG DẪN THIẾT KÊ WEBSITE
CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ
NGUYÊN
3C LIỆU
Trang 3v ũ THỊ HƯƠNG GIANG NGUYỄN THỊ THU TRANG
HƯỚNG DẪN THIẾT KÉ WEBSITE
ĐẠI HỌCTHẢĨNG:
TEUNG TẨMHOC
NHÀ XUÁT BẢN BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 5LỜI TỰA
“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng".
Cuốn sách không chi là một tài liệu khoa học mà còn là một mong muốn được chia sẻ, cảm thông của các người tạo lập với cộng đồng người khiếm thị Việt Nam Cuốn sách là sản phẩm kế tiếp chuỗi sản phẩm mà các người tạo lập đã thực hiện dành cho người khiếm thị (người mù, người mù màu, người thị lực kém) Nội dung cuốn sách là một tài liệu hướng dẫn cụ thể và sinh động phục vụ cho những người lập trình và quản trị web có mong muốn xây dựng website cho người khiếm thị Các người tạo lập đã trình bày chi tiết về các đặc trưng cơ bản của website dễ tiếp cận, chi ra các yếu tố ữong thiết kế làm cho người khiếm thị gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận Từ đó các người tạo lập định hướng tạo lập các website dựa trên các chuẩn như Luật Công nghệ thông tin Việt Nam, Luật Người khuyết tật Việt Nam, các luật trên thế giới, các tiêu chuẩn xây dựng, đánh giá, các hướng dẫn và khuyến nghị Cuốn sách chỉ ra mô hình thiết kế nội dung web dễ tiếp cận dành cho người khiếm thị và ứng dụng thực tiễn, đồng thời cũng chi ra một số quy trình thiết kế/thiét kế lại web site một cách hiệu quả, cũng như các công cụ tiện ích chuyên dụng cho các công việc này
Có thể nói đây là một tài liệu hướng dẫn khá đầy đủ, chi tiết, mạch lạc
và dễ sử dụng Các người tạo lập hy vọng rằng cuốn sách sẽ được đông đảo các độc già tiếp nhận, ủng hộ và đóng góp thêm ý kiến để lần xuất bàn sau
sẽ hoàn thiện hơn, góp phần vào mục đích chung là chia sẻ, cảm thông với cộng đồng người khiếm thị Việt Nam, giúp họ kịp bắt nhịp với sự phát triển của xã hội, phát huy đuợc tiềm năng cùng vai trò của mình và hòa đồng với cuộc sống
Đỗ Văn Uy Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trang 6MỤC LỤC
LỜI T Ự A 3
CHƯƠNG 1 M Ở Đ À U 7
1.1 THÉ NÀO LẢ w e b s i t e d ể t i ế p c ạ n ? 7
1.1.1 Dễ tiếp thu (Perceivable) 8
1.1.2 Dễ thao tác (O perable) 9
1.1.3 Dẽ hiểu (Understandable) 10
1.1.4 Vững chắc (Robust) 11
1.2 NHỮNG ĐỐI TƯỢNG NÀO HƯỞNG LỢI TỪ CÂC WEBSITE DẼ TIÉP CẠN? 11
1.2.1 Người khuyết tật 11
1.2.2 Người khiém thị 12
1.2.3 Người cao tuổi 13
1.2.4 Người dùng phổ thông 14
1.3 NGƯỜI KHIÉM THỊ VIỆT NAM TIẾP CẬN VÀ s ử DỤNG THÔNG TIN NHƯ THẾ N À O ? 14
1.3.1 Nguòn tin 14
1 3 2 Đ ọ c! 16
1.3.3 Nghe 17
1.4 CẢC YÉU T ố LÀM CÂC WEBSITE TRỞ NÊN KHỐ TIÉP CẬN VỚI NGƯỜI KHIÉM TH|? 19
1.4.1 Người dùng và các công cụ hỗ trợ 21
1.4.2 Nhà phát triển web và các công cụ hỗ trợ 24
1.4.3 Nội đung w e b 28
1.5 THÉ NÀO l a w e b s i t e d ể TIÉP c ặ n v ớ i n g ư ờ i k h iê m t h i ? 30
1.6 CÀN ĐẢM BẢO TiNH DẼ TIÉP CẬN CHO CÂC THÀNH PHẢN NÀO CỦA W EBSITE? 32
1.6.1 Nội dung 32
1.6.2 Két xuất nội dung 37
1.6.3 Điều hướng 38
1.6.4 Hỗ trợ tương tác 40
1.7 MUỐN ĐẢM BẢO TÍNH DẼ TIÊP CẠN CHO WEBSITE, THI ÉT KÊ VIỂN VÀ LẠP TRlNH VIÊN PHẢI LÀM G l? 42
1.7.1 Phát hiện lỗi khó tiếp cận 42
1.7.2 Ngăn chặn lỗi khó tiếp cận 43
1.7.3 Phục hồi tinh dẻ tiép c ậ n 43
1.8 ĐẢM BẢO TlNH DỂ TIẾP CẠN CHO CẢC WEBSITE Ở NHỮNG CA p Đ ộ NÀO? 44
1.8.1 Luật, tiêu chuản, chính sách; hướng dẫn 45
1.8.2 Kỹ thuật, công nghệ 51
1.8.3 Giải pháp đặc thù cho mỗi website 58
Trang 7CẢC W EBSITE VÀO THỜI ĐIÉM NÀO? 58
1.10 TẠI SAO CẢN q u a n t â m đ é n t I c h h ợ p D|CH v ụ k h i x â y d ự n g w e b s i t e DỂ TIẾP CẠN CHO NGƯỜI KHIẾM TH|? 59
1.10.1 Dịch v ụ 59
1.10.2 Phân loại dịch vụ 61
1.10.3 Tlch hợp dịch v ụ 63
1.10.4 Tlch hợp dịch vụ hướng đối tượng sử dụng 65
CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN WEBSITE DẺ TIẾP CẬN CHO NGƯỜ I KHIẾM THỊ VIỆT N A M 67
2.1 QUY TRlNH PHÁT T R IÊ N 67
2.1.1 Phát triển từ đàu một website mới 67
2.1.2 Cải tạo một website đã cố 69
2.2 M ô HlNH THIÉT LẬP YÊU CẢU DÊ TIÉP CẠN 71
2.2.1 Yêu cầu vè kết xuát nội dung 71
2.2.2 Yẽu cầu về nội dung 71
2.2.3 Yêu cầu vè đièu hirớng 72
2.2.4 Yêu cầu về hỗ trợ tương tác 73
2.3 MÔ HlNH ĐẢM BẢO TÍNH DỂ TIẾP CẬN 75
2.3.1 Mô tả 75
2.3.2 Áp dụng 77
2.3.3 Mău thlét ké kết xuất nội dung 78
2.3.4 Mẫu thiết ké điều hướng 83
2.3.5 Mẫu thiét ké hỗ trợ tương tác 89
2.3.6 Kiểm tra ttnh dẻ tiép cận 92
2.4 Mô HlNH TlCH HỢP D|CH v ụ CHO NGƯỜI KHIẾM T H | 92
2.4.1 Mô tả mô hlnh 92
2.4.2 Kiến trúc cài đặt dịch vụ hỗ trợ người khiếm thi 93
2.4.3 Mẫu thiết kế các dịch vụ hỗ trợ người khiếm th ị 95
CHƯƠNG 3 CÁC TIÊU CHÍ DẺ TIẾP CẶN CHO N Ọ l DUNG VÀ KẾT XUÁT NỘI D U N G 98
3.1 NỘI D U N G 98
3.1.1 Văn bản thay thé cho nội dung phi văn b ản 98
3.1.2 Các từ không thông dụng 105
3.1.3 Viết t ắ t 106
3.1.4 Ảnh văn b ản 108
3.1.5 Tiêu đè và n hân 111
3.1.6 Tiêu đề cho p hàn 112
3.1.7 Trinh tự nội dung có nghĩa 114
3.1.8 Mục đích của liên két (trong ngữ cảnh) 115
3.1.9 Mục đfch của liên két (chl có liên két) 118
Trang 83.2.1 Ngôn ngữ của trang 120
3.2.2 Ngôn ngữ cùa các phần 122
3.2.3 Đièu khiển âm thanh 124
3.2.4 Sử dụng màu sắc 125
3.2.5 Độ tương phản tối thiểu 128
3.2.6 Độ tương phản được tăng cường 130
3.2.7 Thay đổi klch thước văn b ản 132
3.2.8 Biểu diễn trực quan 135
3.2.9 Có thể phân tlch được 138
3.2.10 Tên, vai trò, giá tri 140
CHƯƠNG 4 CÁC TIÊU CHÍ DẺ TIẾP CẬN CHO ĐIÈU HƯỚNG VÀ TƯƠNG T Á C 142
4.1 ĐIÊU HƯỚ NG 142
4.1.1 Dẻ truy cập bằng bàn phim 142
4.1.2 Bàn phim không bj mắc k ẹ t 145
4.1.3 Bò qua khối 146
4.1.4 Trang web có nhan đ ề 148
4.1.5 Trình tự focus 149
4.1.6 Nhièu cách định vị 152
4.1.7 Focus cố thể nhln tháy 154
4.1.8 Khi focus 155
4.1.9 Khi nhập liệu 156
4.1.10 Điều hướng nhất quán 158
4.2 H ỗ TRỢ TƯƠNG T Á C 159
4.2.1 Thông tin, cáu trúc và quan h ệ 159
4.2.2 Có thể đièu chinh thời gian 162
4.2.3 Không giới hạn thời gian 165
4.2.4 Gián đoạn 166
4.2.5 Xác thực lạ i 167
4 2 6 Nhận diộn lỗ i 169
4.2.7 Nhăn hoặc chỉ d ẫ n 171
4.2.8 Gợi ý lỗ i 172
4.2.9 Ngăn lỗ i 174
4.2.10 Trợ giúp 176
CHƯƠNG 5 KÉT L U Ậ N 177
TÀI LIỆU THAM K H Ả O 181
CHỈ M ỤC 182
Trang 9Chương 1
MỞ ĐẦU
Chương này tổng hợp các kiến thức cơ bản về tính dễ tiếp cận của các website, đồng thời giải đáp một số băn khoăn của người thiết kế và lập trình web khi xây dựng website phục vụ người khiếm thị (people with visual impairments)
1.1 Thế nào là website dễ tiếp cận?
W orld W ide W eb (WWW, hay đơn giản là Web) từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội Web đã trở thành thứ mà mọi người muốn tiếp cận và phải sử dụng vì nó chứa yếu tố quan trọng nhất đương thời: thông tin
M ôt website đuợc coi là dễ tiếp cân nếu nó không tao ra bắt cứ rào cán nào cho moi người dùng trong moi bối cảnh sử dung Mọi người dùng (không phân biệt tuổi tác, năng lực hành vi, trình độ, kinh nghiệm, nhận thức) đều có thể nhận biết, hiểu, truy cập, khai thác, tương tác và đóng góp các thông tin và dịch vụ trực tuyến dễ dàng và hiệu quả như nhau Website
dễ tiếp cận được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu đa dạng từ người dùng, và phù hợp với các mức ưu tiên sử dụng khác nhau, các môi trường tương tác khác nhau (ví dụ: trình duyệt và các cấu hình trinh duyệt khác nhau, các thiết bị vào ra khác nhau, các hệ điều hành khác nhau)
Thco ISO 4050Q;2012 (1), inôl website dưuc coi lả dễ liếp cân néu các nôi dung web (web content) nó cung cắp đươc thiết kế và xây dựng dua trên
4 nguyên tấc: dễ tiếp thu, dễ hiếu, dễ thao tác và vững chắc Mỗi nguyên tắc gồm nhiều hướng dẫn, mỗi hướng dẫn lại gồm nhiều tiêu chí thành công Đi kèm theo mỗi tiêu chí thành công là một tập các kỹ thuật được khuyến cáo
áp dụng Tổng cộng có 4 nguyên tắc, 12 hướng dẫn, 61 tiêu chí thành công
và 499 kỹ thuật Khái niệm nội dung web tham chiếu đến tất cả các thành phần của website, bao gồm các nội dung văn bản, mẫu biểu, bảng, các nội dung đa phương tiện, và các dịch vụ mà nó cung cấp hay tích hợp, được viết bằng các ngôn ngữ lập trình phía server, mã mô tả kịch bản (scripts) hay mã đánh dấu (markup code)
Trang 101.1.1 Dễ tiếp thu (Perceivable)
Thông tin và các thành phần giao diện trên website phải được đưa ra cho người dùng theo các cách mà họ có thể tiếp thu được
Tức là, website đó cần được thiết kế sao cho: (i) có văn bản thay thế, (ii) có các lựa chọn khác để tiếp thu các nội dung m edia (iii) dễ thích nghi,
và (iii) dễ phân biệt
a) Có văn bản thay thế
Tất cả các nội dung phi văn bản đều cần có văn bản thay thế Nội dung phi văn bản có thể là các phần tử điều khiển tương tác như nút bấm hay ô nhập liệu, CAPTCHA, các nội dung có thời lượng như âm thanh,
dùng cần, chẳng hạn như bản in khổ lớn, chữ nổi, giọng nói, biểu tượng hoặc ngôn ngừ đơn giản hơn
b) Có các lựa chọn khác để tiếp thu các nội dung có thời lượng
Cần cho phép người dùng lựa chọn các nội dung thay thế cho các nộidung có thòi lượng (tim e-based media) như âm thanh, phim ảnh, nội dung trình chiếu v.v Ví dụ, với một bộ phim có đầy đủ hình ảnh, âm thanh, lời thoại bằng tiếng Anh, nội dung thay thế có thể chi gồm là toàn bộ âm thanh và phần lồng tiếng Việt; hoặc toàn bộ phần hình ảnh kèm theo phụ
đề tiếng Việt; hoặc nội dung bộ phim ban đầu kèm theo phần thuyết minh bằng cử chi
d) Dễ phân biệt
Người dùng dễ dàng phân biệt bằng mắt hoặc bằng tai các nội dung chính (foreground) và các nội dung nền (background) của website Với biểu diễn trực quan, cần phải đảm bảo được thông tin biểu diễn trên nền đủ tương
Trang 11phản với nền Với biểu diễn âm thanh, cẩn phải đảm bảo rằng âm thanh chính đủ to hơn âm thanh nền.
b) Đủ thời gian
Người dùng cần có đủ thời gian để đọc và sử dụng các nội dung web Website cần đảm bảo rằng nguời dùng có thể hoàn thành các thao tác theo yêu cầu của nội dung với thời gian đáp ứng riêng của mình Ví dụ: người có thị lực kém mất nhiều thời gian để tìm và đọc thông tin, vậy có thể loại bỏ các ràng buộc thời gian nhập lệnh điều khiển, hoặc gia hạn đủ cho người dùng hoàn thành các thao tác của mình
c) Không gây kích ứng
Không thiết kế nội dung theo cách có thể gây kích ứng cho người dùng.Một số loại nội dung hoạt hình hay hình ành động (nhir phim ngắn quảng cáo) có tần suất thay đổi hình ảnh cao có thể gây kích ứng cho người dùng khi xem gần hoặc xem lâu; nhẹ thì lóa mắt, đau đầu, nặng thì có thể gây co giật Cần đảm bảo các nội dung này được thiết kế ở ngưỡng an toàn cho người dùng
Trang 12Người dùng có thể tự định hướng bên trong từng nội dung cũng như điều hướng giữa các nội dung dễ dàng hay không là nhờ vào tiêu đề, mô tả vắn tắt nội dung, nhãn các hành động, thứ tự thực hiện các hành động Ví dụ, người khiếm thị rất khó định vị các phần khác nhau của một trang web; trong trường hợp này các công cụ hỗ trợ (assistive technology) có thể giúp người dùng đọc lướt thông tin về tiêu đề, như vậy họ sẽ dễ định vị nội dung cần đọc.
1.1.3 Dể hiểu (Understandable)
Thông tin và thao tác của giao diện người dùng phải dễ hiểu, tức là: (i)
dễ đọc, (ii) dễ đoán, và (iii) có trợ giúp nhập liệu
a) Dễ đọc
Đảm bảo các văn bản là dễ đọc và dễ hiểu
Điều này đảm bảo rằng những thông tin người dùng cần luôn có sẵn
Nó cho phép người dùng mắc phải các khuyết tật khác nhau có thể tiếp thu nội dung văn bản qua các kênh khác nhau: thị giác, thính giác, xúc giác, v.v
Nó cũng đảm bảo cho các công cụ hỗ trợ mà người khuyết tật sử dụng sẽ truyền đạt chính xác nội dung văn bản cho người khuyết tật
vì mất thêm thời gian để đọc văn bản của mỗi liên kết
c) Có trợ giúp nhập liệu
Có trợ giúp cho người dùng tránh lỗi và có thể sửa lỗi
Trang 13Mọi người đều có thể mắc sai lầm Tuy nhiên, để nhập thông tin đầu vào không có lỗi hay phát hiện ra họ đã mắc lỗi nhập liệu, người khuyết tật gặp nhiều khó khăn hom người bình thường rất nhiều Các phương pháp báo lỗi điển hình có thể không rõ ràng với họ vì nguyên nhân chủ quan như hạn chế về tầm nhìn, về cảm nhận màu sắc, hoặc vì nguyên nhân khách quan như không nhận đủ trợ giúp từ các công cụ hỗ trợ mà họ sử dụng, c ầ n thiết
kế website theo hướng giảm số lượng lỗi nghiêm trọng hoặc không thể thay đổi, tăng khả năng tất cả các lỗi được chú ý bời người dùng và giúp người dùng hiểu được những gì họ cần phải làm để sửa một lỗi
1.1.4 Vững chắc (Robust)
N ội dung cần phải đủ ổn định để các đại lý người dùng (user agent) bao gồm các công nghệ trợ giúp có thể diễn giải một cách tin cậy Như vậy, cần tối đa hóa sự tương thích với các đại lý người dùng sử dụng trong hiện tại và trong tương lai, bao gồm các công cụ hỗ trợ Điều này được thực hiện
bằng hai cách Thứ nhất, đảm bảo rằng người tạo lập không thực hiện những
việc có thể làm gián đoạn công cụ trợ giúp (ví dụ, đánh dấu không đúng ngữ pháp) hoặc ảnh hưởng tới công cụ frợ giúp (ví dụ, bằng các mã nguồn hoặc
đánh dấu không theo quy chuẩn) Thử hai, cung cấp các thông tin trong nội
dung theo các cách thức tiêu chuẩn mà công cụ hỗ trợ có thể nhận ra và tương tác được Vì công nghệ thay đổi nhanh chóng và các nhà phát triển công cụ trợ giúp có thể gặp các vấn đề với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, nội dung tuân theo các quy chuẩn và tương thích với các API để công cụ trợ giúp có thể dễ dàng làm việc với các công nghệ mới trong quá trình phát triển là một vấn đề vô cùng quan trọng
1.2 Những đối tượng nào hưởng lợi từ các website dễ tiếp cận?
Mọi đối tượng người dùng, không phân biệt tuổi tác, năng lực hành vi, trình độ, tuổi tác, bối cảnh sử dụng đều hường lợi khi sử dụng các website
dễ tiếp cận
1.2.1 Người khuyết tật
Theo luật người khuyết tật số 51/2010/QH12 của Việt Nam (7), người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
Trang 14bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân loại bốn dạng tật chính: khuyết tật thể chất (physical disabilities), khuyết tật các giác quan (sensory disabilities), khuyết tật trí tuệ (intellectual disabilities) và khuyết tật tâm thần (psyatric disabilities) Mức độ nghiêm trọng của các khuyết tật này được phân thành
3 mức: nặng, vừa và nhẹ
Chính phủ Việt Nam đưa ra các quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật hơi khác một chút Các dạng tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; và khuyết tật khác Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây: đặc biệt nặng (do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày), nặng (không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày) và nhẹ.Các dạng khuyết tật có thể quan sát được hoặc không quan sát được Thời điểm mắc phải các khuyết tật cũng khác nhau: lúc mới sinh, lúc còn nhỏ hoặc lúc đã trưởng thành Nguyên nhân gây ra các khuyết tật rất đa dạng: dị tật bẩm sinh, tai nạn, ốm yếu, v.v
Ví dụ: người khiếm thính không nghe được âm thanh của một bộ phim; vậy website dễ tiếp cận có thể cung cấp chế độ xem phim có phụ đề văn bản hoặc có thuyết minh bằng khẩu hình Người bị liệt tứ chi không thể thực hiện tương tác vật lý với các thiết bị vào thông thường như chuột hay bàn phím, vậy website dễ tiếp cận cho phép họ điều khiển thứ tự duyệt nội dung bằng giọng nói Người thiểu năng trí tuệ bị hạn chế về khả năng đọc hiểu; vậy website dễ tiếp cận cho phép hiển thị thông tin giản lược để họ có thể nắm bắt dễ dàng các thông tin Hay, website dễ tiếp cận hiển thị các nội dung văn bản ở cỡ chữ rất to cho người mắc chứng khó đọc
Trong số những người mắc phải các loại khuyết tật khác nhau, người khiếm thị (khuyết tật nhìn) là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ các website
dễ tiếp cận Trong phạm vi cuốn sách này, đây cũng chính là nhóm người dùng mục tiêu để xây dựng website dễ tiếp cận Phần 0 sẽ nói sâu hom về đối tượng này
1.2.2 Người khiếm thị
Tổ chức Y tế thế giới WHO phân loại nguời khiếm thị như sau:
Trang 15- Người có thị lực kém: sau khi được điều trị hoặc điều chinh tật khúc
xạ, có thị lực trong khoảng 20/70 - 20/400, hoặc có thị trường dưới 20 độ Thị lực như vậy không đáp ứng được nhu cầu nhìn của họ, nhưng vẫn có khả năng được cải thiện nếu có các thiết bị hỗ ừợ thị giác chuyên dụng Có rất nhiều kiểu thị lực kém, ví dụ như nhìn không rõ hình ảnh các vật, chi nhìn thấy các vật ờ chính giữa thị trường hay ở biên thị trường, v.v
- Người mù màu: người gặp khó khăn trong việc phân biệt màu này
với màu khác hoặc phân biệt các màu với nhau Mù màu là sự thiếu nhạy cảm nhất định với màu sắc hoặc yếu kém trong việc phân biệt màu sắc Các hình thức phổ biến của bệnh mù màu bao gồm khó phân biệt giữa màu đỏ và màu xanh lá cây, hoặc giữa màu vàng và màu xanh da trời Đôi khi người
mù màu không có khả năng nhận thức bất kỳ màu nào
- Người mù: sau khi được điều trị hoặc điều chỉnh tật khúc xạ, có thị
lực dưới mức 20/400 hoặc có thị trường dưới 10 độ đến mức mất hoàn toàn khả năng cảm nhận sáng tói
Theo số liệu thống kê năm 2010 của tổ chức Y tế Thế giới WHO (1),
số lượng người khiếm thị là 286 triệu người - chiếm 4,24% dân số thế giới, trong đó có 38 triệu người mù số lượng nguời khiếm thị dưới 50 tuổi xấp xi
100 triệu người
Website dễ tiếp cận cho phép nguời khiếm thị tiếp cận với các nội dung \à dịch vụ trực tuyến - điều mà họ hầu như không thề làm được với các website truyền thống
Ví dụ: Website dễ tiếp cận có tính năng phóng to hình ảnh, văn bản, cho phép người thị lực kém dễ nhìn hơn Hoặc, website dễ tiếp cận cho phép ngưòri TIÙ màu thay đổi độ tuơng phản giữa màu chữ của tin tức và màu nền
để dễ dọc hơn Người mù không thể đọc thông tin, nhưng họ có thể nghe thông tin; vậy website dễ tiếp cận cung cấp các nội dung âm thanh tương đương với nội dung hiển thị trực quan, hoặc nội dung hiển thị trực quan của website dễ tiếp cận được thiết kế sao cho trình đọc màn hình (screen reader)
có thể ỉọc thành lời các nội dung đó
1.2.3 Người cao tuổi
Website dễ tiếp cận mang lại lợi ích cho những người cao tuổi, khi tuổi già làm thay đổi khả năng nhận thức và năng lực hành vi của họ Ví dụ, người già thường thao tác chậm và dễ mắc lỗi nhập liệu, website dễ tiếp cận
Trang 16cho phép họ thực hiện các tương tác với hệ thống với thời gian chờ lâu hom,
số lần được phép mắc lỗi nhiều hơn
1.2.4 Người dùng phổ thông
Website dễ tiếp cận cũng có lợi cho những người dùng không khuyết tật, trong những bối cảnh sử dụng khác nhau Ví dụ, khi đường truyền Internet chi có tốc độ thấp hoặc hạn chế băng thông thì vẫn không mất quá nhiều thời gian để tải hết các nội dung của website về máy người dùng Hoặc khi người dùng bị đau tay, không sử dụng được các cụm phím tắt thì vẫn có thể duyệt web dễ dàng bằng bàn phím ảo, v.v
Ngoài ra, những người có trình độ văn hóa thấp, người không thành thạo loại ngôn ngữ sử dụng trên trang web, người mới sử dụng web hay nguời sử dụng các thiết bị đời cũ để truy cập web cũng đều hưởng lợi từ website dễ tiếp cận
1.3 Người khiếm thị Việt Nam tiếp cận và sử dụng thông tin như thế nào?
Người khiếm thị chủ yếu tiếp nhận thông tin từ ba nguồn chính: qua các kênh thông tin đại chúng, qua các kênh thông tin dành riêng cho người khiếm thị, qua máy tính và Internet Các hình thức tiếp cận thông tin phổ biến là đọc và nghe
1.3.1 Nguồn tin
a) Các kênh thông tin đại chúng
Nhóm thứ nhất là các kênh thông tin đại chúng như phát thanh, truyền hinh Đây là nguồn cung cấp thông tin cập nhật thường xuyên nhất cho người khiếm thị Tuy nhiên, vì là chương trình đại chúng nên cách truyền đạt và nội dung chưa thực sự phù hợp với nhu cầu và khả năng của người khiếm thị
b) Các kênh thông tin dành riêng cho người khiếm thị
Nhóm thứ hai là các kênh thông tin dành riêng cho người khiếm thị, như sách báo chữ nổi, báo băng từ, sách nói do các thư viện thành phố và hội người mù các cấp phát hành, v.v Đây là nguồn cung cấp thông tin định
kỳ, có chọn lọc cho người khiếm thị và phù hợp vói khả năng tiếp cận của
Trang 17người klniếm thị Ví dụ, tạp chí "Đời mới" của Trung ương Hội người mù Việt Narm, hiện được xuất bản dưới 4 hình thức: chữ Braille, phát thanh, chữ
in bình tthường và đăng lên website Tuy nhiên, số lượng tin từ các nguồn này bị hiạn chế bời nhiều yếu tổ: tần suất phát hành, số lượng phát hành, phạm vi phát hành, số ưang, v.v
c) Sử dụng máy tính và Internet
Sừ" dụng máy tính và Internet là cơ hội lớn để người khiếm thị tiếp cận với kho Ìtri thức khổng lồ của nhân loại, là cầu nối, là phương tiện để họ giao lưu với m ọi người
T ừ những năm 1997, một số người khiếm thị có cơ hội sở hữu máy tính
đã có thiể sử dụng phần mềm soạn thảo có phát âm NDC phiên bản thử nghiệm — sau này là phiên bản 3.5, hoặc soạn thảo chừ nổi trên Doubry Ở thời điểm này đã có một số ít người khiếm thị làm quen với phần mềm đọc màn hình JAWS phiên bản 3.7
Từ 2001 đến 2004, việc dạy và học tin học cho người khiếm thị bắt đầu phát triển, nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh Người khiếm thị đã có thể dùng các phần mềm sẵn có của Microsoft để soạn thảo văn bản Một số người khiếm thị yêu thích âm nhạc đã có thể sử dụng các phần mềm làm nhạc trên máy tính như Cakewalk Đã có nhiều người khiếm thị có cơ hội sử dụng máy tính hơn trước
Từ 2004 đến 2006, các công cụ hỗ trợ người khiếm thị Việt Nam tiếp cận với máy tính đã đa dạng hơn rất nhiều Người khiếm thị đã có thể sử dụng phần mềm JAWS phiên bản 4.5 và khai thác được nhiều tiện ích từ máy tính như soạn thảo văn bản, làm nhạc, lướt web Với phiên bản Sao Mai nettalk, người khiếm thị có thể truy cập vào một số website tiếng Việt, tuy nhiên thao tác duyệt web chưa được thuận lợi Tới khi bộ đọc tiếng Việt theo chuẩn SAPI của Microsoft tương thích phiên bản JAWS 6.1 ra đời, người khiếm thị
đã có thể hoàn toàn chủ động và thao tác thuận lợi đối với các vàn bản Tiếng Việt ừên máy tính Do đặc thù của phần mềm đọc màn hình là chi đọc những tài liệu ở dạng văn bản nên người khiếm thị không thể sử dụng được những phần mềm có giao diện đồ họa quá nhiều như Corel, Photoshop Người khiếm thị cũng gặp hạn chế khi đọc các tài liệu được số hóa băng máy quét dưới dạng ảnh (scanned image file), các tập tin trình chiếu bằng Microsoft Power Point hoặc Microsoft Access Những người khiếm thị hoàn
Trang 18toàn chi có thể sử dụng tốt một số công cụ văn phòng như Microsoft Excel, Frontpage khi có màn hình nổi trợ giúp trong quá trình định vị vàn bản Đối với những người còn khả năng quan sát màn hình thì việc tiếp cận máy tính gần như không bị hạn chế nhiều do đã có những công cụ phóng to màn hình trợ giúp.
Từ 2006 đến nay, người khiếm thị tiếp cận máy tính và Internet đã dễ dàng hơn trước rất nhiều Các công cụ hỗ trợ người khiếm thị giờ đây rất đa dạng Ngoài các phiên bản mới hom cùa trình đọc màn hình JAW S, bộ đọc Sao Mai, còn có rất nhiều script cho trinh đọc màn hình giúp duyệt web thuật tiện hơn Các phần mềm phóng to màn hình phổ biến là Zoom take, M agic, v.v Giờ đây người khiếm thị có thể đọc các website tin tức, nghe nhạc, đọc sách, truyện từ các thư viện sách nói online, sử dụng công cụ tìm kiếm Google Không chi nhận thông tin m ột chiều, họ còn có thể trao đổi thông tin trên các diễn đàn, sử dụng các công cụ trò chuyện trực tuyến như Skype, mạng xã hội Facebook Thậm chí, họ có thề sử dụng được m ột số công cụ quản lý nội dung web, thậm chí tự tạo lập trang web của riêng mình
Tuy nhiên, với đa số người khiếm thị, khả năng khai thác thông tin trên Internet là chưa cao Thứ nhất là do hạn chế về hạ tầng cơ sờ vật chất Chi phí cho một chiếc máy tính tốt từ 5.000.000 VNĐ trờ lên, vẫn cao so với mặt bằng thu nhập chung của người khiếm thị Sở hữu kết nối Internet tại gia ờ các vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu vùng xa còn chưa thực sự phổ biến Thứ hai là muốn truy cập thông tin từ máy tính hoặc Internet, người khiếm thị cần phải được đào tạo về công nghệ thông tin, có vốn ngoại ngữ tới một trình độ nhất định, đủ để giao tiếp với máy tính thông qua các công cụ hỗ trợ Muốn trao đổi thông tin qua Internet như đăng tin trên diễn đàn, tự đăng bài trên ữang web cá nhân, v.v người khiếm thị cần được đào tạo ở mức độ cao hơn Thứ ba là số lượng những website tiếng Việt trình bày theo cách dễ tiếp cận với người khiếm thị chưa nhiều
1.3.2 Đọc
Người khiếm thị thường sử dụng các loại sách, báo, tài liệu được xuất bản bằng chữ nổi Braille Đây là loại ký hiệu chuyên dụng dành chc người khiếm thị, bao gồm hệ thống các chấm nổi trên bề mặt giấy để người khiếm thị có thể dùng tay nhận biết Loại chữ này được người
Trang 19khiếm thị sừ dụng rộng rãi, giúp người khiếm thị nghiên cứu chi tiết, kỹ lưởng vấn đề, phù hợp với việc tiếp cận các kiến thức tự nhiên, kiến thức chuyên môn cần tư duy sâu.
Tuy nhiên, các tài liệu viết bằng chữ nổi có nhiều điểm bất tiện khi đua vào sản xuất và sử dụng đại trà Thứ nhất, kích thước của các tài liệu chừ nổi khá lớn Một trang giấy khổ A4 chi chứa được khoảng 500 kí tự chữ nổi, bằng một phần tư một trang A4 chữ thường Thứ hai, chữ nổi phải được viết/in trên giấy dày nên trọng lượng tài liệu cũng tăng theo (một tờ báo hay một cuốn tạp chí có trọng lượng trung bình khoảng 300 - 500gr), gây rất nhiều bất tiện trong việc vận chuyển và sử dụng cho người khiếm thị Các tài liệu chữ nổi lại rất khó bảo quản: các chấm nổi dễ bị mờ, tài liệu nhanh hỏng do tần suất sử dụng lớn Bên cạnh đó, giá thành sản xuất sách báo chữ nổi khá cao so với sách báo bình thường
1.3.3 Nghe
Đây là hình thức tiếp cận thông tin được ưa chuộng, do tốc độ nghe luôn nhanh hơn tốc độ sờ đọc chữ nồi của người khiếm thị Người khiếm thị hiện nay được tiếp cận với khá nhiều kênh thông tin như phát thanh, truyền hình, đọc văn bản trên máy tính, băng đĩa, băng từ, v.v Gần đây xuất hiện thêm một số loại hình sách nói như sách nói thu âm (audio book)
và sách nói điện tử dễ truy cập (DAISY book) Sách nói hiện là giải pháp tiếp cận thông tin với giá thành hợp lý, giải quyết được nhu cầu thông tin của người khiếm thị
a) Băng từ
B ăng tù (băng cassette) là một trong các sàn phẩm phù hợp vớ i cộng
đồng người khiếm thị, đặc biệt là những người khiếm thị cao tuổi (do họ thường rất khó có thể học và sử dụng chữ nổi) Loại hình này đã từng được phát triển khá rộng rãi trong Hội người mù các cấp vì khả năng sản xuất khá
dễ, không đòi hỏi người dùng có kỹ năng sử dụng đặc biệt hay thu nhập cao Tuy nhiên, hiệu ứng âm thanh của băng từ chưa tốt, tuổi thọ trung bình chi khoảng 1 năm vì các lý do như: môi trường sừ dụng có độ ẩm cao, hao mòn
từ tính trong quá trình sử dụng, chất lượng của băng từ, của các máy thu phát, v.v Đây là những hạn chế lớn đối với việc bảo quản, lưu trữ thông tin
và các tài liệu quý giá
Trang 20b) Sâch nói thu âm (audio book)
Đây là loại sách nói được thu và chế bản trên m áy tính Sản phẩm này cho phép tạo ra những hiệu ứng âm thanh rất tốt có chất lượng cao, dễ dàng thay đổi sửa chữa Loại sách này có thể chuyển thành nhiều định dạng âm thanh khác nhau, phương thức phát hành đa dạng: chia sẻ qua mạng Internet, ghi ra đĩa CD, chia sẻ trực tiếp, v.v Ưu điểm của loại sách này là giá thành sản xuất thấp, khả năng phổ biến cao M ột đĩa CD trắng có giá từ 2.500 VNĐ đến 15.000 VNĐ tùy loại có thể ghi được sách nói có tổng thời lượng từ 80 phút đến 140 phút Các loại thiết bị nghe CD hiện rất phổ biến Một máy nghe nhạc MP3 giá thành chi từ 800.000 VNĐ đến 2.000.000 VNĐ, khá tiếp cận với mặt bằng thu nhập của người khiếm thị Với những người khiếm thị sử dụng máy tính, việc truyền tải và chia sẻ dữ liệu qua Internet cũng là một giải pháp khả thi Tuy nhiên, sách nói thu âm có nhược điểm lớn khi không hỗ trợ người khiếm thị truy cập nhanh nội dung theo cấu trúc của sách
c) Sách nói điện tử dễ truy cập (DAISY book)
DAISY là viết tắt của Digital Accessible Information System - chuẩn
kỹ thuật cho sách, tạp chí nói Theo chuẩn này, sách nói sẽ được xây dựng trên ngôn ngữ XML nên kết hợp được rất nhiều định dạng hỗ trợ với tính tiếp cận rất cao như âm thanh, hình ảnh, văn bản, chữ n ổ i Với cách xây dựng này, người khiếm thị hoàn toàn có thể truy cập nhanh nội dung theo cấu trúc của sách Sách nói theo chuẩn DAISY cũng cho phép tiết kiệm thời gian rất lớn: thời lượng trên mội đĩa CD có thể từ 8 đến 10 giờ và trên một đĩa DVD có thể từ 35 đến 48 giờ Tuy nhiên, chi phí sản xuất đầu vào của loại sách này cao do cần tạo nhiều phiên bản dưới nhiều định dạng khác nhau của cùng một tài liệu Việc chế bản cũng khá phức tạp do cần đồng bộ thời điểm kết xuất các định dạng khác nhau của cùng một tài liệu: âm thanh
để nghe, phụ đề hay vàn bản xuất hiện trên màn hình, hình ảnh xuất hiện ừên màn hình, chữ nổi trên màn hình nổi, cùng dịch chuyển với tài liệu theo nội dung quan sát của người sử dụng Sách nói theo chuẩn DAISY không những dễ tiếp cận với người khiếm thị mà còn hữu dụng với cả những người khuyết tật vận động Có thể nghe sách nói theo chuẩn DAISY bằng máy nghe chuyên dụng hoặc nghe bằng máy tính
Trang 211.4 Các yếu tố làm các website trờ nên khó tiếp cận với người khiếm thị?
Chúng ta xét đến m ột số lý do khách quan và chủ quan làm cho người khiếm thị khỏ tiếp cận website Các lý do này được xét riêng từ ba góc độ:
sử dụng website (người dùng website và các công cụ hỗ trợ sừ dụng website), cung cấp website (người phát triển website và các công cụ tạo lập nội dung web) và bàn thân nội dung cần tiếp cận trên website
content
Hình 1-1: Các yếu tố ảnh hưởng đến tinh dè tiép cận của website.
minh họa các yếu tố ảnh hưởng đến tính dễ tiếp cận của một website Các yếu tố này được phân tích (parse) trên cơ sở quan hệ giữa các thành
phản chủ yếu làm nên tính dễ ticp cận của các nội dung w eb do W A I định
nghĩa Lưu ý rằng, chi cần một trong các yếu tố trên khó tiếp cận (tức là gây
ra trở ngại hoặc gặp ứ ở ngại khi tạo lập, mô tả và khai thác nội dung web), website đó sẽ trở nên khó tiếp cận với người khiếm thị, cụ thể:
- Khi trình duyệt web, trình phát phim / ảnh / nhạc, công cụ hỗ trợ người dùng hay các thiết bị người dùng sử dụng có hỗ trợ một tính năng dễ tiếp cận, nhưng người khiếm thị không biết hoặc không sử dụng tính năng đó, hoặc tính năng đó chua được người phát triển website cài đặt cho sản phẩm của họ
Trang 22- Khi người phát triển muốn cài đặt một tính năng dễ tiếp cận cho sản phẩm của họ, nhưng các công cụ phát triển web chưa hỗ ứợ họ thực hiện việc cài đặt đó một cách dễ dàng.
- Khi những công cụ phát triển web cho phép dễ dàng đảm bảo tính
dễ tiếp cận cho website, nhưng người phát triển không đủ động cơ, thời gian hay nguồn lực làm cho sản phẩm của họ đảm bảo đặc tính này
- Khi người phát triển đảm bảo rằng người dùng có thể truy cập vào cùng một nội dung bằng nhiều phương thức khác nhau, nhưng người dùng lại không đủ các thiết bị hỗ ứ ợ để thực hiện các phương thức truy nhập đó
Ví dụ, để đảm bảo những người dùng có năng lực hành vi khác nhau
có thể tiếp thu một hình ảnh đăng trên website, có m ột giải pháp thông dụng
là gắn thêm lời chú thích cho hình ảnh đó Tuy nhiên, để giải pháp đó thực
sự có tác dụng làm cho hình ảnh trở nên dễ tiếp cận, tất cả các yếu tố sau cần được đảm bảo:
- Đặc tà (specification) kỹ thuật phải chi ra rằng mã nguồn HTML của ảnh (phần tử img) phải chứa thuộc tính văn bản (alt)
- Các tiêu chuẩn hay hướng dẫn về tính dễ tiếp cận như ISO 40500, ATAG 2.0 và UAAG 1.0 phải chi rõ cách thức cài đặt văn bản thay thế cho các thành phần khác nhau
- Người lập trình phải cung cấp nội dung văn bản thay thế
Các công cụ phát triển vvcb cho phép, tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy việc cung cấp văn bản thay thế trong một ừ ang web
- Phải có công cụ kiểm fra để xác nhận rằng văn bản thay thế có tồn tại
- Các thiết bị phía người dùng phải cung cấp giao diện người-máy
để truy cập vào văn bản thay thế
- Các công cụ hỗ trợ người dùng phải cung cấp giao diện người - máy để truy cập vào vàn bản thay thể theo các phương thức khác nhau
Trang 23- Người dùng phải biết cách sù dụng các thiết bị hay công cụ hỗ trợ
để truy cập vào văn bản thay thế khi cần thiết
1.4.1 Người dùng và các công cụ hỗ trợ
N hư minh họa trong , với vai trò người dùng, người bình thườngmuốn tiếp cận các nội dung web thì phải sử dụng trình duyệt, trình phát phim/ảnh/nhạc, trình đọc tệp tin Do có khuyết tật về thị giác, ngoài các công cụ nói trên, người khiếm thị cần sử dụng thêm các công cụ hỗ trợ chuyên dụng thì mới truy cập và sử dụng được các nội dung web Như vậy,
ờ đây phát sinh hai rào cản làm người khiếm thị khó tiếp cận nội dung web
Rào cản chủ quan:
o Khả năng mua sắm, sử dụng các công cụ hỗ trợ của ngườikhiếm thị
a) Người ơùng
Đối với người khiếm thị, khuyết tật thị giác là rào cản lớn nhất khi họ tiếp cận website Như mọi người dùng website khác, người khiếm thị có nhu cầu nhận biết, hiểu, truy cập, khai thác, tương tác và đóng góp các thông tin
và dịch vụ trực tuyến trên website Để thực hiện những công việc đó, giao diện đồ họa của các website là thách thức lớn nhất họ phải đối mặt
Nếu người dùng thông thường dễ dàng giao tiếp với trình duyệt web thông qua các thiết bị vào ra thông dụng như màn hình, bàn phím, chuột, loa, webcam, mic, máy in, v.v thì người khiếm thị gặp nhiều trở ngại khi sử
Trang 24dụng các thiết bị này Điều này dẫn đến việc giao tiếp giữa người khiếm thị với trình duyệt web nói riêng, máy tính nói chung trở nên kém hiệu quả.Người mù không thể nhận biết các nội dung website hiển thị trẽn màn hình hoặc xuất ra máy in Do không có khả năng xác định vị trí con trò trên màn hình, họ cũng không thể sử dụng chuột để thực hiện các tương tác với website Với bàn phím, họ có thể học thuộc vị trí các phím hay dùng như Esc, Tab, Enter, sau đó dùng xúc giác để định vị Ví dụ, trên bàn phím QWERTY, phím J ở giữa bàn phím bao giờ cũng có gờ nổi lên để giúp người mù định vị các phím chữ cái khác Nhìn chung, họ gặp nhiều khó khăn khi sử dụng bàn phím để tương tác Vậy, nếu chi sử dụng các công cụ như người bình thuờng và không có công cụ hỗ trợ chuyên dụng, người mù hầu như không thể tiếp cận được với các nội dung web.
Người mù màu hoặc thị lực kém chi nhận biết/đọc được một phần các nội dung website, tùy thuộc vào mức độ khuyết tật mắc phải Họ có thể tương tác với website bằng bàn phím dễ dàng hom người mù Họ vẫn có khả năng sử dụng chuột trong quá trình tương tác, nếu xác định được vị tri con trò trên màn hình (việc này là khả thi với người mù màu, nhưng tương đối khó với người thị lực kém)
to nội dung hiển thị
- Thứ hai là xây dựng các công cụ hỗ ừ ợ thị giác chuyên dụng Các công cụ này có thể là các thiết bị hoặc phần m ềm được cài đặt hoặc kết nối trực tiếp với máy tính của người khiếm thị Các công
cụ này thường được phân thành hai nhóm
o Nhóm thứ nhất gồm các công cu thích ứng (adaptive devices/softwares/technologies) Đây là các công cụ hỗ trợ hiển thị nội dung web sao cho người khiếm thị có thể cảm nhận bằng năng lực thị giác hiện có của họ Ví dụ: trình
Trang 25fihong to màn hình của hệ điều hành máy tính (hình 1-2), chức năng thay đổi cỡ chữ, thay đổi độ tương phản của website, v.v.
o Nhóm thứ hai gồm các công cu trơ giúp (assistive devices/softwares/technologies) Đây là các công cụ diễn giải nội dung web hiển thị trên màn hình thành các nội dung có thể cảm nhận bằng thính giác hay xúc giác Ví dụ: thiết bị chuyên dùng để hiển thị nội dung văn bản trên website dưới dạng chữ nổi Bright hay các trình đọc màn hình cho phép đọc nội dung văn bản trên website thành lời
L Công cụ hỗ trợ thị giác cho người mù
Người mù có thể sử dụng các công cụ sau đây để truy cập Web:
- Sử dụng m ột trình duyệt phổ thông (có giao diện đồ họa) cộng với trình đọc màn hình Đây là cách thức phổ biến nhất hiện nay tại Việt Nam N goài việc yêu cầu người dùng có cài đặt trình đọc màn hình (cài phần m ềm riêng hoặc plugin trình duyệt), không có yêu cầu đặc biệt gì về phía nhà cung cap website
- Sử dụng trình duyệt chuyên dụng, chi hiển thị nội dung văn bản (text web browser) như Lynx Việc này đòi hỏi các web site phải
hỗ trợ phiên bản riêng phù hợp với cách thức hiển thị thông tin của trình duyệt
- Sử dụng trình duyệt bằng giọng nói, cho phép người dùng tương tác với trình duyệt bằng giọng nói Tương tác này có thể là hai chiều (người dùng ra lệnh duyệt web bằng lời nói, nội dung web được trả về dưới dạng âm thanh), hoặc một chiều (nội dung web được trả về dưới dạng âm thanh)
iũ Công cụ hỗ trợ thị giác cho người thị lực kém
Đẻ truy cập và sử dụng Web, người thị lực kém có thể dùng các màn hình cực lớn, và tăng kích thước phông chữ hệ thống hay tàng kích thước ảnh Họ cũng có thể dùng các phần mềm cho phép phóng to màn hình hay nâng cao độ tương phản màu sắc trên màn hình Một sổ người sử dụng phối hợp các màu sắc có độ tương phản cao cho màu chữ và màu nền, ví dụ như
Trang 26phông chữ kích cỡ 24 point, màu vàng sáng trên nền đen Họ cũng có thể sử dụng các kiểu chữ phù hợp với các hạn chế về thị lực của họ.
iiL Công cụ h ỗ trợ thị giác cho người mù màu
Để sử dụng Web, một số người mù màu đặt kiểu hiển thị (style sheets) riêng của họ cho các trang Web, ví dụ, thiết lập lại các giá trị tham số về phông chữ, màu nền, v.v
Các công cụ hỗ trợ thị giác nói trên chi giúp đỡ người khiếm thị một phần trong quá trình sử dụng website, chứ không thể loại bỏ hoàn toàn các rào cản của họ Ví dụ, trình đọc màn hình chi đọc nội dung văn bản, không đọc được nội dung phi văn bản Vậy người mù rất khỏ phân biệt đâu là nội dung chính của website, bản chất của các nội dung đọc thành lời là gì (tên menu, liên kết, chú thích hình ảnh hay văn bản, hay thông báo từ phía website V V ) , chúng có quan hệ với nhau như thế nào
Ngoài ra, không phải người khiếm thị nào cũng có điều kiện sử dụng các công cụ này Thứ nhất, giá thành của các thiết bị này khá cao so với thu nhập của người Việt Nam Thứ hai là giao diện của các thiết bị này thường không hỗ trợ tiếng Việt nên người khiếm thị Việt N am khó sử dụng, dẫn đến việc không phát huy hết tác dụng vốn có
1.4.2 Nhà phát triển web và các công cụ hỗ trợ
N hư minh họa trong , với vai trò nhà phát triển web, để tạo ra website
dễ tiếp cận thì họ cần tới các công cụ tạo lập nội dung web đảm bảo tính dễ tiếp cận (authoring tools) và các công cụ kiểm tra đánh giá tính dễ tiếp cận của các nội dung đã tạo lập (evaluation tools)
Như vậy, ở đây phát sinh hai trở ngại ứong việc tạo ra website dể tiếp cận Thứ nhất là động cơ và năng lực của nhà phát triển trong việc đảm bảo tính dễ tiếp cận của website Thứ hai là mức độ phù hợp của các công cụ hỗ trợ tạo lập và kiểm tra nội dung web dễ tiếp cận với loại nội dung và dịch vụ web cần tạo lập
a) Nhà phát triển web
Chỉ đến khi số lượng các website trở nên quá lớn và nhu cầu tiếp cận thông tin, dịch vụ trực tuyến ừ ở thành hiển nhiên với mọi người dùng
Trang 27Internet, cộng đồng phát triển web mới nhận rõ tầm quan trọng của các website dễ tiếp cận.
Người thiết kế, phát triển website đóng vai trò then chốt trong việc xác định các yêu cầu về tính dễ tiếp cận cho từng website, cũng như định hướng và thực thi các giải pháp đảm bảo tính dễ tiếp cận cho từng
w ebsite Tuy vậy, việc thiết kế và lập trình website theo các nguyên tắc
dễ tiếp cận là nhiệm vụ không đom giàn với họ Nếu họ chưa từng phát triển w ebsite dễ tiếp cận, họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định các thành phần w ebsite làm phát sinh các lỗi khó tiếp cận và cách giải quyết cho phù hợp với năng lực hành vi của từng đối tượng khuyết tật Nhìn chung, việc thực thi các giải pháp hạn chế các trờ ngại do khuyết tật thị giác gây ra tốn thời gian và tài nguyên hom việc khắc phục các rào cản
do các loại khuyết tật khác
Mặt khác, khi xây dựng một website, doanh thu và hiệu quả thu hút người dùng, khả năng sử dụng sản phẩm là các yếu tố cần được ưu tiên xem xét Dễ thấy, xây dựng website dễ tiếp cận là một công việc tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc nhiều hơn so với các website thông thường
b) Các công cụ hỗ trợ
Mặc dù ý tưởng về việc thống nhất các quy định tạo lập nội dung web
để người khuyết tật dễ tiếp cận có từ rất sớm (1999), nhưng đến tận 2008, hướng dẫn nội dung web dễ tiếp cận WCAG 2.0 mới trở thành khuyến cáo của tổ chức W3C và đến 2012 mới được công nhận là tiêu chuẩn quốc tế ISO 40500 Tháng 9/2015 tổ chức W3C đưa ra khuyến cáo ATAG 2.0 về việc xây dựng các công cụ tạo lập nội dung dễ tiếp cận để hỗ trợ ngưòri khuyết tặt tự tạo lặp nội dung web Lưu ý là các quy trình phát triển website hiện có không đề cập rõ ràng đến việc phải đảm bảo tính dễ tiếp cận của website khi nào, như thế nào; và việc áp dụng các hướng dẫn nói trên để đảm bảo tính dễ tiếp cận của website chỉ dừng ở mức khuyến cáo
Các công cụ hỗ trợ lập trình viên web xây dựng trang web dễ tiếp cận
và dễ sử dụng gồm 2 nhóm chính:
L Công cụ tạo lập website và nội dung web d ễ tiếp cận
Các công cụ này được chia thành các loại sau:
Trang 28- Công cụ soạn thảo, ví dụ như các bộ soạn thảo HTM L và XML có giao diện đồ họa;
Công cụ tạo ra các nội dung đa phương tiện có thể dùng trong môi trường web;
- Công cụ quản lý hiển thị, ví dụ CSS;
- Công cụ tích hợp cho phép người dùng tự thêm nội dung vào website, ví dụ như các web site chia sè dữ liệu hay mạng
xã hội
iL Công cụ kiểm ưa, đánh giá tính d ễ tiếp cận của nội dung web
- Công cụ kiểm fra đánh giá tính dễ tiếp cận của nội dung web hiển thị phía người dùng: đối tượng kiểm tra là mã nguồn trang web dạng HTML
- Công cụ kiểm fra đánh giá tính dễ tiếp cận của nội dung web trongquá trình tạo lập: đối tượng kiểm t o là mã nguồn viết bằng cácngôn ngữ lập trình web hoặc mã mô tả kịch bản
Số lượng các công cụ hỗ trợ hiệu quả việc tạo lập nội dung dễ tiếp cận
và đánh giá tính dễ tiếp cận của website còn rất hạn chế Hầu hết các công
cụ tạo lập nội dung thông dụng chưa cho phép tạo ra các nội dung web thỏa mãn các nguyên tắc dễ tiếp cận của ISO 40500
Quá trình chuẩn hóa thiết kế của các website theo hướng dễ tiếp cận đang được thực hiện thủ công là chính Sau khi phát hiện lỗi, người thiết kế trang web phải dò từng phần để căn chinh sao cho phù hợp với các kỹ thuật đưa ra Để hiệu quả hom, ngoài việc phát hiện ra các lỗi hoặc cảnh báo về việc có thể vi phạm một số lỗi kỹ thuật nào đó; công cụ cần đưa ra gợi ý sửa
để trang web đáp ứng các kỹ thuật đó
Ví dụ, các hệ quản trị nội dung web (CMS) là công cụ đắc lực hồ trợ tạo website Để có một hệ quản trị nội dung tạo ra các nội dung dễ tiếp cận chúng ta phải giải quyết các vấn đề sau:
Trang 29Đàm bảo tính dễ tiếp cận của nội dung văn bản hiển thị trên client: các nội dung được người quản lí cho vào nhưng trong quá trình nhập thông tin nếu không chú ý sẽ tạo ra nội dung khó tiếp cận đối với những người dùng khuyết tật Ví dụ với người mù, họ phải sử dụng trình đọc màn hình để đọc văn bản, nếu định dạng tiêu đề văn bản không đúng, trình đọc sẽ không đọc tiêu đề đầu tiên, điều này gây ra sự khó nắm bắt đề mục đối với người mù.
Đảm bảo tính dễ tiếp cận của các nội dung được sinh tự động từ ngôn ngữ lập trình phía server: ngôn ngữ lập trình phía server như ASP.NET, PHP, Java cung cấp các thành phần điều khiển, các thành phần này sẽ sinh ra nội dung HTML tương ứng trả về khi client gửi yêu cầu Nếu các nội dung này không được khai báo đầy
đù các thuộc tính, chúng sẽ tạo ra các nội dung khó tiếp cận Ví dụ nếu không khai báo thuộc tính tooltip cho các nút điều khiển thì người dùng sẽ khó hiểu được chức năng các nút khi không có chú thích tooltip đi kèm
Kiểm tra tính dễ tiếp cận: phải có các tính năng đánh giá mức độ
dễ tiếp cận của các nội dung được quản lý trong CMS
Tuy nhiên, các công cụ này chưa có cơ chế gợi ý các nội dung cần đảm bảo tính dễ tiếp cận, cách định nghĩa các thẻ HTML để thỏa mãn các nguyên tắc trên, hay không hỗ trợ cú pháp/ngữ nghĩa các câu lệnh tự động sinh nội dung dễ tiếp cận Hom nữa, bản thân các công cụ đó cũng chưa thỏa mãn các nguyên tắc về tính dễ tiếp cận của các công cụ tạo lập nội dung nêu trong ATAG 2.0 Một hạn chế khác của các công cụ loại này là chưa có cơ
chế tự đ ộn g chuyển các trang IITM L có sẵn thành các trang IITM L đảm bào
tính dễ tiếp cận
Ngoài ra, các công cụ hỗ trợ đánh giá mức độ dễ tiếp cận của website còn chưa thực sự dễ dùng Mỗi công cụ thường chi kiểm tra được một số kỹ thuật, nên việc tổng hợp kết quả đánh giá cuối cùng vẫn thuộc về người phát triển Hon nữa, trở ngại lớn nhất là những lỗi này được kiểm fra trên phần nội dung sẵn sang hiển thị trên trinh duyệt phía người dùng (mã nguồn dạng HTML), trong khi có nhiều hơn một cách để tạo ra nội dung đó Ngay cả khi
đã khoanh vùng được đoạn mã HTML khỏ tiếp cận, việc tìm ra đoạn mã nguồn tương ứng là không dễ dàng, và thường phải thực hiện thủ công
Trang 30Chính vì lý do đó, việc sửa các lỗi khó tiếp cận đòi hỏi người phát triển phải
có kinh nghiệm
1.4.3 Nội dung web
Có một sự thật hiển nhiên là giao diện website là giao diện trực quan Theo đó, hầu hết các nội dung web đều được người dùng tiếp nhận qua kênh thị giác: hình ảnh, khung, lưới, bảng biểu, video, biểu mẫu, các nội dung tương tác trực quan Với người khiếm thị, việc tiếp nhận các nội dung này nhu nỏ vốn có là rất khó, thậm chí không thể thực hiện được Một số loại nội dung trực quan mà người khiếm thị khó tiếp cận bao gồm: các biểu thức toán học hay các công thức khoa học, bản đồ / biểu đồ / sơ đồ, phim / hình ảnh động, duyệt các bảng, biểu mẫu, lưới và các nội dung tự động sinh từ phía server thời gian thực
a) Nội dung người mù khó tiếp cận
Để truy cập vào các nội dung thông tin trong một trang web, người mù
sử dụng bàn phím Ví dụ, họ cỏ thể dùng phím Tab để chuyển hướng thông qua các tiêu đề hoặc liên kết trên các trang web chứ không phải đọc tất cả các từ trên trang theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới Tuy vậy,
họ không thể truy cập vào các nội dung sau:
- Hình ảnh minh họa phức tạp (ví dụ, đồ thị hoặc biểu đồ) không kèm theo mô tà đầy đủ bằng văn bản
- Video không được mô tả bằng vàn bản hoặc âm thanh
- Bảng biểu có nội dung xếp theo thứ tự ưu tiên cột (nếu đọc tuần tựnội dung các ô của bảng từ trái qua phải, hết hàng này đến hàng khác thì không hiểu ý nghĩa)
- Các nội dung được đặt trong các khung chứa mà không có tùychọn "NOFRAME", hoặc tên của các khung chứa không cỏ ý nghĩa
Các mẫu biểu mà người dùng không thể chuyển hướng giữa các trường nội dung của nó bằng phím Tab theo một trình tự hợp lý, hay các trường này không được gắn nhãn
Trang 31Ngoài ra, một số vấn đề kỹ thuật của trình đọc màn hình, trình duyệt hay các công cụ sinh nội dung web cũng gây trở ngại cho người mù:
Các trình duyệt và các công cụ sinh nội dung web thiếu hỗ ứ ợ điều khiển từ bàn phím cho tất cả các lệnh
Các trình duyệt và các công cụ sinh nội dung web không sử dụng giao diện lập trình ứng dụng tiêu chuẩn cho hệ điều hành tương ứng
Trình đọc màn hình không đọc được nội dung các định dạng tài liệu không theo chuẩn
b) Nội dung người thị lực kém khó tiếp cận
Theo cách này, người thị lực kém có thể gặp phải những rào cản sau đây khi truy cập và sử dụng các nội dung Web:
- Các trang web với kích thước phông chữ đặt cố định sẵn, không thay đổi (tăng giảm) một cách dễ dàng
Các trang web bị lỗi bố cục (layout), khó điều hướng khi mờ rộng,
do mất các nội dung xung quanh
Các ữang web hay các ảnh trên web có độ tương phản kém, hay các trang web không cho phép người dùng dễ dàng đặt lại tham số
về độ tương phản
Các văn bản hiển thị dưới dạng ảnh khi phóng to thì sẽ đè lên nội dung dòng văn bản kế tiếp
N g o à i ra, tùy thuộc vào loại và m ức độ tổn thưưng thị lực, người thị
lực kém cũng có thể gặp phải những rào cản như của người mù hoàn toàn
c) Nội dung người mù màu khó tiếp cận
Các rào cản mà những người mù màu có thể gặp phải khi truy cập và
Trang 32- Trình duyệt không hỗ trợ người dùng thay đổi kiểu hiển thị
Lưu ý là những rào cản này cũng ảnh hường đến những người bị bệnh dẫn đến suy giảm khả năng cảm nhận màu sắc, ví dụ như cận thị, viễn thị, loạn thị
Chính vì lý do đó, nhiều công cụ hỗ trợ đã được triển khai phía người dùng để cho phép người khiếm thị duyệt web và tiếp cận nội dung web bằng các giác quan khác nhau: thị giác, thính giác, xúc giác, v ề phía người phát triển, họ nỗ lực cung cấp nhiều nội dung thay thế để người khiếm thị có thể tiếp cận bằng thính giác hay xúc giác Tuy nhiên, không phải lúc nào các công nghệ hỗ trợ cũng song hành cùng các công nghệ tạo lập nội dung Ví dụ: trinh đọc màn hình chi đọc thành lời các nội dung văn bản Vậy, khi nghe nội dung thay thế, làm thế nào người khiếm thị phân biệt được đoạn văn bản nào là menu, đoạn văn bản nào là chú thích hình ảnh ? Trong trường hợp sử dụng thính giác như kênh tiếp nhận thông tin, cỏ hai vấn đề lớn phát sinh Thứ nhất là việc tạo ra mô tả bàng lời kèm theo tất cà các loại nội dung này lả công việc rất tốn thời gian và công sức Thứ hai là việc diễn giải các nội dung này thành lời không phải lúc nào cũng thực hiện được
1.5 Thế nào là website dễ tiếp cận với người khiếm thị?
Khả năng cảm nhận qua kênh thị giác là rào cản chính ngăn người khiếm thị tiếp cận các nội dung và dịch vụ trực tuyến trên website Rào cản này càng thể hiện rõ trong bối cảnh giao diện web là giao diện đồ họa, sử
dụng thị giác là kênh tương tác chính.
Môt website đưqc coi là dễ tiếp cân với người khiám thi nếu website
dó cho phép người khiếm thi tiếp cân các nôi dung và dich vu trục tuyến bằng năng lực hành vi vốn có của ho Như vậy, các nội dung và dịch vụ trực tuyến vốn có ừên website sẽ được cung cấp cho người khiếm thị dưới dạng các nội dung, dịch vụ tương đương và thay thế, cụ thể:
- Nội dung tương đương (equivalent content): nội dung cung cấp cho người khiếm thị giống hệt nội dung cung cấp cho các đối tượng người dùng khác, chi khác về dạng trình bày Ví dụ: cùng
Trang 33một nội dung văn bản được trình bày dưới các dạng sau: tệp âm thanh thu âm chính văn bản đó, tệp tin HTML mã hóa chính đoạn văn bản đó, hoặc màn hình hiển thị chữ nổi Braille hiển thị chính đoạn văn bản đó.
Nội dung thay thế (alternative content): nội dung cung cấp cho người khiếm thị không giống với nội dung cung cấp cho các đối tượng người dùng khác, nhưng cho phép các đối tượng người dùng khác nhau cùng cảm nhận được ý nghĩa của các nội dung này như nhau Ví dụ: hình ảnh cho người bình thường, mô tà hình ảnh cho người khiếm thị
Dịch vụ tương đương (equivalent service): các chức năng cung cấp cho người khiếm thị và người bình thường là giống nhau, chi khác nhau về cách thể hiện Ví dụ: trình duyệt cung cấp tập lệnh duyệt web bàng bàn phím giống hệt tập lệnh cung cấp bằng giọng nói.Dịch vụ thay thế (alternative service): dịch vụ cung cấp cho người khiếm thị không giống với dịch vụ cung cấp cho các đối tượng người dùng khác, nhưng cho phép tất cả các đối tượng người dùng đạt được mục đích giống nhau Ví dụ: người bình thường tự định
vị các nội dung web cần duyệt và dùng chuột để duyệt web Người khiếm thị cỏ thêm dịch vụ hỗ trợ định vị và sử dụng phím tắt để duyệt web
M ột website được coi là dễ tiếp cận với người mù nếu tất cả các thông tin cần được tiếp nhận qua kênh thị giác được chuyển thành các nội dung, dịch vụ tương đương hoặc nội dung, dịch vụ lliay llié đẻ họ có cliổ tiép nliậii
và tương tác bằng các giác quan khác như thính giác hay xúc giác
M ột website được coi là dễ tiếp cận với người có thị lực kém hoặc mù màu nếu tất cả các thông tin cần được tiếp nhận qua kênh thị giác được biểu diễn dưới dạng các nội dung tương đưcmg đủ để họ có thể tiếp nhận bằng năng lực thị giác vốn có Hoặc, các thông tin này được chuyển thành các nội dung, dịch vụ tương đương hoặc nội dung, dịch vụ thay thế để họ có thể cảm nhận bàng các giác quan khác như thính giác, xúc giác
Trang 341.6 Cần đảm bảo tính dễ tiếp cận cho các thành phần nào của website?
Theo chúng tôi, để người khiếm thị vượt qua các rào cản thị giác, cần đảm bảo tính dễ tiếp cận cho nội dung website, cách trinh bày nội dung, cách điều hướng truy cập (thứ tự duyệt web) và phương thức tương tác
- Nội dung: Tất cả các nội dung cần được thiết kế sao cho dễ hiểu,
dễ truy cập với người khiếm thị
- Kết xuất nội dung: Người khiếm thị phải nhận biết được cách định dạng, tổ chức thông tin trên website và quan hệ logic giữa chúng Nội dung cần được trinh bày sao cho luôn tương thích với các công cụ hỗ trợ hiện tại và sau này
- Điều hướng: Người khiếm thị phải biết được mình đang ờ đâu và
có thể tự điều hướng truy cập các thông tin trên website theo đúng thứ tự logic, nhận biết được các nội dung đã và đang đọc
- Hỗ trợ tương tác: Thông điệp phản hồi và trợ giúp của hệ thống với các hành động tương tác từ phía người dùng theo các phương thức tương tác mà họ sử dụng
1.6.1 Nội dung
Cần tạo lập nội dung web sao cho người khiếm thị cỏ thể tiếp cận các nội dung trực quan như hình ảnh, văn bản, các điều khiển trong biểu m ẫu Ngoài việc lấy được thông tin trên web, người khiếm thị phải sử dụng được tất cả các chức năng cung cấp cho người dùng phổ thông: liên kết, nút bấm, biểu mẫu nhập liệu, v.v
Các nội dung xây dựng theo hướng dễ tiếp cận cần tương thích với các
kỹ thuật hỗ trợ người dùng cuối, đặc biệt là với trình đọc màn hình, c ầ n có biện pháp để đưa ra các nội dung thay thế cho những nội dung trực quan thuần túy cho người khuyết tật thị giác
Các nội dung web thường được phân làm hai loại: loại nội dung một chiều (kết quả trả về) và nội dung tương tác (liên kết, thực đơn, nút tương tác, biểu mẫu điền thông tin v.v.)
Trang 35Khi thiết kế nội dung web, các loại nội dung sau đây thường làm phát sinh các lỗi khó tiếp cận:
Nội dung m ột chiều
o Ký pháp toán học, khoa học
o Hình ảnh, bản đồ ảnh
o Các nội dung đa phương tiện
o Lưới thông tin
o Bảng
o Nội dung sinh tự động phía server
Các ký pháp phức tạp như các biểu thức toán học, các công thức, các
mô hình hình thức rất khó biểu diễn dưới dạng người khiếm thị có thể hiểu được
Ví dụ: muốn chuyển một công thức đang được nhúng vào ừang web dưới dạng ảnh bitmap thành một đoạn văn bản thuần túy để trình đọc màn hình đọc thành lời cho người dùng, cần phải mô tả công thức đó bằng mã ASCII Trong trường hợp này, rất nhiều ký tự đặc biệt sẽ không biểu diễn được bằng mã ASCII, như vậy việc chuyển đồi không chính xác Nếu viết lại công thức bằng mã chuyên dụng như MathML, có hai vấn đề phát sinh làm người dùng khó nẳm bắt ý nghĩa của công thức Thứ nhất là nội dung
Trang 36văn bản tương đương sẽ dài hơn công thức gốc, khi trình đọc màn hình đọc thành lời sẽ rất khó theo dõi Thứ hai, mặc dù tất cả các ký tự đều được chuyển đổi, trình đọc màn hình chi đọc thành lời theo cú pháp của công thức, chứ không chuyển được ý nghĩa của công thức.
iL Hình ảnh và bản đồ ảnh
Thiết kế đồ họa là một trong số những ưu điểm của việc tối ưu hóa nội dung người dùng tiếp nhận, v ấ n đề phát sinh khi người dùng không thể tiếp nhận thông tin qua kênh thị giác Các thông điệp này bắt buộc phải được tiếp nhận qua kênh thị giác Việc mô tả bằng lời là chuyện không dễ dàng và mất nhiều thời gian; đôi khi không thể mô tả một cách có hệ thống
Trên giao diện website, có rất nhiều nội dung có thể biểu diễn dưới dạng hình ảnh: banner, ảnh nền, liên kết dạng ảnh, nút tương tác dạng ảnh, v.v Nếu không có phần mô tả hình ảnh bằng lời, người khiếm thị sẽ không thể tiếp nhận các hình ảnh Thêm vào đó, lời mô tả phải cỏ ý nghĩa phù hợp với nội dung hình ảnh, cho nên rất khó sinh tự động phần mô tả hình ảnh
Ví dụ: logo trên website thường được thiết kế để chuyển tải thông điệp
về ý nghĩa biểu tượng và bản sắc công ty Xét logo của hãng vận tải FedEx hiển thị trên trang web http://www.fedex.com như trong hình 1-2 Bằng hình mũi tên được tạo thành bởi khe hở giữa chữ "E" và chữ "x", hãng muốn truyền đến người dùng thông điệp quảng cáo về tốc độ và khả năng vận chuyển hàng hóa chính xác của hãng Hiệu ứng thị giác này chi xảy ra với màu sắc, kiểu chữ hiện tại của logo: nếu viết tên hãng FedEx bằng một kiểu chữ khác thi mũi tên sõ không xuất hiện; nếu viết 2 chữ “E” và “x” bằng màu sắc khác nhau thỉ cũng rất khó phát hiện ra thông điệp này Thậm chí, kiếu chữ và màu sẳc hiện tại còn tạo ra một cái thìa (với kích thước nhó hom mũi tên) từ khe hở giữa hai chữ “e” và “d”
Hình 1-2: Logo của hãng FedEx, ẩn chữa hình mũl tỗn và cál thìa.
Trang 37Như vậy, phải mô tả logo này bằng lời như thế nào cho người khiếm thị?
Neu lời mô tả logo chi ra thứ tự hiển thị của ảnh trên trang web (ví dụ, ảnh 1, ảnh 2 ) thì mô tả này vô nghĩa với người khiếm thị Hoặc, nếu chì
mô tả đây là biểu tượng của hãng FedEx thì sẽ không để lại ấn tượng gì cho người khiếm thị
Nếu lời mô tả logo đó chi đơn thuần chi ra công dụng của ảnh trong trang web thì người khiếm thị sẽ không nhận thức đó là biểu tượng của hãng(xem )
<img
src=7/im ages.fedex.com /im ages/c/tl/gh/logo-header-fedex.png"
alt="FedEx Home"
>
Hình 1-3: Mô tả logo của hăng FedEx írổn trang web http://www.fedex.com.
Lời diễn giải kiểu như “Bằng hình mũi tên được tạo thành bời khe hờ giữa chữ "E" và chữ "x", hãng muốn truyền đến người dùng thông điệp quảng cáo về tốc độ và khả năng vận chuyển hàng hóa chính xác của hãng” không thể giúp người khiếm thị hình dung được toàn bộ nội dung biểu tượng N hư minh họa trong , từ Fedex viết bằng chữ nổi Braille không tạo ra các hiệu ứng giống trong mô tả, do đó người khiếm thị không thể nào hình dung ra các hiệu ứng như với các chừ cái thông thường
• đÊk • W
Hình 1-4: Từ Fedex viét bằng chữ nổi Brallle.
Vấn đ ề tương tự xảy ra khi có một bản đồ ảnh, đồ thị hay biểu đồ Bản
đồ bao gồm các hình ảnh được bố trí gần nhau theo cùng một logic Nếu tất
cả các ảnh đ ều có chung một mô tả thì việc nhắc đi nhắc lại mô tả đó sẽ làm người khiếm thị mất định vùng cần tương tác Với đồ thị hay biểu đồ, việc
Trang 38tìm ra văn bản thay thế mô tả chính xác, ngắn gọn các thành phần trong biểu
iv Bảng
Các trình đọc màn hình đọc nội dung bảng theo thứ tự ưu tiên hàng (các ô trong cùng hàng đọc theo thứ tự từ trái sang phải, các hàng đọc từ trên xuống dưới) Nếu luồng duyệt tin trong bảng được thiết kế khác với luồng duyệt tin do trình đọc màn hình hỗ trợ (ví dụ, theo thứ tự ưu tiên cột hoặc sử dụng hiệu ứng trực quan để xác định thứ tự), người khiếm thị sẽ dễ
bị nhầm lẫn, không nắm bắt được cấu trúc luồng duyệt tin
V Các nội dung sinh tự động từ mã nguồn ph ía server
Thường có hai cách để kết xuất các nội dung sinh tự động từ mã nguồn phía server: kết xuất có điều kiện (người khiếm thị cần thực hiện một hành động ra lệnh kết xuất) hoặc không điều kiện (nội dung được kết xuất tự động) Khi lập trình các nội dung này, lập trình viên thường quên phần mô
tả các điều kiện kết xuất khiến người khiếm thị không tiếp cận được
b) Nội dung tương tác
• n • ^ _ I *_ !•*
L Biêu mâu nhập liệu
Người bình thường sử dụng chuột và bàn phím để điền thông tin vào biểu mẫu nhập liệu Việc định vị các ô nhập liệu, loại thông tin cần nhập, nhập lại khi mấc lỗi khá đơn giản với người dùng, do họ có thể dễ dàng xác định luồng duyệt tin thông qua thứ tự hiển thị trực quan Với người khiếm thị, việc tương tác là không dễ dàng do thiếu các thông tin định vị và hỗ trợ việc xác định bố cục của biểu mẫu nhập liệu
Trang 39iL N ội dung nhúng
Các phím tương tác, liên kết, thực đom, thường được viết dưới dạng các nội dung nhúng (Java applets, đối tượng lập trình, inline scripts) Với các nội dung này, người dùng khó xác định được bản chất của tương tác và mối quan hệ nhân quả khi thực hiện tương tác: trước khi tương tác ở đâu, sau khi tương tác đến đâu, có quay về được hay không, tìm cách quay về vị trí trước đó như thế nào
Hiện nay các phương pháp hiển thị nội dung web theo hướng dễ tiếp cận đã được tổng hợp trong chuẩn ISO 90500
1.6.2 Kết xuất nội dung
7 + /- 2 mục tin số lượng các nội đung và dịch vụ trực tuyến cần giới thiệu cùng lúc trên website (cùng xuất hiện trên một màn hình) nhiều hơn rất nhiều con số này Vì lý do đó, các nhà thiết kế website cần có các biện pháp thiết kế bố cục website nhằm giúp người dùng bao quát nội dung website, dễ dàng phân biệt được các nhóm thông tin, cũng như định vị thông tin chính trong số các nội dung được giới thiệu trên website
Chia ô (frames) là kỹ thuật hay được sử dụng để thiết kế bố cục
w ebsite Trong w cb được chia thành lưới các ô chữ nhật có kích thước to
nhỏ khác nhau Căn cứ vào thứ tự bố trí các ô, cách trình bày thông tin trong từng ô và các hiệu ứng nghe nhìn, người dùng sẽ bao quát toàn bộ thông tin trên website, xác định cấu trúc phân cấp thông tin Từ đó, họ xác định quan
hệ logic giữa các thông tin giới thiệu ừong các ô khác nhau, định vị các thông tin cần đọc và thứ tự đọc các thông tin
Bố cục của website rất đa dạng, nên ISO 40500 không đưa ra khuyến cáo
về thiết kế bố cục Tuy nhiên, bố cục của website liên quan mật thiết đến cách người dùng điều hướng truy cập nội dung website Khả năng điều hướng của người khiếm thị bị hạn chế nên trong chương 2 chúng tôi sẽ đề cập đến mẫu thiết kế bố cục phù hợp với cách điều hướng của người khiếm thị
Trang 40b) Cách trình bày
Cần quan tâm đến cả hai khía cạnh: thiết kế cách trình bày nội dung sao cho người khiếm thị có thể dễ tiếp thu, và cơ chế hỗ trợ người khiếm thị thiết lập cách trình bày phù hợp với năng lực hành vi của họ Đe có cách trình bày phù hợp người thiết kế cần để ý đến định dạng quy chuẩn và tính nhất quán của website và các thành phần trên đó, việc sử dụng màu sắc và
độ tương phản hợp lý Điểm đáng chú ý chính là làm cho người dùng dễ dàng tách biệt được thông tin chính và thông tin nền Ví dụ: độ tương phản tối thiểu là 4:5:1 cho các văn bản thông thường Ngôn ngữ của trang hoặc ngôn ngữ của các phần ừong trang có thể xác định một cách tự động Cơ chế thiết lập cách trình bày cho phép người khiếm thị có thể kiểm soát các thông tin mà họ tiếp cận một cách chủ động Chẳng hạn như, nếu bất kỳ âm thanh nào trên một trang web chạy tự động trong vòng quá 3 giây, cần có cơ chế để nguời khiếm thị tạm dừng hoặc tắt âm thanh đó, hoặc cơ chế để họ điều khiển âm lượng âm thanh một cách độc lập với mức âm lượng của toàn
hệ thống Ngoài ra, văn bản có thể được thay đổi kích thước tới 200% mà không cần đến công cụ hỗ trợ, nhưng không làm mất nội dung hoặc tính năng của nó
1.6.3 Điều hướng
Với người dùng thông thường, điều hướng truy cập là sự kết hợp các thông tin nhìn thấy, nghe thấy từ website và cảm nhận các thông tin này theo cách riêng của họ để truy cập một nội dung hay dịch vụ trực tuyến Điều hướng truy cập thường được phân làm 2 loại:
Điều hưómg giữa các nội dung trên website (ví dụ duyệt các trang trên cùng một website; chuyển giữa các website khác nhau, chuyển từ menu của website sang các nội dung hiển thị ừên website)
- Điều hướng giữa các thành phần của cùng m ột nội dung có cấu trúc (ví dụ như duyệt bảng, biểu mẫu, danh sách)
Trong cả hai trường hợp, điểm mấu chốt là người dùng phải nhận biết được cấu trúc của luồng duyệt tin càng nhanh càng tốt: họ đã xem những nội dung gì, họ đang ở đâu, họ sẽ xem tiếp những gì N hư vậy, để điều huớng