1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Đề xuất xây dựng hệ thống chia sẻ tài nguyên dựa trên hệ lưu trữ phân tán và kiểm soát truy cập

8 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 408,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hệ thống chia sẻ trên mạng hiện nay thường theo mô hình client-server. Do đó, các truy xuất dữ liệu trên mô hình này đều phụ thuộc vào hệ điều hành mạng hay server chia sẻ xong lại không đồng nhất trên nhiều phiên bản OS. Bên cạnh đó, một mô hình mạng chia sẻ Peer-to-Peer (P2P) không quan tâm đến quản lý người sử dụng và truy xuất dữ liệu lại đang phát triển mạnh mẽ dẫn đến một số vấn đề về tự do truy cập tài nguyên và vi phạm bản quyền sản phẩm. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất hệ thống chia sẻ tài nguyên mới dựa trên hệ lưu trữ phân tán kết hợp kiểm soát truy cập để khắc phục các vấn đề của các hệ thống chia sẻ hiện nay.

Trang 1

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHIA SẺ TÀI NGUYÊN

DỰA TRÊN HỆ LƯU TRỮ PHÂN TÁN VÀ KIỂM SOÁT TRUY CẬP

Tạ Minh Thanh 1 *, Nguyễn Hiếu Minh 1 , Đỗ Thị Bắc 2

1 Học viện Kỹ thuât quân sự,

2 Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông

TÓM TẮT

Các hệ thống chia sẻ trên mạng hiện nay thường theo mô hình client-server Do đó, các truy xuất dữ liệu trên

mô hình này đều phụ thuộc vào hệ điều hành mạng hay server chia sẻ xong lại không đồng nhất trên nhiều phiên bản OS Bên cạnh đó, một mô hình mạng chia sẻ Peer-to-Peer (P2P) không quan tâm đến quản lý người

sử dụng và truy xuất dữ liệu lại đang phát triển mạnh mẽ dẫn đến một số vấn đề về tự do truy cập tài nguyên

và vi phạm bản quyền sản phẩm Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất hệ thống chia sẻ tài nguyên mới dựa trên hệ lưu trữ phân tán kết hợp kiểm soát truy cập để khắc phục các vấn đề của các hệ thống chia sẻ hiện nay

Từ khóa: client - server, hệ thống chia sẻ tài nguyên, Peer-to-Peer, lưu trữ phân tán, kiểm soát truy cập

 TỔNG QUAN

Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh

mẽ của internet với băng thông rộng như ADSL,

FTTH, người dùng đầu cuối có thể trao đổi các

sản phẩm multimedia dung lượng lớn dễ dàng và

hiệu quả Bên cạnh đó, sự ra đời của các thiết bị

lưu trữ công nghệ cao, giá thành rẻ giúp người

dùng có thể lưu trữ thuận tiện và có thể chia sẻ

mọi lúc, mọi nơi các sản phẩm số qua internet

Chính vì có sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ

mà nhu cầu trao đổi dữ liệu trong mạng của các tổ

chức cũng đang ngày một tăng và có xu hướng

bùng nổ

Hiện nay, các hệ thống chia sẻ file hoạt động trên

mạng network đã được biết đến rộng rãi Mỗi hệ

thống được tận dụng hiệu quả dựa trên các đặc

điểm của hệ thống để quản lý người dùng hay

quản lý dữ liệu được chia sẻ Các hệ thống chia sẻ

file hoạt động phụ thuộc vào hệ điều hành (OS:

Operating System) như NFS, Netware, LAN

Manager, được biết đến là các hệ thống có tổ

chức chặt chẽ với quản lý phân quyền, chia sẻ đối

với từng người dùng khi truy cập vào hệ thống

nhưng phải có sự cho phép của server Mặt khác,

các hệ thống chia sẻ file mà không phụ thuộc vào OS,

hoạt động trên mô hình client-server được phát

triển mạnh mẽ hơn cả Hệ thống bao gồm hai

phương thức chính: lợi dụng FTP server, HTTP

server để chia sẻ file hoặc giao thức peer-to-peer

(P2P) để mở rộng mạng lưới chia sẻ và sử dụng tài

nguyên như Napster, Gnutella[1], Freenet[2],

BitTorrent, Winny, Trái ngược với việc người

dùng đầu cuối bị quản lý chặt chẽ bởi server trên

các hệ thống chia sẻ file phụ thuộc OS, các hệ thống chia sẻ file không phụ thuộc OS không quản

lý người dùng đầu cuối mà cung cấp một môi trường chia sẻ file tự do cho người dùng cuối khi truy cập vào mạng chia sẻ Chính việc tự do trong

sử dụng tài nguyên chia sẻ nên có nhiều vấn đề về quản lý truy cập tài nguyên bản quyền dẫn đến vi phạm bản quyền sản phẩm số, bản quyền phần mềm và bảo mật hệ thống

Trước vấn đề trên, việc xây dựng một hệ thống chia sẻ tài nguyên thân thiện và dễ sử dụng như mạng P2P, đồng thời quản lý được việc truy xuất tài nguyên đối với người dùng đầu cuối là cần thiết Nếu xây dựng hệ thống chia sẻ tài nguyên trong điều kiện các hệ thống OS khó thống nhất được như hiện nay mà vẫn đòi hỏi có sự quản lý

về truy cập đối với người dùng cuối thì buộc phải

sử dụng phương thức client-server Tuy nhiên, nếu

sử dụng mô hình client-server thì việc server phải chịu tải lớn trong việc điều khiển truy cập, quản lý người dùng phức tạp, duy trì server, gặp nhiều khó khăn Để giải quyết được các vấn đề gặp phải trong mô hình client-server, ta có thể sử dụng giao thức P2P để triển khai hệ thống chia sẻ tài nguyên; song khi sử dụng kỹ thuật P2P để xây dựng thì không có cơ chế giám sát và quản lý người dùng đầu cuối Hơn nữa, trong cả hai mô hình nói trên,

do file chia sẻ phụ thuộc vào hệ thống mạng chia

sẻ (các server, các máy chứa file tham gia mạng P2P) nên việc chia sẻ file trong các mô hình mạng hiện nay chưa đạt hiệu quả tốt nhất Do đó, bài báo

đề xuất phương án xây dựng hệ thống chia sẻ tài nguyên phân tán trên cơ sở tận dụng các tài nguyên trống dư thừa trên mạng và sử dụng giao thức P2P Trong hệ thống này, một file chia sẻ

Trang 2

Tạ Minh Thanh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 86(10): 67 - 74 được phân chia làm nhiều mảnh dữ liệu và được

lưu trữ phân tán trên các thiết bị lưu trữ còn dư

thừa trên mạng để tận dụng hiệu quả các nguồn tài

nguyên trên mạng Các máy tính tham gia cung

cấp dung lượng lưu trữ trong mạng P2P sẽ đóng

vai trò như một servent[3] để cấu hình nên kho dữ

liệu phân tán Ngoài ra, khi dữ liệu được phân chia

làm nhiều mảnh nhỏ, có thể thêm vào các thông

tin cần thiết để quản lý truy cập và phục hồi dữ

liệu khi hệ thống gặp sự cố Phần 2 của bài báo

phân tích các hệ thống chia sẻ tài nguyên hiện nay

và các nhược điểm chủ yếu Từ đó, đưa ra mô hình

đề xuất trong phần 3 Cuối cùng, bài báo đánh giá

mô hình đề xuất và tính khả thi khi triển khai

trong thực tế

CÁC HỆ THỐNG CHIA SẺ HIỆN NAY

Các loại hệ thống chia sẻ tài nguyên

Trong các loại hệ thống chia sẻ được sử dụng rộng

rãi hiện nay, có thể chia thành hai loại cơ bản sau:

Loại 1: Đây là hệ thống chia sẻ tài nguyên phụ

thuộc vào hạ tầng cung cấp cho tầng mạng hay các

OS riêng biệt Hệ thống này sẽ tận dụng chức năng

quản lý người dùng của OS để quản lý việc chia sẻ

tài nguyên và truy xuất dữ liệu Tuy nhiên, trong

điều kiện phát triển phong phú các dạng

multi-platform như hiện nay, việc thống nhất các giao

thức cho các hệ thống chia sẻ trên nhiều OS là khá

phức tạp Tóm lại, các hệ thống chia sẻ tài nguyên

loại 1 phụ thuộc rất nhiều vào các platform Ví dụ,

trên UNIX có hệ thống NFS (Network File

Sytem); trên Microsoft có hệ thống LAN

Manager

Loại 2: Đây là hệ thống chia sẻ tài nguyên được

phát triển để phù hợp với môi trường

multi-platform hiện nay Hệ thống này vượt qua giới hạn

quản lý người dùng đầu cuối khi truy cập vào

mạng chia sẻ Bất cứ người dùng đầu cuối nào khi

tham gia vào hệ thống chia sẻ đều có thể là servent

độc lập Giao thức tiêu biểu sử dụng trong hệ

thống này là hệ thống P2P

Network File Sytem (NFS)[4]

NFS cung cấp chức năng chia sẻ tài nguyên cho

nhiều hệ thống UNIX workstation NFS sử dụng

giao thức Run RPC, khi truyền dữ liệu thì sử dụng

UDP/IP Hệ thống chia sẻ tài nguyên NFS có chức

năng như hệ thống tài nguyên trên máy cá nhân;

dữ liệu trên các máy sẽ được kết nối (mount) vào

cơ sở dữ liệu của NFS và chia sẻ trên mạng NFS không cung cấp chức năng quản lý người dùng đầu cuối mà sử dụng chức năng quản lý người dùng của OS Chính vì vậy, nếu vượt qua hệ thống một OS đồng nhất thì NFS không thể quản

lý được người dùng Mặt khác, độ bảo mật của dữ liệu được chia sẻ hoàn toàn phụ thuộc vào chức năng quản lý người dùng và bảo mật của OS Bởi vậy, hệ thống chia sẻ tài nguyên NFS chỉ thích hợp với môi trường đồng nhất OS và sẽ có hiệu quả khi bảo mật hệ thống được bảo đảm trong toàn mạng

Giao thức P2P

Napster, Gnutella, Freenet, là hệ thống chia sẻ tài nguyên đại diện cho giao thức P2P Với các phần mềm này, người dùng đầu cuối có thể chia

sẻ, trao đổi dữ liệu thông qua upload và download Thực chất, hệ thống P2P là mạng ngang hàng được tự hình thành bởi người dùng đầu cuối khi có nhu cầu sử dụng Mạng P2P có thể được phân ra làm 2 loại là hỗn hợp (Hybrid) và thuần nhất (Pure)

Napster là một dạng hệ thống thuộc loại Hybrid Khi các servent khởi động ứng dụng Napster thì đồng thời tự động kết nối và sau đó các servent sẽ gửi danh sách các content mình có đến Napster server Các lệnh tìm kiếm content được thực hiện thông qua gửi câu lệnh Query đến Napster server Napster server sẽ gửi trả lại kết quả tìm kiếm (người sở hữu, chất lượng content, ) cho servent tương ứng Khi đó, servent sẽ thiết lập liên kết TCP với servent sở hữu content và dữ liệu bắt đầu được truyền tải

Bên cạnh đó, Gnutella và Freenet là hệ thống thuộc loại Pure Trong đó, các servent sau khi khởi động sẽ thiết lập kết nối TCP và duy trì để tạo mạng trao đổi content Loại Pure khác với loại Hybrid ở chỗ không tồn tại một server để quản lý thông tin content, việc tìm kiếm và phát hiện content được thực hiện trên toàn mạng

Thông thường, các hệ thống chia sẻ bằng giao thức P2P được thực hiện bằng phương thức chia sẻ danh sách dữ liệu sở hữu của các servent Việc lưu trữ các dữ liệu chia sẻ được thực hiện riêng biệt

Trang 3

trên các servent; tìm kiếm dữ liệu chia sẻ được

thực hiện trên cơ sở danh sách dữ liệu sở hữu của

các servent

Vấn đề điều khiển truy cập tài nguyên chia sẻ

được thực hiện bởi các servent nên khác biệt hoàn

toàn với hệ thống NFS Các điều khiển truy xuất dữ

liệu đối với người dùng được thực hiện thông qua

việc trao đổi các thông điệp điều khiển (control

message) giữa các servent Hầu hết các servent

tham gia mạng P2P đều có thể tự chia sẻ và tự quản

lý tài nguyên

Các vấn đề cần khắc phục

Với các hệ thống chia sẻ tài nguyên nêu trên, ta có

được bảng tổng hợp đặc trưng của chúng như sau:

Hầu hết các hệ thống chia sẻ hiện nay đều không

có chức năng quản lý truy cập của người dùng đầu

cuối Bên cạnh đó, các tài nguyên được chia sẻ

trên mạng đều lưu trữ trên thiết bị của server hay

servent để phục vụ cho nhu cầu upload và

download của client nên tài nguyên chia sẻ phụ

thuộc vào mạng chia sẻ được hình thành; dẫn đến

việc không tận dụng được hết các dung lượng dư

thừa của các thiết bị lưu trữ trên mạng

HỆ THỐNG CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DỰA

TRÊN HỆ LƯU TRỮ PHÂN TÁN

Điều kiện cần

Bảng 1 Đặc trưng của các hệ thống chia sẻ

Phân

loại Ví dụ Đặc trưng

Loại 1

NFS

Lan

Manager

- Tài nguyên chia sẻ tồn tại trong cấu trúc mạng

- Không có chức năng điều khiển truy cập mà phụ thuộc vào OS

- Tính bảo mật của tài nguyên chia sẻ không cao

Loại 2

Napster

Gnutella

Freenet

Winny

- Tài nguyên chia sẻ tồn tại trên từng thực thể servent

- Không có chức năng điều khiển truy cập mà phụ thuộc vào thông điệp điều khiển

- Tính bảo mật của tài nguyên chia sẻ thấp

Giả sử trong một mạng qui mô nhỏ, các máy tính tham gia mạng có dung lượng ổ cứng lớn để lưu trữ dữ liệu Thông thường, chúng không sử dụng hết dung lượng ổ cứng nên trên toàn mạng tổng dung lượng dư thừa ổ đĩa rất lớn [5,6] Vậy nếu xây dựng một hệ thống chia sẻ tài nguyên trên cơ

sở tận dụng các nguồn lưu trữ dư thừa trên toàn mạng sẽ tận dụng được khá hiệu quả dung lượng

dư thừa, nâng cao được hiệu suất sử dụng thiết bị lưu trữ Trên có sở đó, chúng tôi đã đề xuất kỹ thuật kiểm soát truy cập nguồn tài nguyên chia sẻ của mạng đến người dùng đầu cuối để nâng cao tính bảo mật tài nguyên chia sẻ

Hệ thống đề xuất

Với điều kiện trên, chúng tôi đề xuất mô hình hệ thống chia sẻ tài nguyên trên hệ lưu trữ phân tán như trong hình 1

Trong hình 1, người phân phối (người phục hồi), người lưu trữ sử dụng các máy tính có dung lượng lưu trữ phân tán được sử dụng trong hệ thống chia

sẻ P2P; đóng vai trò là các servent độc lập Các servent trong hệ thống đề xuất có thể thực hiện được các thao tác lưu trữ hay phục hồi dữ liệu chia

sẻ

Với hệ thống này, các đơn vị dữ liệu của dữ liệu chia sẻ được phân chia trước khi phân phối để lưu trữ được gọi là đoạn dữ liệu (segment) Trên mỗi segment, ta thêm vào thông tin điều khiển để quản

lý truy xuất dữ liệu của người dùng đầu cuối và các thông tin để phục hồi lại dữ liệu khi có sự cố Thông tin trao đổi giữa các servent là trao đổi các thông tin điều khiển này (gọi là list-information)

để thống nhất quản lý người dùng đầu cuối

Trang 4

Tạ Minh Thanh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 86(10): 67 - 74

Hình 1 Mô hình hệ thống đề xuất

Trong xử lý lưu trữ, giả sử servent là người phân

phối C có nhu cầu lưu trữ dữ liệu bất kỳ trên mạng

P2P, C sẽ chọn người lưu trữ S trong các servent

trên mạng, sau đó phân đoạn dữ liệu thành nhiều

segment và phân phối lưu trữ trên thiết bị lưu trữ

của S

Khi đó, người phân phối C cũng phân phối thông

tin phân đoạn dữ liệu trên toàn mạng bao gồm cả

thông tin của người lưu trữ S thông qua cập nhật

list-information

Mặt khác, trong xử lý phục hồi dữ liệu, nếu

servent là người phục hồi R có yêu cầu phục hồi

dữ liệu đã được lưu trữ phân tán trên mạng, R sẽ

thu thập các segment được phân tán lưu trữ trong

các thiết bị lưu trữ của S thông qua list-information để phục hồi nguyên vẹn dữ liệu ban đầu Người phục hồi R có thể phục hồi nguyên vẹn được các dữ liệu do bản thân mình phân đoạn

và phân phối lưu trữ trên các hệ thống của S

Xử lý lưu trữ

Trong xử lý lưu trữ, người phân phối C phải thực hiện các thao tác phân đoạn và phân phối dữ liệu trên các servent đã lựa chọn Người phân phối C

sẽ thực hiện phân đoạn dữ liệu đến đơn vị bit cho từng segment

Nhờ vậy, sau khi lưu trữ phân tán dữ liệu trên các thiết bị của S (bao gồm cả C), dữ liệu chia sẻ không bị phục hồi bất hợp pháp bởi S mà vẫn đảm bảo tính toàn vẹn khi C hoặc R phục hồi lại dữ liệu; do đó khẳng định tính tin cậy của hệ thống chia sẻ tài nguyên Khi phân đoạn dữ liệu, C thêm vào thông tin điều khiển cho từng segment là các thông tin phân phối và phục hồi cho dữ liệu và từ

đó tạo các thông tin điều khiển để phân phối Sau khi thực hiện các thao tác phân đoạn và phân phối, C gửi các thông tin điều khiển thông qua list-information tạo được cho người lưu trữ S Các thao tác phân đoạn và phân phối trên mạng P2P của C được mô tả trong hình 2

Hình 2 Cách thức phân đoạn và phân phối segment Hình 3 Cách thức thu thập và phục hồi các segment

Xử lý phục hồi

Trong xử lý phục hồi dữ liệu, người phục hồi R phải thực

hiện thao tác thu thập tất cả các segment từ mạng chia sẻ dữ

liệu, sau đó tiến hành loại bỏ thông tin điều khiển, kết hợp

dữ liệu để thu được dữ liệu ban đầu R sẽ trên cơ sở lấy

được các thông tin điều khiển từ S để đánh giá khả năng

phục hồi của dữ liệu chia sẻ Nếu dữ liệu chia sẻ có thể phục hồi được thì R sẽ kết hợp các segment tương ứng và tiến hành xử lý phục hồi dữ liệu Việc đánh giá xem dữ liệu

có thể phục hồi được hay không là căn cứ thông tin điều khiển (header information) trong các segment khi phân

Trang 5

đoạn dữ liệu Xử lý mà R thực hiện được mô tả trong hình

3

Quản lý truy xuất tài nguyên chia sẻ

Với hệ thống đề xuất trên, việc quản lý truy xuất tài nguyên

chia sẻ không phụ thuộc vào OS có thể thực hiện được

thông qua việc điều khiển thông tin điều khiển (header

information) của các segment Từ các thông tin điều khiển

này, lấy được danh sách các segment thuộc dữ liệu đã được

phân đoạn Vì thế, việc thực hiện truy xuất đối với tài

nguyên chia sẻ trong hệ thống có thể thực hiện được thông

qua các thông tin được cấu thành trong thông tin điều khiển

của segment Ở đây, quyền truy xuất đối với dữ liệu chia sẻ

trong mạng được phân chia làm hai mức: công khai –

public (trường hợp cả người phân phối và người lưu trữ đều

có thể phục hồi dữ liệu) và bí mật – private (trường hợp chỉ

có người phân phối mới có thể phục hồi được dữ liệu) Với

bảng phân quyền như trong bảng 2 có thể định nghĩa được

các thông tin trong thông tin điều khiển để quản lý truy

xuất dữ liệu chia sẻ (trong đó, √: thỏa mãn và ×: không thỏa

mãn)

Trường hợp muốn công khai chia sẻ tài nguyên, người phân

phối C phân đoạn các segment sao cho thông tin điều khiển

segment của người lưu trữ S giống thông tin điều khiển

segment của người phân phối (Hình 4) Mặt khác, khi muốn

thông tin chia sẻ được giữ bí mật, thông tin điều segment của

người phân phối và người lưu trữ phải khác nhau (Hình 4)

Khi các client (các đối tượng tham gia mạng P2P) muốn truy

xuất tài nguyên chia sẻ trên mạng, các client sẽ trích rút các

thông tin từ thông tin điều khiển của các segment để tạo

thành một danh sách các segment đã được phân phối để lưu

trữ trên S, từ đó kết hợp các segment lại để phục hồi lại

được dữ liệu ban đầu Trường hợp chỉ người phân phối mới

có thể phục hồi được dữ liệu ban đầu thì người phân phối

sử dụng khóa K đã được mã hóa để phục hồi lại dữ liệu

Bảng 2 Thông tin điều khiển

(Header Information)

Đối

tượng sở

hữu

Header information (Nội dung thông tin header)

Người

phân phối

C

S: địa chỉ IP của người phân phối √ √ 32 bit N: tên của file

P: dung lượng của của file gốc √ √ 16 bit

LD: danh sách địa chỉ IP của người lưu trữ

√ √ 32 bit

Người

lưu trữ S

K: Khóa bí mật của những người tham gia chia sẻ tài nguyên

× √

Phương pháp tạo khóa K

Khóa K được tạo ra bởi một hàm số HASH với đầu vào là các tham số: địa chỉ IP của người phân phối, tên file, địa chỉ IP của người lưu trữ Bởi vậy, mỗi một giá trị K được tạo ra sẽ là tham số duy nhất trong toàn mạng

Người phân phối C sau khi phân đoạn dữ liệu sẽ dùng địa chỉ IP của người lưu trữ S để tạo khóa K, sau đó thêm khóa

K là thông tin điều khiển của segment và gửi segment đến nơi lưu trữ tương ứng Người phục hồi (thực chất là người phân phối C) khi muốn phục hồi lại dữ liệu ban đầu thì phải tạo khóa K và dùng khóa K làm thông tin để tìm kiếm các segment đã được phân tán trên các ổ lưu trữ

Trong trường hợp các máy trạm trong mạng được cấu hình địa chỉ IP động theo dịch vụ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) server, các servent sẽ không giữ được thống nhất địa chỉ IP trong mỗi lần truy cập mạng dẫn đến việc khó xác định được khóa K đồng nhất để phục hồi lại dữ liệu ban đầu Khi đó, việc xác định lại tham số để sinh ra một khóa K duy nhất là cần thiết Trong trường hợp này, khi xác định được mạng có sử dụng dịch vụ DHCP để cấp phát địa chỉ IP cho các máy trạm, thuật toán sẽ sử dụng địa chỉ vật lý MAC (Media Access Control) của người phân phối và người lưu trữ để tạo khóa K và cập nhật vào list-information

Khả năng phục hồi dữ liệu khi có sự cố

Hình 4 Cấu trúc của các segment trong điều khiển truy xuất tài

nguyên

Trên hệ thống lưu trữ phân tán đề xuất, tùy thuộc vào trạng thái của các servent mà các segment sau khi được phân đoạn và lưu trữ phân tán không phải lúc nào cũng có thể thu hồi được đầy đủ để phục hồi lại dữ liệu ban đầu Bởi vậy, để giải quyết được vấn đề này, hệ thống lưu trữ phân tán này có thể thêm vào các thông tin dung lỗi trên các segment để có thể tự sửa lỗi khi có sự cố xảy ra đối với các segment đã lưu trữ phân tán Chính vì thế, hệ lưu trữ phân tán có thể trở thành một hệ thống chia sẻ tài nguyên bền vững với khả năng tự dung lỗi khi xảy ra hiện tượng mất dữ liệu Tuy nhiên, việc thêm mã sửa lỗi vào các segment và phân phối lên các servent lưu trữ phân tán cần phải tính

Trang 6

Tạ Minh Thanh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 86(10): 67 - 74 toán sao cho dung lượng của mã sửa lỗi phải nhỏ hơn dung

lượng dữ liệu đã được phân đoạn Các mã sửa lỗi có thể sử

dụng để phục hồi lỗi trong quá trình xảy ra sự cố như mã

BCH, CRC-10, CRC-11,

Như vậy, với việc thêm kèm mã sửa lỗi vào các segment

khi phân phối lưu trữ phân tán lên các thiết bị của người

lưu trữ, dù các servent không tham gia trong quá trình có

nhu cầu phục hồi dữ liệu đi chăng nữa thì dữ liệu ban đầu

cũng có thể phục hồi về trạng thái gần giống ban đầu mà có

thể chấp nhận được Với khả năng tự phục hồi lỗi khi có sự

cố khiến hệ thống chia sẻ tài nguyên có độ bền vững cao

đối với các sự cố có thể xảy ra

THUẬT TOÁN THỰC HIỆN TRÊN HỆ THỐNG ĐỀ

XUẤT

Thuật toán lưu trữ dữ liệu phân tán

Hình 5 Các bước thực hiện lưu trữ phân tán

Người phân phối C khi có nhu cầu chia sẻ dữ liệu lên mạng

P2P, trước khi phân phối trên mạng, người phân phối C cần

xác định rõ mục đích chia sẻ lên mạng là công khai hay bí

mật để khởi tạo thông tin điều khiển thêm vào các segment

và tiến hành phân phối đến các servent lưu trữ Các bước

thực hiện phân đoạn và lưu trữ segment trên toàn mạng

được mô tả trong hình 5

Step 1 Người lưu trữ C xác định dung lượng và số lượng

phân mảnh dữ liệu sẽ lưu trên hệ thống mạng

Step 2 C tiến hành phân đoạn dữ liệu segment

Step 3 C xác định mục đích chia sẻ dữ liệu (public hay

private) và xác định các thông tin điều khiển để thêm vào

các segment

Trang 7

Step 4 C phân phối các segments cho các

servent tương ứng để lưu trữ

Step 5 Tại các servent của người lưu trữ S, S

thực hiện việc nhận dữ liệu segment và lưu trữ

trên vùng ổ đĩa dư thừa

Step 6 S thay đổi các thông tin trong

list-information và trao đổi thông tin này với C

Step 7 C so sánh các thông tin trong

list-information và cập nhật các thông tin đã thay đổi

để kết thúc quá trình lưu trữ phân tán

Sau khi thực hiện các bước lưu trữ phân tán các

mảnh dữ liệu, C và S đồng thời có được thông

tin lưu trữ trong list-information Tuy nhiên,

trường hợp khi dữ liệu được lưu bởi trạng thái là

“public”, C và S sẽ có list-information là như

nhau; khi đó, cả C và S đều có thể phục hồi được

dữ liệu về trạng thái ban đầu Mặt khác, nếu trạng

thái của dữ liệu được lưu trữ là “private” thì

thông tin điều khiển của C và S là khác nhau

nhằm mục đích chỉ có C mới có thể phục hồi lại

dữ liệu ban đầu

Thuật toán phục hồi dữ liệu ban đầu

Khi người phân phối C (người phục hồi) có nhu

cầu phục hồi dữ liệu ban đầu, C kiểm tra trong

list-information của mình khả năng phục hồi của

dữ liệu muốn phục hồi Tiếp theo, C sẽ sử dụng

khóa K tạo được để yêu cầu các segments đang

được lưu trữ phân tán trên các hệ phân tán lưu

trữ S, kết hợp dữ liệu lại và phục hồi dữ liệu về

trạng thái nguyên dạng ban đầu Qui trình phục

hồi dữ liệu ban đầu được thực hiện tuần tự như

các bước trong hình 6

Step 1 Khi một servent (bao gồm cả C) có nhu

cầu phục hồi dữ liệu từ các mảnh lưu trữ phân

tán, người phục hồi sẽ kiểm tra thông tin trong

list-information để đánh giá khả năng phục hồi

dữ liệu

Step 2 Nếu dữ liệu có khả năng phục hồi, người

phục hồi sẽ sử dụng các thông tin trong

list-information làm thông tin header để tìm kiếm

các segment đã được lưu trữ phân tán trên toàn

mạng Với trường hợp khả năng phục hồi chỉ

dành cho C (trạng thái lưu trữ là “private”), C

phải tiến hành sinh lại khóa K duy nhất và dùng

khóa K làm thông tin để tìm kiếm segment

Hình 6 Các bước thực hiện phục hồi dữ liệu

Step 3 Trên các servent lưu trữ, khi nhận được các yêu cầu tìm kiếm của người phục hồi, các servent này tiến hành so sánh các thông tin header để loại trừ các segment không phù hợp

Step 4 Khi phát hiện được các thông tin header trùng khớp, servent lưu trữ sẽ gửi trả các segment cho người phục hồi và thay đổi thông tin list-information Step 5 Người lưu trữ sau khi nhận được hết các segment của dữ liệu sẽ tiến hành kết hợp các segment

để phục hồi lại dữ liệu ban đầu

Step 6 Sau khi phục hồi lại dữ liệu, servent của người phục hồi sẽ thay đổi thông tin trong list-information để hoàn thành quá trình phục hồi KẾT LUẬN

Bảng 3 So sánh các hệ thống chia sẻ hiện nay

NFS P2P Hệ thống đề

xuất

Trao đổi dữ liệu

Hiệu suất lưu trữ

Quản lý truy xuất

Khả năng phục hồi

Bài báo đã xây dựng một hệ thống chia sẻ tài nguyên mới trên cơ sở tận dụng các nguồn tài nguyên phân tán trên mạng thông qua giao thức P2P Hệ thống chia sẻ tài nguyên xây dựng trên cơ sở phân đoạn dữ liệu và lưu trữ phân tán trên các servent riêng rẽ giúp

hệ thống có thể nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn tài nguyên lưu trữ dư thừa trên mạng Có nghĩa là, hệ thống tận dụng các nguồn tài nguyên còn trống của

Trang 8

Tạ Minh Thanh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 86(10): 67 - 74

các servent và kết hợp lại tương tự như một kho lưu

trữ dữ liệu thống nhất trên mạng Mặt khác, với việc

điều khiển truy xuất dữ liệu thông qua

list-information và thông tin điều khiển của các segments

dẫn đến khả năng bảo mật dữ liệu mà không bị phụ

thuộc vào các hệ thống OS Bên cạnh đó, với ý tưởng

các phân đoạn dữ liệu có thể tự phục hồi khi có sự cố

xảy ra thông qua việc sử dụng các mã dung lỗi dẫn

đến mô hình của hệ thống có một hướng mới hơn so

với các hệ thống chia sẻ tài nguyên hiện nay Tuy

nhiên, với kỹ thuật sửa lỗi dựa trên các mã dung lỗi

thì việc phục hồi được các mảnh dữ liệu có dung

lượng lớn (ví dụ như dung lượng với đơn vị là MB

trở lên) là khá khó khăn Do đó, tác giả đề xuất giải

pháp tự phục hồi dữ liệu khi một số máy lưu trữ

không tham gia mạng đối với các thông tin, dữ liệu

với dung lượng hạn chế và yêu cầu chất lượng phục

hồi không cần độ tin cậy quá cao như ảnh, nhạc,

phim,

Với hệ thống đã đề xuất, ta dễ dàng thu được kết

quả so sánh trong bảng 3 và nhận thấy được tính

mềm dẻo và ưu việt hơn so với các hệ thống đang được tận dụng hiện nay Tính thực tiễn thể hiện ở chỗ

là đưa ra được ý tưởng tận dụng tài nguyên dư thừa của các máy tham gia mạng để lưu trữ phân tán và khai thác thông tin trên mạng với cơ chế kiểm soát truy cập

Vấn đề tiếp theo của hướng nghiên cứu này là thực hiện xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh và thực tiễn

để áp dụng kết quả nghiên cứu trong thực tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Gnutella, http://www.gnutelliusms.com/

[2] I Clarke, A Distributed Anonymous Information

Storage and Retrival System ,Proc ICSI Workshop on

Design Issues in Anonymity and Unobservability, June

2000

[3] Wikipedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Servent [4] B Callaghan, (1999), NFS Illustrated, Addition– Wesley

Profesonal

[5] T.Lee, J.G.Davies, (2000), Microsoft Window 2000 TCP/IP

Protocols and Services Technical Reference, Microsoft

Press

J.T’s, R.Eckstein, D.Collier Brown, (2003), Using Samba,

Second Edition, O’Reilly

SUMMARY

AN APPROACH OF PEER-TO-PEER SYSTEM BASED

ON DISTRIBUTED DATA STORAGES AND CONTROL ACCESS

1

Institute of Military Technology,

2

College of Information and Communication Technology-TNU

Netwook sharing systems are now commonly in client-server model Therefore, the data retrievals of this model depend mostly on the network operating system or on sharing server but are not uniform on many OS versions In addition, the dramatic development of a sharing Peer-to-Peer network model without regarding user management and data retrieval leads to some problems in freedom of access to resources and copyright infringement of products On that basis, the article proposed a new resource-sharing system based on distributed storage system incoperated with user management to solve the problems of the current sharing systems

Key words: client-server, resource sharing system, Peer-to-Peer, distributed storage, access control

Ngày đăng: 30/01/2020, 04:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w