1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học cơ sở của phòng giáo dục và đào tạo, huyện thanh miện, tỉnh hải dương

124 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung quản lý việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo .... Các nhóm biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng bồi dưỡng nghiệp vụ s

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Học viên : VŨ ĐỨC QUYẾT

NGHIÊN CỨU , HỆ THỐNG CƠ SỞ VỀ LÝ LUẬN

Người hướng dẫn : PGS, TS TRẦN KIỂM

Hà nội: 2006

Trang 2

KHOA SƯ PHẠM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Học viên : VŨ ĐỨC QUYẾT

NGHIÊN CỨU , HỆ THỐNG CƠ SỞ VỀ LÝ LUẬN

Người hướng dẫn : PGS, TS TRẦN KIỂM

Hà nội: 2006

Trang 3

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học của đề tài 10

6 Giới hạn của đề tài 10

7 Phương pháp nghiên cứu 10

8 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11

1.2 Một số khái niệm 13

1.2.1 Biện pháp 13

1.2.2 Quản lý 14

1.2.3 Quản lý giáo dục 18

1.2.4 Bồi dưỡng 19

1.2.5 Nghiệp vụ sư phạm 22

1.2.6 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 25

1.2.7 Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên 27

1.3 Giáo dục trung học cơ sở 27

1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục trung học cơ sở 28

1.3.2 Mục tiêu giáo dục trung học cơ sở 28

1.4 Giáo viên trung học cơ sở và vai trò của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 28

1.4.1 Giáo viên trung học cơ sở 28

1.4.2 Vai trò của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 29

1.5 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Phòng Giáo dục và Đào tạo 30

1.5.1 Vị trí, chức năng 30

1.5.2 Nhiệm vụ quyền hạn 31

Trang 5

1.6 Nội dung quản lý việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung

học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo 32

1.6.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể của từng năm học 32

1.6.2 Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng 33

1.6.3 Kiểm tra đánh giá công tác bồi dưỡng của các trường và của giáo viên 33 1.7 Các nhân tố chi phối các công tác quản lý việc bồi dưỡng giáo viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo 33

Chương 2 : Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở ở Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Thanh Miện 36

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

2.1.2 Kinh tế- xã hội 36

2.2 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục - đạo tạo ở Thanh Miện 37

2.3 Giáo dục trung học cơ sở 39

2.3.1 Về chất lượng và hiệu quả đào tạo học sinh trung học cơ sở 39

2.3.2 Về số lượng, giới và độ tuổi đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 41

2.3.3 Về trình độ được đào tạo của giáo viên trung học cơ sở 42

2.4 Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thanh Miện 43

2.4.1 Thực trạng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trung học cơ sở 44

2.4.2 Thực trạng nhận thức của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở đối với công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 55

2.4.3 Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên 56 2.5 Đánh giá chung 66

Chương 3 : Đề xuất biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện 3.1 Những căn cứ của việc đề xuất biện pháp 71

3.2 Các nhóm biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo 74

Trang 6

3.2.1 Nhóm biện pháp 1: Nâng cao nhận thức để hình thành động cơ bồi dưỡng

nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 74

3.2.2 Nhóm biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên 78

3.2.3 Nhóm biện pháp 3: Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên 80

3.2.4 Nhóm biện pháp 4: Nâng cao năng lực chỉ đạo công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên 84

3.2.5 Nhóm biện pháp 5: Kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 87

3.2.6 Nhóm biện pháp 6: Tăng cường cơ sở vật chất, các nguồn lực trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 89

3.2.7 Nhóm biện pháp 7: Đổi mới công tác quản lý của Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thanh Miện, Hải Dương 91

3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 95

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp 96

3.4.1 Về tính cần thiết của các nhóm biện pháp 96

3.4.2 Về tính khả thi của các nhóm biện pháp 97

Kết luận và khuyến nghị 98

Tài liệu tham khảo 100 Phụ lục

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý một tổ chức trước hết và chủ yếu là quản lý con người Trong hệ thống giáo dục, những con người đó là giáo viên, học sinh, cán bộ, nhân viên phục vụ Đội ngũ giáo viên là nguồn lực chủ yếu giữ vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, là người góp phần lớn nhất vào

sự thành công của quá trình đào tạo Bác Hồ đã từng nhấn mạnh vai trò trọng yếu của giáo viên trong hệ thống giáo dục nước nhà: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” Roy Singh lại cho thấy quan hệ hữu cơ và đặc biệt tỉ lệ thuận tuyệt đối giữa chất lượng của hệ thống giáo dục với chất lượng của đội ngũ giáo viên đang làm việc cho hệ thống ấy Theo ông, không có hệ thống giáo dục nào vượt quá tầm những giáo viên làm việc cho nó Trải qua những tháng năm lịch sử phát triển đất nước, nghề dạy học ngày càng được tôn vinh, nếu như trước kia người ta chỉ khuyến cáo “không thầy đố mày làm nên” thì nay xã hội

đã khẳng định “những thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh” (Hồ Chí Minh), hay “nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” (Phạm Văn Đồng) Người thầy giáo ngoài việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cần thiết cũng chính là người mang hệ thống các giá trị xã hội, nhất là các giá trị truyền thống, giá trị nhân văn đến với người học, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảm bảo dòng đời liên tục mang đậm bản sắc dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại Chính vì vậy, việc đào tạo giáo viên ngày càng được chú trọng Tuy được đánh giá cao, được đầu tư đúng mức hơn song những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội cũng ngày càng cao Trong điều kiện trên, việc xây dựng mô hình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chất lượng cao là rất cần thiết, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn

Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, với tư tưởng cơ bản là tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục đào tạo, trong đó đổi mới chương trình sách giáo khoa và phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm Đội ngũ nhà giáo đã được khẳng định một cách chắc chắn có vai trò quan trọng, quyết định trong việc thực hiện chất lượng giáo dục Cùng với sự tôn vinh

là trách nhiệm nặng nề trước những yêu cầu cấp thiết của thời đại đòi hỏi đội ngũ nhà giáo phải đáp ứng kịp thời, sao cho đủ số lượng, cân đối về cơ cấu, cao về phẩm chất, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc giảng dạy, giáo dục, đào tạo bồi dưỡng

Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia bởi vì

nó đóng vai trò then chốt và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển

Trang 8

kinh tế-xã hội Nghị quyết đại hội Đảng lần IX đã khẳng định rằng phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy

và học theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá.” Như vậy nhiệm vụ của ngành giáo dục là rất nặng nề nhưng rất vẻ vang Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chỉ thị 40/CT-TƯ ngày 15/6/20004 về

“Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”

Chất lượng giáo viên là một yếu tố của chất lượng giáo dục và cũng là một nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo Sản phẩm đào tạo của các trường sư phạm đã được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã được xác định Mục tiêu đào tạo ở các trường sư phạm hiện nay chỉ phản ánh nội dung tổng quát các năng lực của giáo viên cần được đào tạo để đạt một trình độ chuẩn về văn bằng

Giáo dục phổ thông là nền tảng cơ bản của giáo dục một nước, có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách công dân của thế hệ trẻ và nâng cao mặt bằng dân trí, chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa “Giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, TH chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [10, tr.14] Chất lượng giáo dục phổ thông được nhìn nhận từ vị trí, mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy

và học của cấp học theo ba tiêu chí: phổ thông, cơ bản và thiết thực Từ năm

1997, những thay đổi đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn lại sách giáo khoa theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về chất lượng giáo viên Yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã đặt ra những thách thức mới đối với công tác bồi dưỡng giáo viên

Trong yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, nội dung và phương pháp bồi dưỡng giáo viên ở Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương những năm gần đây đã có một số tiến bộ, góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên trong huyện Công tác bồi dưỡng giáo viên theo chu

kỳ bốn năm được thực hiện thường xuyên hơn kết hợp với công tác bồi dưỡng hè cho giáo viên đã có những tác dụng nhất định, nâng cao nhận thức của giáo viên Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế, thách thức về chất lượng đội ngũ giáo viên như: Chất lượng đào tạo của giáo viên không đồng đều do giáo viên được tuyển chọn từ nhiều nguồn đào tạo, nhiều loại hình đào tạo khác nhau; quan niệm dạy học còn chưa đổi mới, thiên về việc truyền thụ kiến thức một

Trang 9

chiều, coi nhẹ việc phát huy tính sáng tạo, chủ động của học sinh, do đó học sinh quen với lối học vẹt, thụ động Hiện nay việc đổi mới cách dạy, cách học theo hướng học “cách học” thông minh sáng tạo, học đi đôi với hành, nhà trường gắn với đời sống, tiến triển rất khó khăn Vấn đề bồi dưỡng giáo viên cần phải được nhìn nhận ở mức độ cao hơn Trước tình hình đó, công tác bồi dưỡng giáo viên, hướng đến yêu cầu nâng cao chất lượng giáo viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương đã đặt ra những đòi hỏi cấp thiết về nội dung cũng như phương pháp bồi dưỡng Việc bồi dưỡng giáo viên không chỉ nhằm nâng cao nhận thức mà còn phát triển các kỹ năng sư phạm của giáo viên, đáp ứng các yêu cầu về đổi mới

Từ những lý do trên tác giả đi đến lựa chọn “Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên THCS huyện Thanh Miện

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn xác định những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu, đề xuất những biện pháp nhằm quản lý tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Các hoạt động quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động quản lý việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

Trang 10

5 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

cho giáo viên đề ra trong luận văn này được thực hiện một cách triệt để và

đồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng việc quản lý công tác bồi

dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên THCS ở Phòng Giáo dục và Đào tạo

cũng như chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Thanh

Miện, tỉnh Hải Dương

6 Giới hạn của đề tài

Do mục đích nghiên cứu đã đặt ra nên luận văn tập trung nghiên cứu

những biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác quản lý việc bồi dưỡng đội ngũ

giáo viên THCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện, tỉnh Hải

Dương từ năm 2000 trở lại đây Chính vì vậy phạm vi nghiên cứu của đề tài

này chỉ hạn chế:

- Dưới góc độ của Phòng Giáo dục và Đào tạo

- Trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu quản lý bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên THCS

- Số liệu khảo sát sẽ thu thập từ năm 2000 đến nay

- Khách thể điều tra: Hiệu trưởng, giáo viên, chuyên viên, cán bộ quản lý

của Phòng Giáo dục và Đào tạo

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,

phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc quản lý công tác bồi dưỡng giáo

viên Trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ

sở ở Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Miện

Chương 3 Đề xuất các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ

giáo viên Trung học cơ sở ở Phòng Giáo dục và Đào tạo

huyện Thanh Miện

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG

GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục đào tạo chính là đội ngũ giáo viên Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giáo viên là hết sức cần thiết để năng cao chất lượng giáo dục Những yêu cầu về chuyên môn của giáo viên không những chỉ có kiến thức mà còn phải có những

kĩ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục, vấn đề không phải tiếp thu kiến thức uyên bác mà phải có cả thời gian Vì vậy, việc bồi dưỡng giáo viên nhất thiết phải được làm thường xuyên và liên tục Vấn đề đào tạo bồi dưỡng giáo viên đã được các nhà khoa học giáo dục, các nhà quản lý giáo dục quan tâm nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang bước sang thế kỷ

21, thế kỷ của tri thức với những yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục Một số công trình trong và ngoài nước đã được tác giả nghiên cứu và sử dụng làm cơ sở lý luận cho đề tài này

Tác giả Jacques Nimie với tác phẩm: “Giáo viên rèn luyện tâm lý” đã khẳng định việc đào tạo giáo viên không chỉ làm ở các trường sư phạm là đủ mà còn trong cuộc sống nghề nghiệp sau này của mình, người giáo viên phải luôn luôn tự rèn luyện bản thân mình

Michell Develey: “Một số vấn đề đào tạo giáo viên” có đề cập đến vấn đề đào tạo giáo viên bao gồm nhiều công đoạn như: Nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp đó là cuốn sách góp phần đổi mới công tác đào tạo giáo viên

Trang 12

Tác giả Berhard Muzynsky người Đức và Nguyễn Thị Phương Hoa đã cho ra đời cuốn sách: “Con đường nâng cao chất lượng và cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên” Trong cuốn sách này, hai tác giả đã đưa ra các tiêu chuẩn chương trình cho việc đào tạo giáo viên của các trường CĐSP cũng như chất lượng đầu

ra của sinh viên dựa vào những phản hồi từ phía đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp Căn cứ vào những thông tin phản hồi đó để các trường CĐSP có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các giáo viên sau khi được sử dụng

1.1.2 Việt nam

Ở nước ta giáo dục bao giờ cũng được xem là quốc sách hàng đầu, nó có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội Trước tiên phải nói đến quan điểm về phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, Người đã xác những cơ sở lý luận có giá trị nền tảng cho công cuộc đổi mới giáo dục như vai trò, định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản giáo dục Hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị rất cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ điều đó nên Đại hội Đảng IX đã khẳng định phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người vì đây chính là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và ổn định chính trị, coi GD&ĐT, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực là một bứt phá quan trọng để đi vào thực hiện chiến lược 2001-

2010 Vì vậy giáo dục đã thực sự có được vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người, chiến lược kinh tế xã hội Đảng đã coi GD&ĐT là “Quốc sách hàng đầu” Mục tiêu của giáo dục đã được ghi rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng

IX và trong kết luận số 14 KL/TƯ ngày 26/7 /2002 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII, phương hướng phát triển GD&ĐT, khoa học và công nghệ đến năm 2010 là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học, hệ thống trường lớp, công tác quản l‎ý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa….và tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt giáo dục tư tưởng, chính trị, nhân cách đạo đức, lối sống cho người học…

Chỉ thi 40-CT/TƯ ngày 14 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

Trang 13

lý giáo dục nhấn mạnh mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[5, tr.12]

Công tác bồi dưỡng cũng được triển khai cho giáo viên ở hầu hết các cấp trong ngành Giáo dục và Đào tạo Năm 1994 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lưu hành nội bộ tập: “Bài giảng bồi dưỡng giáo viên THCS” Đây thực sự là cuốn cẩm nang cho giáo viên vì tập bài giảng này đã đề cập và cung cấp rất nhiều nội dung, thông tin khác nhau về việc dạy học ở bậc THCS: Các vấn đề liên quan đến quản lý giáo dục; Các vấn đề về tâm lý giáo dục; Các vấn đề về kỹ năng giảng dạy

Thực tế đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đổi mới giáo dục và thực tiễn giáo dục trong nước như Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Minh Hạc,

Vũ Đình Cự, Trần Kiểm, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí phát triển giáo dục, giáo dục, Dạy

và học ngày nay cho thấy vấn đề đổi mới giáo dục đang được quan tâm nghiên cứu và có tác dụng tích cực với thực tiễn đổi mới giáo dục nước ta

Ngoài ra, trong một số công trình, đề tài nghiên cứu cũng đã đề cập về vấn

đề bồi dưỡng giáo viên ở những không gian khác nhau như: tác giả Phùng Thanh Kỷ với công trình nghiên cứu về công tác bồi dưỡng giáo viên THCS ở

Hà Nội; tác giả Kiều Thị Bình có công trình nghiên cứu về công tác bồi dưỡng giáo viên ở tỉnh Quảng Bình; tác giả Khoa Thị Điển với công trình nghiên cứu

về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học ở Hải Phòng…

Trang 14

Biện pháp bồi dưỡng chính là cách thức tác động vào đối tượng cần được bồi dưỡng để giúp chủ thể nâng cao về nhận thức hoặc kiến thức chuyên môn của một lĩnh vực nào đó

Biện pháp quản lý có thể hiểu là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đặt ra

1.2.2 Quản lý

Từ xa xưa, khi các hoạt động của xã hội loài người còn tương đối đơn giản với quy mô chưa lớn, công việc quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm với sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức Kinh nghiệm ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính quy luật có thể vận dụng trong nhiều tình huống tương tự Ngày nay, quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Tuỳ theo cách tiếp cận mà người ta có các quan điểm khác nhau về quản

lý Theo giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước” của Học viện hành chính Quốc gia thì quản lý là một là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” 27, tr.5

Trên phương diện chính trị – xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Để vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển Ngược lại, thì xã hội phát triển chậm hoặc không ổn định

Trên phương diện hành động, quản lý được hiểu là sự chỉ huy, điều khiển, điều hành

Theo Harold Koontz, Cyril-Odonnel, Heinz Weihriech trong cuốn sách

“Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.”[43, tr.33]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [35, tr.24]

Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng

Trang 15

một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[23, tr.7]

Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức

để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”[31, tr.7] hay “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất ”[ 32, tr.8]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [19, tr.1]

Nghiên cứu các định nghĩa quản lý, chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất: Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý

Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu và không thể thiếu được trong xã hội, đời sống xã hội, đời sống của mỗi cá nhân Hiện nay, hoạt động quản lý được người ta định nghĩa rõ hơn, cụ thể hơn: “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động chức năng như:

kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [19, tr.1]

Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức” Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định của những con người có cùng hoạt động vị một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích nhất định, một cá nhân riêng lẻ không thể đạt đến

Các tổ chức khác nhau được phân biệt nhờ một loạt các tiêu chí:

 Mục đích của tổ chức

 Quy mô của tổ chức

Trang 16

 Cơ cấu của tổ chức

 Những điều kiện tồn tại và phát triển của tổ chức …

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải

có sự quản lý và người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Vậy hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đó

Từ các định nghĩa được nhìn nhận khác nhau từ nhiều góc độ, ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của các khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý nhằm làm gì? (Mục tiêu quản lý)

Và cũng từ đó, ta nhận thức được bản chất của hoạt động quản lý: là

những hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và phát triển lâu dài vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống

Chức năng của quản lý

Trong lao động quản lý chủ thể tác động vào khách thể thông qua một hệ thống các hoạt động xác định Các hoạt động đó được chuyên môn hóa gọi là chức năng quản lý Khi xác định chức năng quản lý có nhiều cách trình bày khác nhau Theo quan điểm hiện nay, quản lý gồn bốn chức năng chính sau:

 Lập kế hoạch: là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản

lý ví nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Chẳng những lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của tất cả các nhà quản

lý ở mọi cấp trong một hệ thống mà các chức năng còn lại của quản lý cũng phải dựa trên nó Nhà công tác lập kế hoạch, người lãnh đạo của hệ thống sẽ

tổ chức, điều khiển và kiểm tra nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu thông qua trong kế hoạch

Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt tới các mục tiêu định trước Vì phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏi môi trường, nên việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định và hành động của việc lập kế hoạch được dự kiến để hoạt động trong đó

Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm Nó đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các

Trang 17

chiến lược, đường lối một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên

sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng

 Tổ chức: Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và

nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra Đó là sự liên kết giữa các cá nhân trong, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra trên cơ sở các nguyên tắc và quy tắc của hệ thống

Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chung Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lý Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý

 Chỉ đạo: Ngoài việc lập kế hoạch và tổ chức, người quản lý còn phải

làm việc với các nhân viên, xem họ thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày của mình thế nào Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến thành viên trong tổ chức để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đề ra Các nhà quản lý phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục các mục tiêu cho nhân viên và thúc đẩy họ đạt được mục tiêu bằng nhiều biện pháp khác nhau

 Kiểm tra: Kiểm tra là quá trình thiết lập và thực hiện cơ chế thích hợp

để thu thập và xử lý thông tin đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức Một phần quan trọng của kiểm tra là đánh giá sự tiến bộ của tiến trình thực thi và điều chỉnh hệ thống trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý, đồng thời tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để tận dụng, thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu dự định

Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển trong đó thông tin là yếu tố xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý

Lập K.H hoạch

Tổ chức

Trang 18

Sơ đồ 1: Sơ đồ chu trình quản lý 1.2.3 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục, là một loại hình của quản lý xã hội, là quá trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tinh chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về vật chất” [35, tr.12]

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao”[19, tr.14]

Tác giả Trần Kiểm thì cho rằng:

- Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển

GD & ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD”[32, tr.36-37]

- Đối với cấp vi mô: “QLGD thực chất là những tác động của chủ thể QL

vào quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [32, tr.38-39]

Từ những khái niệm trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu

tố của QLGD là: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Khách thể quản lý và Mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ về quản lý giáo dục

Sơ đồ 2: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục

Mục tiêu quản lý

Đối tƣợng quản

Khách thể quản

Trang 19

Trong thực tiễn các yếu tố trên không thể tách rời nhau mà có quan hệ tương tác gắn bó với nhau Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên đối tượng quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thể quản lý nằm ngoài hệ thống quản lý giáo dục Nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục

Nói chung, quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động giáo dục Nói đầy đủ hơn của định nghĩa này, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

QLGD gồm 3 lĩnh vực:

 Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch thực hiện chính sách và phân bổ nguồn lực)

 Quản lý hành chính (sử dụng tài lực, nhân lực, vật lực)

 Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình giáo dục, kết quả học tập)

Dựa trên phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục ra hai loại, đó là: + Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)

+ Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một

cơ sở giáo dục

1.2.4 Bồi dưỡng

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực, trình độ nghề nghiệp” [40, tr.36]

Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề” [24, tr.13]

Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất của con người, bồi dưỡng là quá trình tiếp nối đào tạo nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất chuyên môn cho người lao động, là quá trình “cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã

Trang 20

lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo chuyên đề” [2, tr.67]

Bồi dưỡng thực chất là làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao động từ việc bồi đắp kiến thức thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở

“nuôi dưỡng”, “giữ gìn” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ

Như vậy, bồi dưỡng là khâu tiếp nối của quá trình đào tạo nhằm trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng suất và hiệu quả công việc Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực hiện tại và trong tương lai của tổ chức

Bồi dưỡng giáo viên là một việc làm thường xuyên của ngành Giáo dục và Đào tạo để nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho các giáo viên đang giảng dạy trong các trường học

Với phương châm GDTX, giáo dục suốt đời thì đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại là quá trình thống nhất Bồi dưỡng và đạo tạo lại là sự tiếp nối của quá trình bồi dưỡng Chúng có thể tạo ra tiên đề về tiêu chuẩn cho quá trình đào tạo chính qui

ở bậc cao hơn về trình độ chuyên môn trong những lĩnh vực cụ thể (ví dụ như Bồi dưỡng chuẩn hoá THSP, Bồi dưỡng chuẩn hoá môn 2 cho giáo viên THCS…)

1.2.4.1 Mục tiêu bồi dưỡng giáo viên

Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 đề ra mục tiêu tổng quát:

là đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Để đạt được các mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là vấn đề đặt ra hết mức bức thiết

Các giải pháp phát triển giáo dục là : Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục; đổi mới quản lý giáo dục; tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp và các cơ sở giáo dục; tăng cường nguồn tài chính cơ sở vật chất cho giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục Trong đó đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là những giải pháp trọng tâm phấn đấu đến năm 2005 tất cả các giáo viên THCS đều có trình độ cao đẳng trở lên, trong đố những giáo viên trưởng phó bộ môn có trình độ đại học Giáo viên được thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ

Trang 21

1.2.4.2 Nhiệm vụ của công tác bồi dưỡng giáo viên

- Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên

để đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Giúp giáo viên có được phương pháp và khả năng tự học, tự nghiên cứu thực hành và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy-học để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục

- Dưới góc độ lí luận quản lí – quản lí nguồn nhân lực thì công tác bồi dưỡng giáo viên chính là bước “huấn luyện và phát triển đội ngũ”, công tác này diễn ra thường xuyên, liên tục theo từng chu kì đối với toàn thể đội ngũ giáo viên (như BDTX theo chu kì), với các cá nhân thì đó có thể là bồi dưỡng để đạt chuẩn, nâng chuẩn, công việc này nhằm “nâng cao năng lực, khả năng cống hiến của mỗi thành viên cho kết quả hoạt động của tổ chức ”

1.2.4.3 Các yêu cầu và điều kiện thực hiện công tác bồi dưỡng giáo viên

Công tác bồi dưỡng giúp cho giáo viên tiếp nối quá trình đào tạo sau khi ra trường Giáo viên sau khi tốt nghiệp ở trường CĐPS, ĐHSP chỉ được cung cấp những tri thức nền móng để học có thể đảm đương được công tác giảng dạy giáo dục trong một giai đoạn nhất định Trong thực tế do hội nhập kinh tế toàn cầu trong nền kinh tế tri thức và đặc biệt để đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của SGK giáo viên cần phải được bồi dưỡng để bổ sung kiến thức, phương pháp giảng dạy hiện đại cho phù hợp với trình độ trong khu vực và trên thế giới

- Về đối tượng giảng dạy: trẻ em từ 11 đến 15 tuổi có đặc điểm tâm sinh lí khác với trẻ em ở các cấp học khác, ở giai đoạn này nhân cách đã và đang hình thành rõ rệt, thái độ cư xử, tác phong sư phạm, năng lực chuyên môn của người thầy có tác động quan trọng đến học sinh vì vậy việc bồi dưỡng giáo viên là một nhu cầu không thể thiếu

- Về phạm vi hoạt động giao tiếp: gắn bó với cộng đồng xã hội nơi nhà trường tham gia công tác, người giáo viên THCS ít có điều kiện tiếp xúc với nền khoa học hiện đại, kiến thức cập nhật về mọi lĩnh vực, vì thế các chương trình bồi dưỡng là điều kiện thuận lợi để họ tự nâng cao khả năng của mình lên đáp ứng với yêu cầu của công việc

- Về cường độ lao động: giáo viên THCS có số giờ giảng dạy khá cao, chưa

kể các công tác khác Nếu chỉ tính một tiết lên lớp, người giáo viên chỉ dành một tiết chuẩn bị thì không còn thời gian để làm việc khác hoặc nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động Để giúp lực lượng này bù đắp, cập nhật kiến thức không có

Trang 22

giải pháp nào hơn là bồi dưỡng (bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng nâng chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng thay sách )

- Giáo viên THCS ngoài việc cung cấp kiến thức cơ sở ban đầu còn phải thông qua đó hình thành và phát triển ở trẻ em những kỹ năng hoạt động và khả năng tư duy Để làm được điều này nhất thiết giáo viên phải được bồi dưỡng bài bản trong tương lai, còn đội ngũ đang đảm nhiệm công việc giảng dạy ở bậc học này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc Chúng ta phải bồi dưỡng và đào tạo lại để chuẩn hóa đội ngũ, bằng hình thức đào tạo tại chức, đào tạo từ xa Đội ngũ giáo viên sẽ không bị xáo trộn về lao động và từng bước được chuẩn hóa một công tác đi đôi với việc chuẩn hóa đội ngũ là việc hiện đại hóa đội ngũ mà ngành giáo dục đã làm Đặc biệt từ năm học 2000 – 2001 Bộ GD&ĐT đã chỉ dạo triển khai việc dạy học theo chương trình SGK mới được xây dựng và biên soạn với sự hợp tác của các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước nên đã phản ánh được xu thế mới của thế giới trong việc dạy học Đa

số giáo viên được bồi dưỡng luân phiên hàng năm về chuyên môn và NVSP

- Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục, vì vậy muốn chuẩn hóa phải hiện đại hóa bậc trung học cơ sở, công tác bồi dưỡng giáo viên phải được chú ý đúng mức Vai trò của công tác bồi dưỡng với đội ngũ giáo viên như là một giải pháp để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của toàn

bộ đội ngũ – một công tác vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược

1.2.5 Nghiệp vụ sư phạm

Thuật ngữ nghiệp vụ sư phạm (NVSP) được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp

Theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động sư phạm với tư cách là hệ thống công việc mang tính nghề nghiệp, phân biệt với các lĩnh vực khác: Nghiệp vụ

ngân hàng; nghiệp vụ công an v.v… Theo nghĩa hẹp, nghiệp vụ sư phạm là các

phương thức, phương pháp, kỹ năng, các thủ thuật ứng xử của người thầy giáo trong giảng dạy, giáo dục, giao tiếp với học sinh và các tầng lớp nhân dân Trong thực tế, đôi khi thuật ngữ NVSP còn được dùng theo nghĩa rất hẹp- chỉ là các cách thức, các thủ thuật người thầy sử dụng trong giao tiếp và ứng xử với các nhân, tập thể học sinh và các lực lượng xã hội khác.[28, tr.18]

Nghiệp vụ sư phạm gồm: Hệ thống tri thức hoạt động sư phạm và Kỹ năng

sư phạm

 Hệ thống tri thức hoạt động sư phạm có 2 loại :

+ Khoa học bộ môn thường gọi là khoa học cơ bản: Toán học, Vật lý, Sinh học, Sử học, Văn học

+ Khoa học nghiệp vụ gồm Tâm lý học, Giáo dục học đại cương, Giáo dục học bộ môn

Trang 23

Do tính đặc thù của hoạt động sư phạm đòi hỏi người thầy giáo cần phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo thành hệ thống tri thức văn hóa sâu rộng, tâm lý học, văn hóa học, đạo đức học, triết học…

- Kiến thức văn hóa chung là những tri thức cơ bản về xã hội và nhân văn gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng, dân tộc, quốc gia và của cả nhân loại: văn hóa và văn minh nhân loại, văn hóa học Việt Nam, dân tộc học Việt Nam, xã hội học Việt Nam, lịch sử phát triển tư tưởng và giáo dục Việt Nam, triết học, các khoa học về ứng xử,… Người giáo viên nếu không được cung cấp các tri thức cơ bản về văn hóa chung gắn với sự phát triển của cộng đồng và dân tộc mình thì dễ xuất hiện nguy cơ trở thành thợ dạy học, chỉ biết duy nhất việc dạy học môn khoa học nào đó như nhiều giáo viên hiện nay Việc trở thành nhà

sư phạm đối với họ sẽ gặp nhiều khó khăn, muốn khắc phục buộc họ phải tự mình trang bị những kiến thức nói trên trong hoạt động sư phạm của mình

- Kiến thức khoa học bộ môn là tri thức của lĩnh vực khoa học mà người thầy giáo sau này phải tổ chức truyền thụ cho học sinh Đối với giáo viên, không chỉ bản thân tri thức khoa học mà phải cả lôgic hình thành chúng đều quan trọng Người giáo viên không chỉ hiểu nội dung tài liệu mà còn phải biết tái tạo lại con đường, lôgic đã sản sinh ra nội dung đó

- Kiến thức về sinh – tâm lý – xã hội học sinh: Không cần phải phân tích nhiều cũng đủ thấy tầm quan trọng của vấn đề hiểu đối tượng học sinh của người thầy giáo trong hoạt động sư phạm Vốn tri thức về tâm – sinh lý học sinh càng trở lên quan trọng trong hoạt động giáo dục hiện nay, khi mà trẻ em là hệ thống

mở và phát triển có gia tốc cao Sự hiểu biết tâm lí học sinh của người thầy giáo bao hàm cả hiểu biết về đặc trưng thể chất – tâm lý lứa tuổi nói chung, các đặc điểm riêng của cá nhân Cả những đặc điểm hiện tại và chiều hướng phát triển trong tương lai, cùng với các hoàn cảnh sống ảnh hưởng tới sự phát triển của các

em Cả trong tình huống bình thường và các hành vi xảy ra trong các tình huống bất thường… Nói cụ thể, giáo viên cần hiểu đặc điểm thế chất, đặc điểm tâm lí

và hoàn cảnh xã hội của học sinh

- Kiến thức về phương pháp dạy học bộ môn: Trong nền giáo dục trước đây, với mục tiêu hình thành ở người học những hiểu biết nhất định về lĩnh vực nào đó, nên nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo là truyền giảng những điều đã được học trước đó Cơ chế tâm lí chủ yếu của người học là trí nhớ và tư duy tái tạo Vì vậy, đốivới thầy giáo việc hiểu tài liệu giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng nhất Ngày nay vai trò của thầy giáo đã thay đổi, đó là định hướng cho trẻ em trong học tập và tu dưỡng đạo đức, giúp đỡ các em khi gặp khó khăn, điều khiển

và điều chỉnh hành động học tập của các em khi cần thiết Do vậy, phương pháp dạy học hiện đại không còn được hiểu theo nghĩa các phương pháp truyền thụ

Trang 24

của thầy giáo với mọi hình thức mà là các phương pháp hướng đạo với mục đích chỉ ra cho học sinh nguồn tài liệu chứa đựng thông tin cần chiếm lĩnh, cách khai thác thông tin tối ưu, cách sử dụng thông tin hữu ích và sau cùng, cách sáng tạo thông tin

- Phương pháp giáo dục học sinh: Hoạt động sư phạm về thực chất là hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Ai cũng biết rằng, cả con người và con vật đều

có dạy học, nhưng chỉ con người mới có giáo dục Vì vậy chỉ có thể trong lĩnh vực giáo dục mới thực sự là nhân vật trung tâm Trong thực tế, mối quan tâm chủ yếu là dạy học còn giáo dục thường vẫn bị xem nhẹ hơn, trong khi đó vấn đề phải được đặt ngược lại

- Kiến thức về giao tiếp, ứng xử sư phạm: Đặc trưng của hoạt động sư phạm và mọi hành vi ứng xử của người thầy giáo với học sinh, đồng nghiệp, với cha mẹ học sinh và với mọi người xung quanh không chỉ là phương thức sinh hoạt bình thường mà là phương tiện giáo dục học sinh, không bằng lời nói mà bằng nhân cách của mình bộc lộ trong các hành vi ứng xử hàng ngày Vì vậy người thầy giáo cần thiết phải được trang bị tri thức về khoa học giao tiếp và giao tiếp sư phạm Đây là yếu tố quan trọng tạo ra năng lực khéo léo ứng xử sư phạm của người giáo viên

- Kiến thức về nghiên cứu khoa học và khoa học giáo dục: Nghiên cứu khoa học bộ môn và khoa học giáo dục là một trong những nhiệm vụ của người thầy giáo Nó không chỉ giúp thầy giáo giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong hoạt động sư phạm của mình, mà còn là biện pháp tích cực để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người thầy giáo

 Hệ thống kỹ năng sư phạm: Để thành công trong hoạt động sư phạm, nếu chỉ có lòng nhiệt tình và vốn tri thức sư phạm đã tiếp thu thì chưa đủ mà nó còn phụ thuộc và khả năng vận dụng vốn tri thức, kinh nghiệm đã có vào việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn giáo dục đặt ra

Phạm Minh Hạc cho rằng năng lực sư phạm liên hệ một cách hữu cơ với việc nắm vững kỹ năng, kỹ xảo sư phạm Ông quan niệm kỹ năng sư phạm như là những năng lực dạy học, thiết kế, tri giác, truyền đạt và giao tiếp Nguyễn Như

An lại cho rằng kỹ năng sư phạm là khả năng thực hiện một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của mọt hành động sư phạm bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức, qui trình đúng đắn Kỹ năng sư phạm của người giáo viên bao gồm: chức năng giảng dạy, chức năng giáo dục và chức năng nghiên cứu khoa học giáo dục Để thực hiện được các chức năng trên, người giáo viên cần có hệ thống kỹ năng sau:

1 Nhóm kỹ năng tìm hiểu học sinh

2 Nhóm kỹ năng thiết kế hoạt động dạy học và giáo dục

Trang 25

3 Nhóm kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học

4 Nhóm kỹ năng sử dụng các phương pháp giáo dục

5 Nhóm kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học và giáo dục học sinh

6 Nhóm kỹ năng tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

7 Nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm

8 Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học

9 Ngoài ra, do tính đặc thù của hoạt động sư phạm, người giáo viên phải thường xuyên hoàn thiện nhân cách của mình, vì vậy, cần phải có các kĩ năng tương ứng, tức là những kĩ năng tự bồi dưỡng, hoàn thiện nhân cách

1.2.6 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm: Là một loại hình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về tổ chức các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện quy chế chuyên môn, công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh,… Công tác bồi dưỡng này chủ yếu là tự bồi dưỡng có định hướng và phối hợp với hoạt động bồi dưỡng của tập thể cộng đồng sư phạm

1.2.6.1 Mục tiêu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

- Giáo viên hiểu rõ và thực hành thuần thục những thao tác biểu hiện tác phong sư phạm chuẩn mực khi thực hiện giờ giảng

- Giáo viên thực hành tốt những kỹ năng từ đơn giản đến phức tạp việc thuyết trình một vấn đề bằng ngôn ngữ của chính mình và thu hút được độc giả

- Giáo viên thành thạo kỹ năng viết và trình bày bảng phù hợp với nội dung giúp cho việc minh họa kiến thức và giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất

- Giáo viên hiểu rõ và hình thành tốt những kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, biết giao tiếp – ứng xử sư phạm phù hợp trong từng tình huống hoàn cảnh

- Giáo viên hiểu rõ, hoàn thiện những kỹ năng tổ chức quản lý trong giờ học

- Giáo viên hiểu rõ, hoàn thiện những kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ học

- Giáo viên có kỹ năng hoàn thiện hồ sơ tìm hiểu học sinh về tâm lý để có khả năng trao đổi, tư vấn, chia sẻ và giáo dục học sinh được tốt nhất

- Giáo viên hoàn thiện kỹ năng lập hồ sơ chủ nhiệm lớp, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp, viết được các văn bản hành chính liên quan đến công việc học đường

Trang 26

Có thể đưa ra hệ thống các kỹ năng cần rèn luyện và bồi dưỡng cho giáo viên như sau:

 Nhóm kỹ năng thiết kế bài dạy:

1 Phân tích nội dung, chương trình môn học

2 Xác định các kiến thức cơ bản của bài dạy

3 Xác định kiến thức liên quan đến bài dạy

4 Dự kiến các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với nội dung kiến thức cần dạy

5 Dự kiến trình độ và các hành động của học sinh diễn ra trong bài dạy của mình

6 Dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong giờ dạy

7 Phân phối thời gian cho các kiến thức cần dạy

 Nhóm kỹ năng tổ chức dạy học trên lớp:

1 Đọc, viết, vẽ, diễn đạt ý của mình để người khác hiểu

2 Diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ của mình

3 Gợi mở, dẫn dặt học sinh vào bài học

4 Tạo ra các tình huống chứa đựng kiến thức dạy học

5 Tổ chức học sinh tìm kiếm kiến thức qua các hình thức học tập ngoài nghe giảng

6 Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp

7 Lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học

8 Biểu diễn thí nghiệm, thực nghiệm

9 Kỹ năng bao quát lớp

10 Phân phối thời gian thực tế cho các hoạt động của mình và của học sinh trên lớp

11 Giải quyết các tình huống phát sinh trên lớp trong giờ dạy

12 Ra câu hỏi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

 Nhóm kỹ năng giáo dục học sinh

1 Nhận biết tâm lí học sinh qua các dấu hiệu khác nhau

2 Nhận ra các nhóm nhỏ trong tập thể học sinh

3 Sử dụng các biện pháp sư phạm để giáo dục học sinh

4 Đánh giá hiệu quả tác động của mình tới học sinh

5 Tổ chức các hoạt động tập thể của học sinh

6 Cảm hóa học sinh bằng năng lực và phẩm chất nhân cách của mình

Trang 27

7 Kết hợp với cha mẹ học sinh và đồng nghiệp trong giáo dục học sinh

8 Làm chủ hành vi của mình trong quan hệ với học sinh, với cha mẹ học sinh và với đồng nghiệp

9 Khéo léo đối xử sư phạm với học sinh, với cha mẹ các em và với đồng nghiệp

 Các kỹ năng tập dượt nghiên cứu khoa học

1 Phân tích, nhận xét công việc của người khác

2 Kiểm soát, đánh giá, điều khiển và điều chỉnh hoạt động của bản thân

3 Phát hiện vấn đề nảy sinh trong tri thức khoa học và trong thực tiễn giáo dục học sinh

4 Phát triển vấn đề thành đề tài nghiên cứu

5 Hình thành đề cương nghiên cứu khoa học

6 Tổ chức nghiên cứu đề tài

7 Ứng dụng những thông tin, kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học và giáo dục

1.2.7 Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên

Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động chỉ đạo, điều hành phối hợp các yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ cho cán bộ quản lý, cho các giáo viên THCS để đạt mục đích chung là nâng cao chất lượng giáo dục

Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là quản lý về chương trình, nội dung, phương pháp và đánh giá quá trình bồi dưỡng theo mục tiêu đã định Công tác này cần được xây dựng thành một hệ thống tổ chức mạng lưới bồi dưỡng

ổn định cả về cơ chế hoạt động, mô hình và lực lượng bồi dưỡng

1.3 Giáo dục trung học cơ sở

Chương II, mục 2, điều 26 của Luật Giáo dục ghi: “Giáo dục trung học cơ

sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi” [10, tr.13]

Về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông: “Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp” [10, tr.14]

Trang 28

1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục trung học cơ sở

Giáo dục là nền tảng của văn hóa dân tộc, đồng thời là mục tiêu động lực của kinh tế mà giáo dục trung học cơ sở là bậc học kết nối giáo dục tiểu học và giáo dục THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân Sự phát triển của bậc học này là

cơ sở sự phát triển các bậc học tiếp theo Chất lượng giáo dục phổ thông nói chung cũng như chất lượng giáo dục đại học và chuyên nghiệp đều liên quan tới giáo dục THCS

Nguyên tắc “giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời” phải được áp dụng cho mỗi nhà giáo và do đó bậc học THCS phải được quan tâm thật đúng mức trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân tạo ra một nền móng vững chắc để mỗi người có thể học tập suốt đời Đó cũng là tiền đề để xây dựng một xã hội học tập Giáo dục nói chung – giáo dục THCS có tác động rất lớn đến phát triển cá nhân Nhiều nghiên cứu đã thống nhất: sự phát triển của trẻ em là quá trình chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: di truyền, môi trường và giáo dục Cũng như môi trường, giáo dục là hình thức tác động bên ngoài đến con người đang phát triển, nhưng tác động của giáo dục bao giờ cũng có mục đích đến sự phát triển của con người

1.3.2 Mục tiêu giáo dục trung học cơ sở

Giáo dục THCS với mục tiêu “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông trình độ cơ sở

và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[10, tr.14], do đó đội ngũ giáo viên THCS phải quán triệt phương pháp dạy học và giáo dục: phải lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng nhân cách của học sinh, coi trọng nội lực thúc đẩy hoạt động của học sinh, phát huy năng lực tư duy độc lập và năng lực thực hành, bước đầu phát triển những kỹ năng nhất định để các em bước vào cuộc sống lao động khỏi bỡ ngỡ

1.4 Giáo viên trung học cơ sở và vai trò của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

1.4.1 Giáo viên trung học cơ sở

Nhà giáo, theo luật giáo dục (chương IV, mục 1): “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác” 10, tr.29

Như vậy, giáo viên trung học cơ sở chính là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường THCS

Về tiêu chuẩn giáo viên THCS cũng như nhà giáo nói chung phải có đầy đủ các tiêu chuẩn như trong luật giáo dục qui định: a/ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng

Trang 29

tốt; b/ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ; c/ Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; d/ Lí lịch bản thân rõ ràng 10, tr.29

Về nhiệm vụ của giáo viên THCS, luật giáo dục đã qui định rất rõ ràng nhà giáo có nhiệm vụ sau đây:

1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lí, chương trình giáo dục;

2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường;

3 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;

4 Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học

5 Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật [10, tr.29]

Về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo THCS, luật giáo dục ghi: “có bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên THCS” 10, tr.30

1.4.2 Vai trò của đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

Người giáo viên trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục: mục tiêu chung của giáo dục Việt Nam: “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 10, tr.8 Trong đó mỗi bậc học lại đặt ra mục tiêu cụ thể để thực hiện mục tiêu chung Người giáo viên THCS có vai trò thế nào trong việc thực hiện mục tiêu: “giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” 10, tr.14

Giáo dục THCS cũng như các bậc học khác để đạt được mục tiêu chung cần có chất lượng đào tạo mà người giáo viên là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục

Ở bậc THCS học sinh với độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi đã và đang hình thành nhân cách, tiếp cận với cuộc sống với cách nhìn riêng của chính mình Vì vậy, người giáo viên THCS có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của học sinh Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của người thầy đều ảnh hưởng và tác động tới học trò Người thầy thực sự là tấm gương cho học sinh, trình độ học vấn, thái

độ, tình cảm của người thầy sẽ tác động rất lớn đến học sinh

Trang 30

Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, giáo viên THCS còn tham gia công tác phổ cập giáo dục THCS ở địa phương: công tác này rất vất vả, đòi hỏi sự kiên trì và tấm lòng chân thành, sự cảm thông và hiểu biết hoàn cảnh của từng học sinh

cụ thể Ở đây còn phải kể đến vai trò liên kết các lực lượng xã hội: cha mẹ học sinh và hội cha mẹ học sinh, Đội TNTPHCM, hội nông dân, hội phụ nữ, của giáo viên THCS trong việc giáo dục học sinh Bởi vì hiệu quả giáo dục THCS phụ thuộc không nhỏ vào khả năng liên kết các lực lượng xã hội đó

1.5 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Phòng Giáo dục và Đào tạo

1.5.1 Vị trí, chức năng

Theo Thông tư liên tịch bộ GD và ĐT- Bộ Nội vụ số 21/2004/TTLT/BGD&ĐT-BNV ngày 23 tháng 7 năm 2004 về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo ở địa phương [14, tr.1-2]: Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo (trừ đào tạo nghề) tại địa phương; về các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của phòng theo quy định của pháp luật ; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo uỷ quyền của UBND huyện Trong phạm vi ngành giáo dục, Phòng GD&ĐT là cơ quan quản lý trung gian giữa Sở GD&ĐT và trường học, quản lý trực tiếp trường học Do vậy Phòng GD&ĐT vừa có tính chất của cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính, vừa có tính chất của cơ quan tham mưu,

cơ quan nghiên cứu, vừa có tính chất của cơ quan tác nghiệp vụ, vừa có tính chất

cơ quan chiến lược Hoạt động của phòng GD&ĐT có ý nghĩa với sự phát triển giáo dục và kinh tế-xã hội của huyện, của mỗi trường học, mỗi xã, thị trấn

Phòng Giáo dục và đào tạo chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Giáo dục và đào tạo

Chức năng của Phòng GD&ĐT gồm:

- Chức năng nghiên cứu và lập kế hoạch: Là nghiên cứu đường lối, chủ trương giáo dục của Đảng, các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, các văn bản hướng dẫn của Sở GD&ĐT, nghiên cứu tình hình thực tiễn giáo dục và kinh tế-xã hội của địa phương, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học giáo dục Những kết quả nghiên cứu được vận dụng để xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch

và chương trình công tác sát với tình hình cụ thể, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và phát triển sự nghiệp giáo dục đạt hiệu quả cao nhất

Trang 31

- Chức năng tham mưu: Từ việc nghiên cứu và hoạch định kế hoạch mà làm tham mưu bằng các chủ trương, các văn bản chỉ đạo, ccs giải pháp thực hiện

để chỉ đạo toàn ngành, phối hợp với các ngành, chỉ đạo các xã, thị trấn thực hiện nhiệm vụ giáo dục của địa phương, kiến nghị với cấp trên những sửa đổi cho phù hợp

- Chức năng tổ chức và chỉ đạo: Phòng GD&ĐT có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chủ trương, hướng dẫn của cấp trên, các kế hoạch phát triển giáo dục và chương trình công tác đã được phê duyệt Thực hiện sự chỉ đạo đối với các cơ sở GD&ĐT, thừa ủy quyền chỉ đạo đối với chính quyền ở cơ

sở, chủ trì phối hợp với các ngành liên quan nhằm thực hiện kế hoạch giáo dục

đề ra

- Chức năng kiểm tra, thanh tra: Quá trình chỉ đạo là thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra nhằm uốn nắn lệch lạc, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ, tìm ra cách thức thực hiện hiệu quả

Như vậy, Phòng GD&ĐT là cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý, vừa thực hiện quản lý hành chính, vừa thực hiện quản lý chuyên môn; thực hiện quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Đó chính là tính chất đa chức năng của Phòng GD&ĐT

- Về quản lý giáo dục phổ thông, mầm non:

+ Trình UBND huyện về quy hoạch mạng lưới các trường THCS, trường tiểu học, trường mầm non, trường mẫu giáo và các cơ sở giáo dục mầm non trong huyện

+ Hướng dẫn kiểm tra UBND cấp xã thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn xã; việc thành lập, sát nhập, chia tách, giải thể, đình chỉ các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện theo quy định của pháp luật

+ Quản lý cán bộ công chức, viên chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện theo phân cấp của UBND tỉnh và phân công của UBND huyện; chịu trách nhiệm

Trang 32

thực hiện các quy định về tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi của, cấp phát văn bằng chứng chỉ theo quy định của pháp luật

- Hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc phạm vi quản lý của huyện xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm Tổng hợp kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục hàng năm để UBND huyện trình cấp có thẩm quyền quyết định; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục thuộc địa phương quản lý

- Tổ chức dự toán ngân sách giáo dục, dự toán chi các chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm về giáo dục của huyện gửi cơ quan chuyên môn của UBND huyện theo quy định của pháp luật Sau khi được giao dự toán ngân sách, phối hợp với cơ quan đó phân bổ ngân sách giáo dục, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện

- Tổ chức thực hiện công tác phổ cập giáo dục và tổ chức thực hiện xã hội hoá các hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện theo chỉ đạo của UBND huyện và Sở giáo dục và đào tạo

- Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương; hướng dẫn, chỉ đạo phong trào thi đua của ngành, xây dựng và nhân điển hình tiên tiến về giáo dục trên địa bàn toàn huyện

- Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra và thanh tra việc thi hành pháp luật về lĩnh vực giáo dục và đào tạo; giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với UBND huyện và Sở Giáo dục và đào tạo

- Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức và tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND huyện

1.6 Nội dung quản lý việc bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm cho giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo

1.6.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể của từng năm học

Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể của từng năm là lên phương án cụ thể xem trọng tâm hoạt động bồi dưỡng của năm nay là gì? Cần phải bồi dưỡng những gì? Cách thức bồi dưỡng tiến hành ra sao, có thể bồi dưỡng tập trung trong hè hay tiến hành bồi dưỡng đan xen với hoạt động giảng dạy trong năm học?; Tiến hành đánh giá công tác bồi dưỡng như thế nào để đạt kết quả khả quan nhất?

Trang 33

Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng của từng năm học dựa vào thời điểm

cụ thể và đối tượng tham gia bồi dưỡng Do đặc thù của ngành giáo dục bậc phổ thông là được nghỉ 3 tháng hè nên việc lập kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên vào tháng cuối hè, trước đầu năm học mới là phù hợp nhất Tuy nhiên, cũng không ít khó khăn vướng mắc nảy sinh trong quá trình giảng dạy và cũng tạo động lực cho việc tự trau dồi kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm, đòi hỏi Phòng Giáo dục cần lập kế hoạch để có những biện pháp quản lý phù hợp

1.6.2 Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng

Sau khi tiến hành lên kế hoạch bồi dưỡng cụ thể của từng năm học, việc tiếp theo là tổ chức chỉ đạo việc thực hiện chương trình bồi dưỡng Quá trình bồi dưỡng được tiến hành theo hình thức tập trung trong hè và đan xen theo từng đợt trong năm học, chính vì vậy việc tổ chức bồi dưỡng như thế nào để tránh xáo trộn về chuyên môn luôn đặt ra đối với cán bộ quản lý bồi dưỡng

Chủ trì giải quyết những vướng mắc trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên cũng là một hình thức quản lý hoạt động bồi dưỡng Mọi khó khăn nảy sinh trong bài giảng, tiết giảng nếu như được giải đáp kịp thời thì chất lượng tự bồi dưỡng của giáo viên cũng tăng cao

1.6.3 Kiểm tra đánh giá công tác bồi dưỡng của các trường và của giáo viên

Sau mỗi đợt bồi dưỡng, công việc kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng

được tiến hành nhằm đánh giá chất lượng của cả đợt bồi dưỡng Dựa trên kết quả

đó, Phòng giáo dục có kế hoạch điều chỉnh nội dung chương trình bồi dưỡng cho phù hợp để tiến hành bồi dưỡng vào đợt sau, năm sau

Mục đích của việc kiểm tra đánh giá ngoài mục đích trên còn nhằm mục đích thúc đẩy, hỗ trợ, định hướng cho giáo viên được bồi dưỡng Thông qua kết quả kiểm tra đánh giá, người được bồi dưỡng nhìn nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình để từ đó có những kế hoạch tự bồi dưỡng, hòan thiện những mặt còn hạn chế với mục tiêu hướng tới chất lượng giảng dạy

1.7 Các nhân tố chi phối các công tác quản lý việc bồi dƣỡng giáo viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo

Hiệu quả của công tác quản lý việc bồi dưỡng giáo viên của Phòng GD&ĐT chịu sự tác động của hai nhóm nhân tố sau:

1.7.1 Nhóm nhân tố khách quan

- Chủ trương của Đảng, của Nhà nước và của Ngành về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bao gồm: Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục-đào tạo; Nghị

Trang 34

quyết số 40/2000/QH10 ngày 9 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; Chỉ thị

số 14/2001/CT-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2001 của thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện Nghị quyết số 40/QH10 của Quốc hội; Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 01 tháng 4 năm 2002 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; Chiến lược phát triển GD&ĐT giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện công tác quản lý việc bồi dưỡng giáo viên của Phòng Giáo dục

- Trình độ, năng lực của giáo viên: bao gồm cả trình độ nhận thức của giáo viên với công tác bồi dưỡng; trình độ tiếp nhận và vận dụng các kiến thức

đã được bồi dưỡng vào giảng dạy của giáo viên

- Các điều kiện phục vụ cho công tác bồi dưỡng như cơ sở vật chất, vấn đề tài chính, chế độ chính sách, các trang thiết bị phục vụ cho công tác bồi dưỡng Đây là những điều kiện không kém phần quan trọng giúp cho công tác bồi dưỡng gặt hái được thành công và cũng là động lực nhằm thúc đẩy công tác bồi dưỡng của giáo viên cho những năm sau được tiến hành thuận lợi

- Trình độ quản lý công tác bồi dưỡng của Phòng Giáo dục và Đào tạo: Bao gồm cả về trình độ vận dụng, xây dựng nội dung bồi dưỡng; khả năng tổ chức và đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng; kế hoạch hoá kiểm tra và đánh giá kết quả của công tác bồi dưỡng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đánh giá đúng chất lượng các đợt bồi dưỡng cũng như chất lượng giáo viên tham gia bồi dưỡng Đây

là những yếu điểm cần được nhìn nhận một cách khách quan và công bằng Có như vậy công tác bồi dưỡng mới có được niềm tin và tạo động lực thúc đẩy giáo viên tham gia công tác bồi dưỡng

Trang 35

Kết luận chương 1

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý của Phòng Giáo dục trong công tác bồi dưỡng giáo viên nói chung và bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm nói riêng đối với giáo viên THCS, chúng tôi nhận thức rằng bất cứ một

tổ chức nào muốn vận hành tốt phải có sự quản lý của chủ thể quản lý để có thể chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các hoạt động của đối tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu quản lý

Bậc học THCS là bậc học tiếp nối bậc học Tiểu học nhằm củng cố và phát triển những kiến thức cơ bản của học sinh đã học được ở bậc Tiểu học, đồng thời trang bị cho học sinh những kiến thức ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học lên Trung học phổ thông, Trung cấp, học nghề hoặc đi sâu vào cuộc sống lao động Như vậy, THCS không chỉ nhằm mục tiêu học lên THPT mà phải chuẩn bị cho sự “phân luồng” sau THCS Học sinh THCS phải có những giá trị đạo đức, tư tưởng lối sống phù hợp với mục tiêu, có kiến thức phổ thông cơ bản

về tự nhiên, xã hội và con người, gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương, có kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống bản thân, gia đình và cộng đồng

Để đạt được mục đích trên, đòi hỏi người giáo viên không những phải có kiến thức chuyên môn vững chắc mà còn có kỹ năng sư phạm nhuần nhuyễn để

có thể truyền tải kiến thức một cách hiệu quả nhất tới học sinh, tạo cho học sinh niềm đam mê học tập, tư duy sáng tạo Với yêu cầu đổi mới nội dung sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy, người giáo viên ngày càng có nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm Bởi vậy, việc quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm của Phòng Giáo dục là nhiệm vụ đặt ra ngày càng cấp thiết trong công tác quản lý của các Phòng Giáo dục nói chung và Phòng Giáo dục huyện Thanh Miện nói riêng, nhằm khắc phục những tình trạng yếu kém và bất cập để nâng cao chất lượng giáo viên và hiệu quả giáo dục và đào tạo

Từ lý do trên đây, tác giả nghiên cứu thực trạng vận dụng kiến thức kỹ năng sư phạm của giáo viên trong giảng dạy và công tác quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của Phòng Giáo dục huyện Thanh Miện và vận dụng lý luận

để phân tích thực trạng, trên cơ sở đó để tìm ra biện pháp quản lý tốt công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên THCS, đáp ứng kịp thời các yêu cầu do thực tiễn công tác quản lý đặt ra đối với Phòng Giáo dục huyện Thanh Miện

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HUYỆN THANH MIỆN

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Thanh Miện

2.1.1 Điều kiện nhiên

Thanh Miện là huyện đồng bằng nằm ở phía tây nam của tỉnh Hải Dương, toạ độ 20050’ vĩ độ Bắc và 106020’ kinh độ Đông Phía tây bắc giáp huyện Bình Giang; Phía đông bắc giáp huyện Gia Lộc; Phía đông nam giáp huyện Ninh Giang; Phía nam giáp tỉnh Thái Bình; Phía tây giáp tỉnh Hưng Yên

Huyện có 18 xã và 1 thị trấn Trung tâm huyện cách Hà nội 60km; cách thành phố Hải Dương 23 km và thị xã Hưng yên 25 km Cùng với mạng lưới giao thông thông suốt, Thanh miện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp và nông thôn

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 122.33 km2 với dân số năm 2006

là 148.765 người Mật độ dân số khoảng 1.216 người/km2 Dân số trong độ tuổi lao động là 67.857 người, trong đó có 3.478 người đã qua đào tạo chuyên môn, chiếm 5.1,% lực lượng lao động Dự báo đến năm 2010, dân số Thanh Miện là 153.960 người với 70.820 người trong độ tuổi lao động và số lao động qua đào tạo là 4.325 người

2.1.2 Kinh tế- xã hội

Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cán bộ và nhân dân Thanh Miện quyết tâm phấn đấu góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng IX, nền kinh tế của huyện có sự tăng trưởng đáng kể Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng từ 10.9% đến 11.4%

Thanh Miện đến nay, về cơ bản vẫn là một huyện thuần nông của tỉnh Hải Dương, cách xa các khu công nghiệp, các thành phố lớn; điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp và dịch vụ không nhiều Vì vậy trong những năm vừa qua song song với sự phát triển với tốc độ cao của tất cả các ngành trong nền kinh tế thì nông nghiệp vẫn là ngành quan trọng, đóng góp chủ yếu vào nền kinh tế toàn huyện

Tuy nhiên, kinh tế Thanh Miện đang dần thu hẹp khoảng cách, hoà nhập với cơ cấu và xu hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển mạnh sang kinh tế công nghiệp-xây dựng và dịch vụ Sự tăng

Trang 37

trưởng với tốc độ cao của tổng sản phẩm trong huyện cùng với sự tăng lên hàng năm của thu nhập ròng từ ngoài huyện đã tạo lên sự tăng nhanh thu nhập bình quân của nhân dân Thanh Miện Đời sống vật chất của người dân được nâng lên, các hộ nghèo có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, khoảng cách giầu nghèo giữa các hộ ngày càng được thu hẹp

Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, điện, trường học, trạm y tế đã cơ bản được nâng cấp và xây mới Sự nghiệp văn hoá cũng thu được những thành tựu đáng kể, phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hóa cũng đẩy mạnh, 87% số hộ gia đình và 82% số làng đạt được tiêu chuẩn gia đình văn hóa, làng văn hoá Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững ổn định

2.2 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục - đào tạo ở Thanh Miện

Trong những năm vừa qua, giáo dục huyện Thanh Miện đã từng bước phát triển một cách đồng bộ và toàn diện ở các ngành học, bậc học cụ thể như sau:

 Về quy mô giáo dục: Giáo dục huyện Thanh Miện đã phát triển một cách toàn diện: Toàn huyện có 63 đơn vị trường học, trong đó có 20 trường mầm non bán công, 19 trường tiểu học, 20 trường THCS, 1 TT-GDTX, 3 trường THPT bán công và công lập Cụ thể năm học 2005-2006 như: Giáo dục mầm non, toàn huyện có 20 trường mầm non bán công với 73 nhóm nhà trẻ, số cháu

ra lớp 1302 đạt tỷ lệ 30%; 173 lớp mẫu giáo Tất cả các trường mầm non đều có lớp bán trú Giáo dục tiểu học có 19 trường tiểu học 283 lớp với 9162 học sinh Giáo dục THCS có 20 trường THCS với 259 lớp với 9609 học sinh Khối lớp 6

có 63 lớp với 2156 học sinh, khối lớp 7 có 62 lớp với 2539 học sinh, khối lớp 8

có 67 lớp với 2447 học sinh, khối lớp 9 có 73 lớp với 2467 học sinh Huy động học sinh vào lớp 6 đúng độ tuổi đạt 100% GDTX có 24 lớp với 1730 học viên THPT có trên 4400 học sinh/85 lớp ở 3 trường THPT công lập và THPT bán công Tỷ lệ huy động học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 đạt 62.2% Số học sinh tốt nghiệp THPT thi đỗ vào đại học, Cao đẳng và chuyên nghiệp đạt 62%

 Về chất lượng giáo dục: Thực hiện nghị quyết 40/QH Quốc hội khoá

X, chỉ thị 14/CT/TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình GDPT, chất lượng giáo dục huyện Thanh Miện có chuyển biến tích cực ở tất cả các bậc học; mầm non, tiểu học, THCS, THPT và GDTX Chất lượng mầm non có 100%

số cháu đạt yêu cầu trở lên (58% khá giỏi) Tiểu học đổi mới chương trình từ lớp

1 đến lớp 5: 100% được học 2 buổi/ ngày Chất lượng học tập của học sinh lớp 6 đến lớp 9 (THCS) giỏi 6.9%, khá 39.2%, TB 46.3% Hạnh kiểm khá và tốt 93.6% GDTX xếp loại văn hoá khá 7.3%, TB 74.2%, hạnh kiểm 80.3% khá tốt Bậc THPT văn hoá khá giỏi 27.6%, TB 70%, hạnh kiểm 90% khá tốt Học sinh

Trang 38

giỏi tỉnh: TH 10%, THCS -GDTX- THPT đạt 50% tổng số dự thi đạt giải Giáo viên giỏi tỉnh TH, THCS 50%, GDTX 100% tổng số dự thi đạt giải Hàng năm

số học sinh thi đỗ vào cao đẳng đại học đạt 25 - 30%

 Công tác phổ cập tiểu học, THCS đạt chất lượng cao.Toàn huyện có

19 xã thì cả 19 xã đều đã hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học và THCS Phong trào xây dựng trường chuẩn Quốc gia đã được tích cực triển khai ở tất cả các cấp học, bậc học trong toàn huyện Đến nay huyện đã có 15 trường: 2 trường mầm non (đạt 10%), 10 trường tiểu học (đạt 53%) và 3 trường THCS (đạt 15%) được công nhận đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I Hiện nay các trường mầm non, tiểu học, THCS và THPT đang tích cực tiến hành xây dựng trường chuẩn Quốc gia theo kế hoạch đã được Sở GD&ĐT phê duyệt

Năm học 2005-2006, toàn ngành GD huyện có 1501 cán bộ, giáo viên và nhân viên, trong đó mầm non 379, TH 402, THCS 518, PTTH và GDTX 202 CBQL 155 người, trình độ ĐH 40, CĐ 41 Giáo viên các cấp học 1217 người (ĐH 319, CĐ 478, Trung học 420) và 140 nhân viên Trình độ giáo viên trên chuẩn: Mầm non 2.7%, TH 62,5%, THCS 21% Đạt chuẩn mầm non là 60%, các bậc học khác là 100%

 Công tác xã hội hóa giáo dục: Huyện đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng và nâng cấp mạng lưới trường, lớp phù hợp với quy mô phát triển giáo dục cấp huyện, đáp ứng được cơ bản nhu cầu học tập của con em nhân dân nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần phát triển KT-

XH ở địa phương Tính đến đầu năm học 2006-2007, toàn huyện có 787 phòng học, trong đó 625 phòng KCCT MN có 150 phòng học KCCT/243 phòng, chiếm 61.7% TH có 221/270 phòng học KCCT, chiếm 81.8% THCS có số phòng học KCCT là 175/195, bằng 89.7 GDTX-THPT có 79/79 phòng học KCCT, đạt 100% Có 20 thư viện đạt chuẩn theo quyết định 01 của Bộ GD&ĐT: Tiểu học có 12; THCS có 8 trong đó có 2 thư viện tiên tiến- trang thiết

bị dạy học khá tốt Bàn ghế, đồ dùng dạy học đúng quy cách ở các nhà trường đạt 70%

Được sự lãnh đạo của huyện uỷ, HĐND, UBND huyện, ngành GD đã tuyên truyền hướng dẫn, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên, học sinh, đồng thời đã tham mưu đến cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân về công tác giáo dục, tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, giám sát của HĐND, sự quản lý của UBND các cấp, phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên, đội thiếu niên, hội cha

mẹ học sinh, hội khuyến học, hội cựu giáo chức và các tổ chức đoàn thể tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục

Trang 39

Những năm qua huyện uỷ, HĐND, UBND huyện đó chỉ đạo cỏc xó, thị trấn trong toàn huyện thực hiện tốt cỏc chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về lĩnh vực giỏo dục, thực sự quan tõm chỉ đạo ngành giỏo dục về mọi mặt: ổn định

về quy mụ phỏt triển giỏo dục, chất lượng giỏo dục từng bước cú chuyển biến vững chắc, đầu tư ngõn sỏch kịp thời để xõy dựng cơ sở vật chất ngày được tăng cường, đội ngũ cỏn bộ quản lý giỏo dục và giỏo viờn chuẩn hoỏ ngày càng cao đỏp ứng yờu cầu trong thời kỳ đổi mới của đất nước Hiện nay cú 100% CBQL, giỏo viờn THCS và giỏo viờn tiểu học đó đạt chuẩn và trờn chuẩn về đào tạo

Bảng 1: Quy mụ phỏt triển giỏo dục

(40%)

1435 (40%)

1565 (38%)

1258 (43%)

1423 (41%)

1657 (38%)

(80%)

4430 (86%)

4663 (88%)

4517 (89%)

4569 (86%)

4766 (91%)

69 (22%)

82P (26%)

130P (52,2%)

144P (59%)

(53%)

156P (59%)

159P (66,8%)

167P (67,6%)

205P (78%)

256P (81,8%)

(86%)

153P (88%)

155 P (88%)

159 P (94%)

163P (94%)

181P (95,2%)

Nguồn: Phòng giáo dục và đào tạo Thanh Miện

2.3 Giỏo dục trung học cơ sở

2.3.1 Về chất lượng và hiệu quả đào tạo học sinh trung học cơ sở

Trong 5 năm trở lại đõy chất lượng giỏo dục THCS huyện Thanh Miện vẫn giữ được sự ổn định và cú xu hướng phỏt triển đặc biệt là 2 năm gần đõy chất

Trang 40

lượng giáo dục đại trà và chất lượng giáo dục mũi nhọn thể hiện qua bảng 2 và

SL

TL (%)

SL

TL (%)

SL

TL (%)

S

L

TL (%)

SL

TL (%)

SL

TL (%)

SL

TL (%)

S

L

TL (%)

2000-2001 11974 725 6 4109 34 6756 56 769 6 7 0 4407 37 6709 56 427 4 7 0 2001-

2002 11818 805 7 4279 36 6252 53 947 8 0 0 4411 37 5973 51 441 4 0 0 2002-

2003 11431 787 7 3993 35 5968 52 1120 10 9 0 4783 42 5566 49 637 6 2 0 2003-

2004 10992 917 8 4095 37 5323 48 1072 10 7 0 5504 50 4429 40 596 5 1 0 2004-

2005 9915 922 9 4255 43 4674 47 1032 10 6 0 5958 60 3332 33 698 7 5 0 2005-

Nguồn: Phòng giáo dục và đào tạo Thanh Miện

Song song với việc duy trì và phát huy tích cực kết quả giáo dục hai mặt học lực và hạnh kiểm, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh kém

tiếp tục được các trường quan tâm, nhiều trường đã đầu tư và có biện pháp tích

cực hơn so với những năm học trước Các môn mới cũng đã được đưa vào giảng

dạy trong các trường: 100% các trường đã đưa môn ngoại ngữ tiếng Anh vào

Ngày đăng: 25/01/2020, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w