Hội nghị lần thứ Tư, Ban chấp hành TW Đảng khoá VII đã chỉ rõ: "Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề là phải quán triệt rất sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
THÂN VĂN DÀN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ
TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
MÃ SỐ : 601405
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS Lê Ngọc Hùng
HÀ NỘI, NĂM 2006
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận về XHHSNGD và quản lý công tác
1.1 Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và XHHSNGD 8
1.1.4 Quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý giáo dục 15
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý, tổ chức, chỉ đạo, xã hội hoá,
1.3 Tổng quan một số quan điểm khoa học quản lý giáo dục về
Trang 31.3.1 Một số nét về tình hình nghiên cứu XHHSNGD trong nước và Quốc tế 23
1.3.4 Điều kiện thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 31
Chương 2: Thực trạng công tác XHHSNGD ở huyện Lục
2.1.1 Khái quát tình hình địa lý, kinh tế - xã hội 36
2.1.3 Tình hình thực hiện chủ trương của Đảng về XHHSNGD 39
2.2 Thực trạng quản lý công tác XHHSNGD ở huyện Lục Nam, tỉnh
2.3 Kết qủa thực hiện XHHSNGD ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 52
2.3.3 Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo
2.4 Tổng kết kinh nghiệm và bài học thực tiễn về công tác XHHSNGD 67
2.4.1 Những thuận lợi, khó khăn, hạn chế yếu kém đối với công tác
2.4.2 Một số bài học thực tiễn về công tác XHHSNGD ở huyện Lục Nam,
Chương 3: Xu hướng và giải pháp tăng cường XHHSNGD 74
Trang 45
3.1.1 Phát triển các cấp học, trình độ và loại hình giáo dục 74 3.1.2 Định hướng phát triển giáo dục và chủ trương XHHSNGD của tỉnh
3.1.3 Phát triển giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006-2010 của huyện Lục Nam,
3.2 Một số giải pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục 78
3.2.1 Tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước 78 3.2.2 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền 81 3.2.3 Hoàn thiện cơ chế phối hợp các lực lượng xã hội 87 3.2.4 Nâng cao hiệu quả của ba môi trường giáo dục 93 3.2.5 Tăng cường xã hội hoá về mục tiêu, kế hoạch và nội dung giáo dục 96 3.2.6 Củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội
đồng giáo dục các cấp và các trung tâm học tập cộng đồng 97 3.2.7 Hoàn thiện cơ chế và tăng cường các biện pháp quản lý tài chính nhằm
phát huy hiệu quả của nguồn lực tài chính huy động từ XHHSNGD 100
3.3 Khảo nghiệm tầm quan trọng, tính cần thiết và tính khả thi… 101
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
CHỮ VIẾT TẮT TRONG BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang 6HĐGD Hội đồng giáo dục
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI, thế
kỷ của nền văn minh trí tuệ, xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, thế kỷ của hội nhập khu vực và quốc tế Đảng và Nhà nước ta đã xác định Giáo dục
và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Chủ trương coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu được xuyên suốt trong các nghị quyết của Đảng, từ Nghị quyết TW 4 (Khoá VII), đến Nghị quyết TW 2
(khoá VIII), văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng định, phát triển Giáo dục và Đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Từ quan điểm đúng đắn đó, Đảng và Nhà Nước ta đã xác định cần phải đầu tư cho giáo dục, chăm lo xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục, làm cho Giáo dục và Đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu
Hội nghị lần thứ Tư, Ban chấp hành TW Đảng (khoá VII) đã chỉ rõ:
"Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề là phải quán triệt rất sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội"; " huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nuớc"
Hội nghị lần thứ Hai, Ban chấp hành TW Đảng (khoá VIII ) tiếp tục
khẳng định : "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của nhà nước
và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân; kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội , xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh …"; " Giáo dục - Đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của
Trang 8nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên và học suốt đời" Nhiệm vụ của Giáo dục và Đào tạo là "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài"
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định phương
hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo là "Nâng cao chất lượng toàn diện, đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hóa và xã hội hoá … Thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập"
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: "Giáo dục và
Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng
và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"; "Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
Để mở rộng và phát triển giáo dục theo mục tiêu và chủ trương đường lối của Đảng, ngoài việc tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước, cần phải đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, được Đảng ta coi là một tư tưởng, định hướng mang tính chiến lược
Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục của huyên Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã và đang được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm chăm lo và
phát triển Quy mô ngày càng được mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên, cơ sở hạ tầng được quan tâm xây dựng Đứng trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn huyện Lục Nam, đòi hỏi giáo dục phải được đổi mới
và phát triển mạnh mẽ Trong khi đó nguồn lực đầu tư cho xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn ở mức rất thấp; Nguồn lực đầu tư của nhà nước, của tỉnh rất khó khăn; chất lượng và hiệu quả giáo dục còn có những hạn chế, bất cập; Bởi vậy, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện
Trang 9và hiệu quả tăng cường XHHSNGD trên địa bàn, góp phần thực hiện phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đặt ra
Chủ trương XHHSNGD ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã được triển khai ở hầu hết các địa phương trên toàn huyện và đã bước đầu thu đuợc những kết quả khá Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đặt ra cho phát triển sự nghiệp giáo dục còn bộc lộ nhiều bất cập
Về mặt khoa học, XHHSNGD là một đề tài không hoàn toàn mới và
đã được một số tác giả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn Song, đối với địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang còn là một vấn đề mới; XHHSNGD trên địa bàn chưa phải đã được tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội nhận thức đầy đủ, chỉ đạo và tham gia đạt hiệu quả cao; Các gia đình, từng cá nhân trong cộng đồng chưa phải đã hiểu rõ và tích cực hưởng ứng Huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là một huyện miền núi có những nét đặc thù riêng về địa
lý, về phong tục tập quán, về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, việc nghiên cứu, kiểm chứng những giải pháp đã được tổng kết và bổ sung một số giải pháp tăng cường XHHSNGD phù hợp với thực tiễn địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp Giáo
dục là một yêu cầu có tính cấp thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác XHHSNGD trên cơ sở đề xuất một số giải pháp tăng cường XHHSNGD đặc biệt là các giải pháp quản lý nhằm đạt mục tiêu phát triển giáo dục ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề XHHSNGD ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp lãnh đạo, quản lý, tổ chức nhằm tăng cường XHHSNGD
ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Trang 104.Giả thuyết khoa học
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cần phải lựa chọn và áp dụng đồng bộ các giải pháp tăng cường XHHSNGD phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, giải pháp quản lý công tác XHHSNGD
- Nghiên cứu, thu nhập, phân tích và xử lý thông tin để đánh giá thực trạng công tác XHHSNGD huỵện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; xem xét nguyên nhân và các yếu tố tác động đến thực trạng đó
- Tìm hiểu xu hướng biến đổi của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và đề xuất giải pháp tăng cường xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục trên địa bàn
6 Giới hạn đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề giải pháp tăng cường xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong thời gian từ năm
2001 đến đầu năm 2007, chủ yếu đối với ngành học Mầm non, cấp Tiểu học và bậc THCS
7 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng, nhà nước; luật giáo dục; văn bản của Bộ giáo dục và đào tạo; các chỉ thị, nghị quyết của tỉnh uỷ, UBND tỉnh và huyện Lục Nam; nghiên cứu sách, tài liệu và báo cáo khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra xã hội học, lấy ý kiến; trao đổi kinh nghiệm, phỏng vấn; thống kê, phân tích tổng hợp, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm; lấy ý kiến chuyên gia …
Trang 11Trong quá trình nghiên cứu đã tiến hành thăm dò: Tổng số phiếu phát
ra thăm dò: 1120 phiếu, số phiếu thu về 1097 phiếu đạt tỷ lệ 97,9% Trong đó: Nam 522, Nữ 575 Đối tượng điều tra được chia làm các nhóm đối tượng:
1- Lãnh đạo Đảng, chính quyền xã, thị trấn: 36 người;
2- Trưởng, phó, cán bộ các ban ngành, đoàn thể xã, thị trấn: 189 người; 3- Nhân dân của các xã, thị trấn trong huyện: 360 người;
4- Cán bộ quản lý trường học: 96 người;
5- Giáo viên, nhân viên các trường học: 239 người;
6- Phụ huynh học sinh: 177 người;
8 Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu
Đề tài bắt đầu nghiên cứu trong từ tháng 11 năm 2004
- Từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005, tiến hành thực hiện nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu; tìm hiểu thực trạng
- Từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006, nghiên cứu thực trạng tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp
- Từ tháng 6 năm 2006 đến tháng 01 năm 2007, tiếp tục nghiên cứu thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, nghiệm thu đề tài
9 Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và quản lý công tác XHH SNGD
Chương 2 Thực trạng công tác XHHSNGD ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Chương 3 Xu hướng và giải pháp tăng cường XHHSNGD ở huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang
Trang 12Chương 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
1.1 Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về XHHSNGD
1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục
Chủ nghĩa Mác -Lê Nin khẳng định Giáo dục có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Khi đề cập đến vấn đề tổng quát của lịch
sử phát triển loài người Mác chỉ rõ ở mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi một
sức lao động xã hội nhất định Sức lao động đó là :"Toàn bộ các sức mạnh
thể chất và sức mạnh tinh thần ở trong cơ thể con người, ở trong nhân cách sinh động của con người, những sức mạnh thể chất và tinh thần mà con người phải cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích" [2, tr 23]
Mác là Người có những kiến giải sâu sắc về Giáo dục - Đào tạo Giáo dục - Đào tạo phải kết hợp với lao động sản xuất, chế độ Giáo dục - Đào tạo phải tương hợp với chế độ chính trị, kinh tế - xã hội
Mác viết "Chỉ cần xem những sách của Robert Owen cũng đủ thấy rằng
chế độ công xưởng là nơi đầu tiên làm nảy nở mầm mống của nền giáo dục tương lai, nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục, đối với hết thảy các trẻ em trên một lứa tuổi nhất định nào đó và làm như vậy không những chỉ là phương pháp tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương pháp độc nhất và duy nhất để đào tạo ra những con người toàn diện" [31,
Tr229]
Trên nền tảng tư tưởng giáo dục của Mác, Lê nin đã phát triển hoàn chỉnh lý luận về bản chất kinh tế của giáo dục Theo Lê Nin, giáo dục xã hội
Trang 13chủ nghĩa vừa là mục đích kinh tế, vừa là sức mạnh của kinh tế Giáo dục trong các nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện cả hai mặt của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội Một mặt giáo dục là mục đích mà nền kinh tế hướng tới nhằm thoả mãn đời sống tinh thần; mặt khác giáo dục tái sản xuất sức lao động cho các ngành của nền kinh tế quốc dân
Ngay sau khi cách mạng Tháng Mười thành công, Lê Nin đã chỉ ra:
"Muốn thoát khỏi cảnh thiếu thốn, cảnh cùng khổ đen tối nhất thì phải có suy
nghĩ, phải có văn hoá, phải giỏi" Người coi: "Điều kiện để nâng cao năng xuất lao động trước hết chính là trình độ tiến bộ của nền giáo dục và văn hoá của đông đảo quần chúng nhân dân" [2, tr25]
Dưới góc độ kinh tế đảm bảo cho giáo dục điều kiện vật chất để thực hiện có kết quả quá trình đào tạo, giáo dục phát triển mạnh mẽ, vững chắc phục vụ tốt cho các nhiệm vụ kinh tế - xã hội khi nền kinh tế bảo đảm cho giáo dục mọi điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức các quá trình sư phạm có kết quả Giáo dục XHCN là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội phải chăm lo
sự phát triển của giáo dục và của ngành giáo dục, ngoài kinh phí cấp phát của nhà nước, còn phải biết khai thác lực lượng vật chất của xã hội phục vụ cho
công tác đào tạo Trong "Dự án cương lĩnh của Đảng cộng sản Nga", tháng 2 năm 1919, Lê nin đã nêu:"Làm cho nhân dân lao động tích cực tham gia vào
sự nghiệp giáo dục quốc dân, phát triển những hội đồng giáo dục quốc dân, động viên những người có văn hoá tham gia vào quá trình giáo dục" [2,
tr28]
Lý luận Mác - Lê Nin đã được Hồ Chủ Tịch thể hiện sinh động và phát triển sáng tạo trong tiến trình cách mạng ở nước ta Tháng 9 năm 1945 Hồ
Chủ Tịch đã nêu ra mục tiêu của chế độ mới là làm cho mọi người "ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" Để đạt được mục tiêu này,
Người cho rằng:"Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong
lúc này là nâng cao dân trí" [2, tr 61]
Trang 14Tháng 3 năm 1956, Hồ Chủ Tịch vạch ra mối liên hệ biện chứng giữa
phát triển giáo dục và phát triển kinh tế "Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho
kinh tế Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục không phát triển được Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau" [2, tr62] Hồ Chủ Tịch rất coi trọng vận dụng mối liên hệ này theo
mục tiêu thiết thực đáp ứng các vấn đề trước mắt của đời sống kinh tế và bao quát những nhiệm vụ của Cách mạng trong thế phát triển lâu dài Người nhắc
nhở toàn Đảng, toàn dân:"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người" Người yêu cầu toàn xã hội "phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục lên những bước phát triển mới" [2, tr62] Người còn dạy "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa Thầy và Thầy, giữa Thầy và Trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm
vụ đó".[23, tr258]; "Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ Các cơ quan Chính quyền và các cấp uỷ Đảng phải thực sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình hơn nữa" [22, tr 228]
Người chỉ thị cho ngành Giáo dục:"Dù khó khăn đến đâu cũng phải
tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt" để "thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật" [2, tr 63]
Xuất phát từ vai trò quần chúng trong lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục
ngoài xã hội và trong gia đình Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu sự giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn" [20, tr25]
1.1.2 Quan điểm của Đảng , Nhà nước về giáo dục và xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục
Trang 15Đảng và Nhà nước ta xác định giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong quá tình phát triển đất nước Đảng xác định, muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển Giáo dục - Đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển Giáo dục - Đào tạo Đại hội VII của Đảng đã khẳng định phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ là Quốc sách hàng đầu Hội nghị lần thứ Tư BCH TW khoá VII đã có Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự
nghiệp Giáo dục - Đào tạo với quan điểm :"Cùng với khoa học và công nghệ,
Giáo dục và Đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc sách hàng đầu Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước." [10, tr 61]; "Mặt trận
tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi người cùng với ngành Giáo dục - Đào tạo chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", "xây dựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội" [10, tr 65]
Về định hướng chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nghị quyết hội nghị lần thứ Hai, Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII chỉ rõ :"Giáo dục - Đào tạo là sự nghiệp
của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời"; "Mọi người chăm lo giáo dục Các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế và xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho Giáo dục - Đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể" [12, tr 30]
Trang 16Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định cùng với khoa học và công nghệ, phát triển Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định phát triển giáo dục & đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Phát huy tinh
thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực
hiện "giáo dục cho mọi người ", "cả nước trở thành một xã hội học tập";
Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội" [13, tr 109]
Đại hội IX của Đảng còn nhấn mạnh "Thực hiện chủ trương xã hội hoá
giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục" [13, tr
111]
Chủ trương phát triển Giáo dục - Đào tạo đến năm 2010, tại Hội nghị
lần thứ Sáu, BCH TW Đảng khoá IX chỉ rõ:"Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục,
coi Giáo dục - Đào tạo là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho giáo dục" [14, tr 135]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò và nhiệm vụ của Giáo dục - Đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá hoá và phát triển kinh tế tri thức Đại hội đánh giá " Việc xã hội hoá
giáo dục được thực hiện chậm, thiếu đồng bộ Công tác Giáo dục và Đào tạo
ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, chất lượng thấp" [15, tr 171]; Đồng
Trang 17thời chỉ rõ "phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì
dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", "Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục" [15, tr 208]
Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục còn được thể hiện tại điều
12, Luật giáo dục "Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp
của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; Thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn" [
5,tr 12 ]
Từ tháng 8 năm 1997 Chính phủ đã có Nghị quyết số 90/NQ-CP về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục Nghị quyết
đã đề cập những nội dung rất cơ bản về XHHSNGD:
XHHSNGD là cuộc vận động lớn, hình thành các tổ chức nhân dân của toàn xã hội tham gia, đóng góp, thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục
XHHSNGD là việc tạo ra môi trường rộng khắp, lành mạnh cho giáo dục mà trách nhiệm thuộc về cộng đồng xã hội từ cấp uỷ Đảng, Chính quyền, đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chăm lo, hỗ trợ cho phát triển sự nghiệp giáo dục
XHHSNGD còn là sự tìm tòi khai thác các tiềm ẩn nguồn lực và vật lực trong xã hội cho giáo dục, đây là chủ trương lâu dài, một phương châm trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục còn là vấn đề sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí mà giáo dục huy động được
Tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt
"Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010" Trong chiến lược phát triển
Trang 18Giáo dục - Đào tạo 2001-2010 cũng đã đề cập: "Khuyến khích, huy động và
tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời, tiến tới một xã hội học tập" [30, tr42]
Một trong bẩy nhóm giải pháp lớn phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 là đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Một là, hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ chế chính sách và các giải pháp xã hội hoá giáo dục, nhằm tạo sự nhất trí cao trong xã hội về nhận thức và tổ chức thực hiện; bổ sung và hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách vĩ mô khuyến khích mạnh mẽ các tổ chức kinh tế -
xã hội,
các cá nhân đầu tư cho phát triển giáo dục
Hai là, phát triển các trường ngoài công lập; củng cố nâng cao chất lượng giáo dục của các trường ngoài công lập; hoàn thiện và ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ các trường ngoài công lập
Ba là, mở rộng các quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục, khuyến khích cá nhân và tập thể đầu tư phát triển giáo dục
Bốn là, mở rộng và tăng cường các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội tạo điều kiện để xã hội có thể đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, góp ý kiến cho quy hoạch phát triển nhà trường, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo, hỗ trợ kinh phí cho người học và tiếp nhận người tốt nghiệp, giám sát các hoạt động giáo dục và tạo lập môi trường giáo dục lành mạnh
Năm là, xây dựng nhà trường thực sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh…
Sáu là, Nâng cao nhận thức, tăng cường lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự giám sát của hội đồng nhân dân, sự quản lý của UBND các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,
Trang 19Đội thiếu niên tiền phong, Hội học sinh - sinh viên, Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học và các đoàn thể, tổ chức xã hội khác trong việc huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
Xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục - đào tạo, tháng 10 năm 1990, Bộ Giáo dục & Đào tạo - Công đoàn giáo dục Việt Nam đã có Thông tư liên tịch số 35/TT-LT về chỉ đạo và vận động toàn ngành tham mưu với cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương mở Đại hội giáo dục cấp cơ sở nhằm thể chế hoá thực hiện chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Từ đó, danh từ xã hội hoá giáo dục được nêu trong ngành giáo dục Việc mở Đại hội giáo dục các cấp, thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được Ban khoa giáo trung ương phối hợp chỉ đạo và đã triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn quốc
Các tỉnh, thành phố, quận (huyện), xã (phường) có Nghị quyết, chỉ thị
về XHHSNGD; đồng thời tổ chức đại hội giáo dục cấp cơ sở, quận (huyện) và tỉnh (thành phố)
Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo cụ thể hoá trong điều lệ trường học năm 2000 Điều lệ trường học đã xác định rất rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của nhà trường trong mối quan hệ cộng đồng địa phương Trường học có nhiệm vụ góp phần xây dựng môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội; khai thác mọi tiềm năng của cộng đồng tham gia giáo dục học sinh, phát huy tác dụng của một
cơ sở giáo dục đối với cộng đồng
Tại Điều 49 điều lệ trường Tiểu học có ghi :"Nhà trường phải chủ
động phối hợp với Hội đồng giáo dục cấp xã, ban đại diện cha mẹ học sinh trường, các tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục trẻ em trong cộng đồng nhằm: Thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi lực lượng của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học
Trang 20tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường" [28, tr20]
1.1.3 Quan điểm lịch sử phát triển giáo dục
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với giáo dục Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu được của xã hội loài người Xét về nguồn gốc, giáo dục xuất hiện trong cuộc sống nhằm mục đích truyền thụ kinh nghiệm sống, lao động và nó là chất kết dính biến cộng đồng thành một cấu trúc Như vậy, chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thuỷ của giáo dục là xã hội hoá
Có thể coi từ khi có xã hội loài người đến nay đã trải qua bốn nền "văn
minh": " văn minh hái lượm", " văn minh nông nghiệp", " văn minh công nghiệp", " văn minh trí tuệ" [ 20, tr3] Trong nền " văn minh hái lượm" con
người tồn tại theo bầy đoàn và sau đó là bộ lạc; phương tiện sản xuất thô sơ
và cuộc sống tồn tại nhờ săn bắn và hái lượm Tương ứng với giai đoạn phát triển này của xã hội loài người, giáo dục xuất hiện dưới dạng tự phát ở đây
có thể coi giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm hái lượm, săn bắn để tồn tại
Sau hàng vạn năm tồn tại cùng với sự xuất hiện các hình thái xã hội,
loài người đã chuyển dần sang nền " văn minh nông nghiệp" với sức sản xuất
và quan hệ sản xuất lấy tài nguyên, đất đai làm điểm tựa Tương ứng với giai đoạn này, bên cạnh giáo dục ở gia đình, giáo dục nhà trường đã phát triển mạnh biến giáo dục thành một quá trình tự giác, có tổ chức, nội dung có chọn lọc và tính mục đích rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên, nội dung giáo dục về cơ bản
là giáo điều, phương pháp giáo dục nặng về áp đặt
Xã hội tiếp tục phát triển và rồi loài người dần dần chuyển sang một
nền văn minh khác với tên "nền văn minh công nghiệp" Lúc này, nền giáo dục cổ truyền của "nền văn minh nông nghiệp" không còn đáp ứng được đòi
hỏi mới của nền kinh tế - xã hội và một nền giáo dục mới đã ra đời với tên gọi nền giáo dục hiện đại Để đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội cũng như tận dụng được những điều kiện mới mà xã hội mới mang đến Nội
Trang 21dung giáo dục đa dạng hơn, phong phú hơn, mang tính hướng nghiệp hơn; phương pháp giáo dục mềm dẻo, đa dạng, gắn với lao động sản xuất
Trong thế kỷ XXI, loài người sẽ chuyển dần sang nền kinh tế tri thức
và một nền văn minh mới của xã hội loài người sẽ hình thành đó là "nền văn
minh trí tuệ" Tương ứng với nền văn minh này của xã hội loài người, nền
giáo dục cũ cần phải có sự canh tân để thích ứng với "đơn đặt hàng" mới của
xã hội và phải tận dụng nhiều hơn những thành tựu của công nghệ thông tin
và thông lưu để đổi mới phương thức Giáo dục và Đào tạo của mình và người ta gọi nền giáo dục đó là nền giáo dục tương lai Ở đây, nhà trường truyền thống sẽ có những thay đổi lớn về cách thức chuyển tải nội dung và
phương thức giáo dục cũng rất đa dạng Nhà trường trở thành "siêu thị kiến
thức" ! [ 20, tr4] Chỉ có như vậy, giáo dục mới đáp ứng được những đặc
điểm mới của kinh tế - xã hội
Từ những kiến giải trên, chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa Giáo dục
và Đào tạo với xã hội xét trong suốt tiến trình phát triển của chúng đã tạo nên một hình xoắn ốc, ứng với mỗi giai đoạn phát triển, mối quan hệ hai chiều giáo dục - xã hội thúc đẩy nhau cùng phát triển Sự cân bằng động đó tồn tại
vì con người, do con người hay nói một cách khác lấy con người làm điểm tựa Ở đây, giáo dục phải là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội vì nhờ có giáo dục làm động lực xã hội không ngừng phát triển Khi xã hội phát triển
lên một mức nào đó, xã hội sẽ "đặt hàng mới" cho giáo dục và cũng tạo điều
kiện mới cho giáo dục, buộc giáo dục phải tự nâng mình lên để đáp ứng bối cảnh mới Mối quan hệ cân bằng động này tồn tại cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người
Giáo dục là một bộ phận của xã hội và nó phục vụ cho sự phát triển của
xã hội Vì vậy, xã hội vừa là cái nôi của giáo dục, vừa là môi trường cho sự phát triển giáo dục; giáo dục tách khỏi xã hội thì giáo dục không có lý do để tồn tại
Xuất phát từ vai trò của xã hội đối với giáo dục và quản lý giáo dục trong mối quan hệ với xã hội, người cán bộ quản lý giáo dục cần nhận thức
Trang 22tính khách quan và hiểu bản chất của các mối quan hệ giáo dục với các yếu tố
khác của hệ thống xã hội; có ý thức đầy đủ về vai trò, tác dụng của "cân bằng
động" giữa giáo dục với môi trường kinh tế - xã hội Giáo dục muốn phát
triển cần duy trì sự "cân bằng động" Xã hội hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà
trường là phương thức phát triển giáo dục, một biện pháp tăng cường tính xã hội của giáo dục
1.1.4 Quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý giáo dục
Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, hệ thống giáo dục là một hệ con của hệ thống xã hội Giáo dục chi phối nhiều yếu tố của hệ thống xã hội như: Giáo dục phụ thuộc vào Nhà nước và chính trị, phụ thuộc vào truyền thống văn hoá giáo dục của quốc gia, phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế -
xã hội, phụ thuộc vào trình độ của khoa học, công nghệ
Mối quan hệ giáo dục - Nhà nước được xác lập trên cơ sở Nhà nước là
tổ chức công quyền lớn nhất quản lý giáo dục; giáo dục là công cụ của Nhà nước, giáo dục phục vụ chính trị Bất cứ Nhà nước nào cũng phải tổ chức giáo dục cho công dân của mình
Mối quan hệ Giáo dục - Kinh tế được xác lập trên quan điểm giáo dục
là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và ứng với mỗi nền kinh tế có một nền giáo dục tương ứng
Mối quan hệ Giáo dục - Khoa học và công nghệ; ứng với một trình độ phát triển khoa học và công nghệ, nội dung và phương pháp giáo dục cũng
bị chi phối Mối quan hệ giáo dục - khoa học và công nghệ là mối quan hệ hai chiều, bởi vì giáo dục góp phần sáng tạo ra khoa học và công nghệ và khoa học công nghệ thúc đẩy giáo dục phát triển
Mối quan hệ Giáo dục - Môi trường xã hội Giáo dục cũng như các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội, luôn bị chi phối bởi bối cảnh và môi trường diễn ra các hoạt động đó Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, giáo dục sẽ
bị tác động và ảnh hưởng nhất định
Trang 23Khi đề cập bản chất của mối quan hệ giữa giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng đối với cộng đồng xã hội người ta thường nhấn mạnh các vấn đề sau: [ 20 ]
Thứ nhất, giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người
Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại với chức năng của mình, giáo dục lại có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội Ta có thể xem đó là bản chất tính xã hội của giáo dục
Thứ hai, xã hội loài người coi giáo dục là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội.Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho sự phát triển tiếp theo của xã hội Khi xã hội phát triển lên một mức mới, chính
xã hội lại tạo điều kiện mới cho giáo dục và đặt hàng mới cho giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng và buộc giáo dục phải tự nâng mình lên để một mặt đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng mới của xã hội; mặt khác, giáo dục tận dụng tốt những điều kiện mà xã hội mới tạo cho Cứ như thế, tính chất vòng tròn của mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra trong sự cân bằng động và phát triển đi lên theo đường xoắn ốc cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người Ta có thể coi đó là bản chất mối quan hệ giữa giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng với kinh tế - xã hội mà người ta thường đặt tên cho nó là mối quan hệ cân bằng động
Thứ ba, để tăng cường mối quan hệ giữa giáo dục, nhà trường và cộng đồng xã hội, chúng ta cần đi sâu vào đặc điểm của các mối quan hệ cụ thể nghiên cứu kỹ đặc điểm của từng ngành học, bậc học, hoàn cảnh của từng cộng đồng, từng vùng, từng địa phương để có biện pháp triển khai mối quan
hệ giữa giáo dục đối với cộng đồng xã hội cho phù hợp và có hiệu quả
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý, tổ chức, chỉ đạo, xã hội hoá, XHHSNGD
1.2.1 Khái niệm xã hội hoá
Trang 24Trong xã hội học, xã hội hoá được sử dụng với nghĩa là quá trình con người tiếp thu nền văn minh văn hoá của xã hội trong đó con người được sinh ra, quá trình nhờ nó con người đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ, ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội hay
là quá trình chuyển biến cá nhân còn mang tính sinh vật sang cá nhân có tính cách xã hội Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân, quá trình hình thành
và phát triển nhân cách
"Xã hội hoá trước hết là quá trình tương tác giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, qua đó con người với tư cách là cá thể học hỏi, lĩnh hội, tiếp nhận quy tắc văn hoá của xã hội như khuôn mẫu hành vi, giá trị chuẩn mực văn hoá xã hội, kiến thức, kỹ năng, phương pháp để đóng được những vai trò phù hợp với vị thế xã hội của mình Trên cơ sở đó, cá thể biến thành cá nhân, hình thành nhân cách và con người hội nhập vào xã hội" [29,
tr68]
Khái niệm xã hội hoá trong luận văn này thuộc phạm trù cách làm Xã hội hoá là một khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gì đó mang tính xã hội hay trở thành cái chung của xã hội, mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm Đó là quá trình xã hội hoá các vấn đề, hoạt động
xã hội Chẳng hạn xã hội hoá hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao Hiện có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng: Bản chất của xã hội hoá là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội, tạo ra sự phối hợp một cách
có kế hoạch dưới sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự của dân, do dân và vì dân
1.2.2 Khái niệm XHHSNGD
Rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục phát biểu khái niệm XHHSNGD XHHSNGD có thể hiểu một cách đơn giản đó là quá trình tạo ra một xã hội học tập và khi mọi người được hưởng thụ giáo dục thì mọi người,
Trang 25mọi gia đình, toàn xã hội phải có trách nhiệm về tinh thần và vật chất đối với giáo dục
XHHSNGD được thể chế hoá thành điều 12, Luật Giáo dục năm 2005
"Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và
của toàn dân.Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn" [5, tr12]
XHHSNGD thuộc phạm trù cách làm giáo dục Giáo dục về bản chất mang tính xã hội Giáo dục và xã hội luôn gắn bó, hoà quyện với nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải làm giáo dục Ngược lại, giáo dục muốn phát triển thì không thể tách ra khỏi đời sống xã hội, không thể không dựa vào cộng đồng Vì vậy, XHHSNGD là tìm cách hoàn nguyên bản chất xã hội của giáo dục và gắn giáo dục với xã hội, với cộng đồng
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được hiểu với nghĩa phổ biến nhất là làm cho mọi người và toàn xã hội làm giáo dục, tất cả cho giáo dục và giáo dục cho mọi người Vì vậy, XHHSNGD bao hàm cả xã hội hoá về trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và cả xã hội hoá quyền lợi của mọi người về giáo dục Trong đó, xã hội hoá về quyền lợi giáo dục là
mục tiêu chủ yếu, cốt lõi của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục "Mọi người cho
giáo dục " và " Giáo dục cho mọi người" là hai vấn đề có liên quan chặt chẽ
và tác động qua lại lẫn nhau, là hai đặc trưng của "Xã hội học tập" Muốn
giáo dục đến được với mọi người thì mọi người phải tham gia làm giáo dục; muốn mọi người có trách nhiệm đối với giáo dục thì giáo dục phải phục vụ cho tất cả mọi người
Trang 26Để có quan niệm đúng đắn và đầy đủ về XHHSNGD cần phải quán triệt một số vấn đề sau:
- XHHSNGD không chỉ là một giải pháp tình thế khi ngân sách Nhà nước còn khó khăn; hoàn toàn không phải là một ý đồ chiến thuật, được vận dụng một cách nhất thời cho một giải pháp tình thế Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với phát triển sự nghiệp giáo dục làm cho mọi hoạt động giáo dục thực sự trở thành sự nghiệp của dân, do dân và vì dân XHHSNGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối phát triển, một con đường phát triển giáo dục
- XHHSNGD không có nghĩa là giảm vai trò, giảm gánh nặng cho nhân sách Nhà nước, là chuyển giáo dục cho xã hội tự lo liệu XHHSNGD đòi hỏi tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, đồng thời với việc huy động nguồn nhân lực trong xã hội phải tăng cường và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước cho cho giáo dục
- XHHSNGD, không chỉ nhằm huy động "Mọi người cho giáo dục",
mà chủ yếu nhằm tạo cơ hội "Giáo dục cho mọi người"
- XHHSNGD là huy động xã hội không chỉ hỗ trợ cho giáo dục, mà còn cùng làm giáo dục
-XHHSNGD không chỉ huy động tiền của trong nhân dân mà còn huy động trong nhân dân nguồn nhân lực, vật lực và trí lực nhằm đa dạng hoá các nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục
-XHHSNGD không phải là hoạt động dân chủ hoá
giáo dục và không chỉ là đại hội giáo dục các cấp XHHSNGD và dân chủ hoá giáo dục là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Dân chủ hoá giáo dục là một nội dung rất cơ bản của sự nghiệp đổi mới giáo dục, biến hệ thống giáo dục và trường học như một thiết chế hành chính thành một thiết chế giáo dục hoàn toàn của dân, do dân và vì dân XHHSNGD chỉ là một con đường thực hiện dân chủ hoá giáo dục, tạo điều kiện cho mọi người trong xã hội tham gia xây dựng và quản lý nhà trường, giúp cho quá trình
Trang 27dân chủ hoá giáo dục được thuận lợi Ngược lại, dân chủ hoá giáo dục là giải pháp; đồng thời là động lực không thể thiếu đối với XHHSNGD Nhờ có dân chủ hoá giáo dục mà các thành phần tham gia xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
sẽ trở nên đông đảo Đại hội giáo dục các cấp chỉ là một hoạt động mang tính giải pháp đẩy mạnh XHHSNGD
- XHHSNGD không phải là đa dạng hoá giáo dục Thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo và các loại hình trường lớp, các loại hình học tập chỉ là giải pháp, là nội dung; đồng thời là động lực không thể thiếu được đối với XHHSNGD
Như vậy, XHHSNGD là khoa học về mối quan hệ giữa giáo dục với các yếu tố xã hội, nó chịu sự quy định, chi phối của các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, của các quá trình xã hội khác nhau như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Bản chất của XHHSNGD được xác định rất rõ trong các nghị quyết
của Đảng cộng sản Việt Nam "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động
viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới dự quản lý của Nhà nước" [10, tr61]
1.2.3 Khái niệm về quản lý, tổ chức, chỉ đạo
Khái niệm quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ thống
có tính tổ chức, chức năng này có trong các giới sinh học, có trong đời sống
xã hội, có trong việc quản lý kỹ thuật
Quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong cộng đồng, nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra Khi nói đến hoạt động quản lý người ta thường nhắc tới ý tưởng sâu sắc của
Các Mác: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần
có nhạc trưởng" [25,tr480] Đã có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau về
quản lý Theo một số tác giả:"Hoạt động quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của các chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
Trang 28(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [4, tr1]
"Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung" [1, tr 176]
Qua các định nghĩa trên ta thấy rõ khái niệm quản lý có những nét đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích Bởi vì, bộ phận quản lý có thể có nhiều hệ thống tác động khác nhau vào đối tượng, trong số những tác động đó người quản lý tuỳ theo chủ đích, sự phán đoán
và dự báo của mình mà lựa chọn một khả năng mà mình cho là triển vọng nhất
Thứ hai, quản lý là sự sắp xếp hợp lý các tác động đã chọn Bởi vì, muốn cho việc lực chọn các tác động trên đưa đến kết quả mong muốn, cần sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động
Thứ ba, trong các điều kiện xác định, sự vận động và phát triển của đối
tượng quản lý mang tính "bất định" mà người quản lý không thể dự đoán một
cách chắc chắn, chính xác khả năng nào sẽ xảy ra Tác động quản lý có chủ
đích được sắp xếp hợp lý sẽ có tác dụng cho người quản lý thấy trước "quỹ
đạo" mà đối tượng vận động và phát triển (như vậy, đối với người quản lý,
tính "bất định" của đối tượng giảm)
Vì vậy, quản lý là làm giảm tính bất định, tăng tính tổ chức của đối tượng
Từ phân tích trên, ta có thể định nghĩa khái niệm quản lý như sau:
Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục đích đã xác định
Chức năng của quản lý là nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt, gắn với quá trình lao động tập thể và kết quả của sự
Trang 29phân công lao động xã hội Nhưng, lao động quản lý lại có sự phân chia thành một hệ thống các khâu hay dạng hoạt động xác định nhờ đó chủ thể quản lý
tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu xác định "Chức
năng quản lý là hoạt động quản lý , thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu xác định" [27, tr 58]
Như vậy, khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và sự tiến bộ của phân công và hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động Quá trình tạo ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao động phải thực hiện một nhiệm
vụ hay một chức năng nhất định Từ chức năng đó của khách thể quản lý (người lao động) làm xuất hiện một cách khách quan dạng hoạt động quản lý chuyên biệt nhất định, tương ứng của chủ thể quản lý, gọi là chức năng quản lý.Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúng phản ánh lôgíc bên trong của sự phát triển của hệ quản lý Việc phân chia chức năng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và chuyên môn hoá lao động quản lý Khi phân tích cụ thể ta thấy quản lý có bốn chức năng cơ bản là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Trong đó, kế hoạch hoá là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý
Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
Như vậy, tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những dạng hoạt động của tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn; đồng thời bảo đảm sự phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của các hoạt động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả của các tác động bộ phận
Tổ chức chính là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời rạc thành một hệ toàn vẹn Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực
Trang 30Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản
lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả
Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là điều hành mọi việc nhằm bảo đảm cho tổ chức vận hành thuận lợi Chỉ đạo biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, kế hoạch thành hiện thực Trên thực tế chỉ đạo là tổ chức một cách khoa học lao động của tập thể người cũng như từng người Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
Quản lý giáo dục, theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
theo yêu cầu phát triển xã hội "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [27, tr35]
1.3.Tổng quan một số quan điểm khoa học quản lý giáo dục về XHHSNGD
1.3.1 Một số nét về tình hình nghiên cứu XHHSNGD
ở trong nước và quốc tế
XHHSNGD là cuộc vận động lớn mang tính chất toàn xã hội; XHHSNGD là chiến lược của đường lối giáo dục; XHHSNGD dưới góc độ quản lý giáo dục ở Việt Nam thường được đề cập là một trong ba giải pháp lớn để tăng cường mối quan hệ giáo dục - cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục gắn chặt hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng với cơ chế mới
"XHHSNGD thể hiện rõ nhất qua việc thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở",
Trang 31"các tổ chức, gia đình và công dân trực tiếp tham gia, chia sẻ trách nhiệm và
điểm, mở rộng mô hình "Đại hội giáo dục cấp xã" với tên gọi XHHSNGD
XHHSNGD được quan niệm như một phương thức làm giáo dục Quan điểm đó được phát biểu như sau: Chúng ta huy động mọi lực lượng cùng làm giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước Cá nhân, đoàn thể, tổ chức xã hội phối hợp chặt chẽ với nhau và với nhà trường cùng thực hiện các mục tiêu giáo dục (hình thành nhân cách học sinh), cùng chịu trách nhiệm trước đất nước về sản phẩm do giáo dục tạo ra Trong sự phối hợp này, nổi bật là mối quan hệ hai chiều giữa nhà trường và các lực lượng xã hội khác Các lực lượng xã hội tích cực tham gia xây dựng giáo dục vì quyền lợi của con em, của đất nước (trong đó có lợi ích của bản thân họ); đồng thời xã hội đòi hỏi nhà trường phải phấn đấu vươn lên về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục
- Đào tạo
Trong xã hội hiện đại, giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình và từng cá nhân Sự biến đổi nhanh chóng của xã hội cũng như bản thân giáo dục, việc học tập trở thành một nhu cầu thường xuyên, suốt đời của mỗi người, đòi hỏi toàn xã hội phải quan tâm và nỗ lực cùng hợp tác thì mới giải quyết được tốt các vấn đề của giáo dục đặt ra XHHSNGD đòi hỏi phải thu hút được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia tích cực vào các hoạt động của giáo dục, tạo ra
Trang 32các điều kiện, môi trường giáo dục thuận lợi cho phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Quan điểm thứ hai, XHHSNGD là hệ mở rộng tính xã hội sản phẩm của giáo dục
XHHSNGD được quan niệm là tận dụng mọi tiềm năng của điều kiện chế độ xã hội sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho sự nghiệp giáo dục nhằm đào tạo thế hệ lao động mới hoà nhập với cuộc sống
và phát triển kinh tế - xã hội, chủ thể tích cực của hoàn cảnh [ 17 ]
XHHSNGD là toàn dân hoá, điều đó có nghĩa là trả lại cho mọi người quyền được tham gia vào toàn bộ quá trình giáo dục và được giáo dục, giáo dục suốt đời hay chính là sự cân bằng động của quá trình giáo dục, Điểm hội
tụ của XHHSNGD là đạt đến một nhân cách hay nói cách khác là tính xã hội của sản phẩm giáo dục
Quá trình giáo dục là quá trình dạy và học của nhà trường phải gắn liền với các yêu cầu xã hội, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước Để thế hệ trẻ hoà nhập được với nhịp sống và sản xuất xã hội, sự nghiệp giáo dục phải biến đổi thường xuyên theo nguyên tắc đa dạng hoá từ mục tiêu đến chương trình, nội dung, hình thức Giáo dục
và Đào tạo.Để công tác giáo dục thực sự đi vào cuộc sống thực tiễn, các nhà khoa học giáo dục, kinh tế học giáo dục, các nhà nghiên cứu xã hội học, hướng nghiệp, dạy nghề cần có những đề án gắn giáo dục với thực tiễn kinh tế
- xã hội dựa trên nguyên tắc xác định chiến lược giáo dục đúng đắn, đào tạo thế
hệ trẻ Việt Nam thông minh, sáng tạo, có bản lĩnh, tự trọng, có khả năng lao động tự sống và đóng góp xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ Tổ quốc
Quan điểm thứ ba, XHHSNGD là thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục
Nhân dân phải thực sự làm chủ sự nghiệp giáo dục trên tất cả các mặt Mục tiêu giáo dục phải gắn chặt với môi trường kinh tế - xã hội địa phương,
Trang 33của cả xã hội hiện tại và tương lai, nhằm đáp ứng lợi ích của người đi học, của cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội [ 24 ]
Người học có quyền lựa chọn nội dung học thích hợp; nhân dân thường xuyên tham gia điều hành sự nghiệp giáo dục thông qua tổ chức của mình là hội đồng giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước Nhân dân còn gián tiếp và
cả trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục như tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, lực lượng giáo dục quan trọng bên trong nhà trường, bổ sung kiến thức xã hội cần thiết cho nhà trường, giúp cho người học khi ra đời hội nhập được với xã hội Trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn, một biện pháp chủ yếu trước mắt là huy động nhân dân giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất, chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên nhà trường Khi nào mọi người hiểu được sự nghiệp giáo dục đích thực của dân, do dân, vì dân thì những vấn
đề khó khăn của giáo dục hiện nay mới dần được tháo gỡ
XHHSNGD là chiến lược quan trọng của đường lối giáo dục ngày nay
Nó vừa là yêu cầu đòi hỏi của nền giáo dục, vừa đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với điều kiện đất nước hiện nay Do đó, XHHSNGD trước hết phải là cụ thể hoá và xác định đúng mục tiêu giáo dục theo yêu cầu mà xã hội đòi hỏi; đi đôi với nó là đa dạng hoá loại hình trường học là chương trình học tạo cơ hội học tập cho mọi người Xã hội hoá sự nghiệp phải gắn với dân chủ hoá trường học tức là tạo môi trường xã hội để
đẩy mạnh công tác quản lý giáo dục "Bằng việc đối chiếu sự tác động các nội
dung xã hội hoá giáo dục lên các mục tiêu quảnlý giáo dục, quản lý nhà trường chúng ta có thể thấy rất rõ vai trò của quá trình xã hội hoá giáo dục đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng Chính vì vậy, có thể nói xã hội hoá giáo dục không chỉ là biện pháp tăng cường mối quan hệ giáo dục- xã hội mà còn là một biện pháp quản lý giáo dục, quản lý nhà trường" [20, tr22]
Quan điểm thứ tư, XHHSNGD là cách thức làm giáo dục và dân chủ hoá nhà trường XHHSNGD dựa trên các nguyên tắc: Người học phải đóng
Trang 34góp học phí, người sử dụng sản phẩm của Giáo dục - Đào tạo phải đóng góp chi phí theo hướng huy động đóng góp thoả đáng, trợ cấp chính sách cho các đối tượng người học có hoàn cảnh khó khăn để có điều kiện học tập; trả công xứng đáng cho lao động trí tuệ; phương thức tổ chức hoạt động và huy động đóng góp phải đa dạng, mềm dẻo XHHSNGD đòi hỏi đa dạng hoá loại hình Giáo dục- Đào tạo; XHHSNGD cần kết hợp với dân chủ hoá nhà trường, làm cho nhiều người quan tâm và tham gia thực hiện, quản lý, kiểm tra các hoạt
động Giáo dục - Đào tạo
XHHSNGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội trả lại nhiệm vụ giáo dục của xã hội cho chính nó Nội dung công tác XHHSNGD ở đây là nâng cao dân trí bằng xã hội hoá cá nhân, đa dạng hoá các mô hình, loại hình giáo dục tạo cơ hội cho các lực lượng xã hội tham gia giáo dục và được giáo dục [ 7 ]
Quan điểm thứ năm "Xã hội hoá giáo dục là một tư tưởng chiến lược,
một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục ở nước ta" [16, tr15]; khái niệm xã hội hoá giáo dục với nghĩa phổ biến nhất là
làm cho toàn xã hội làm giáo dục Với nghĩa đó có thể hiểu xã hội hoá giáo dục trên những vấn đề cơ bản sau:
Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của giáo dục, thực trạng của giáo dục địa phương, nhận thức rõ trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục Vấn đề này được đặt ra ở nhiều nước trên thế giới vì giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao Giáo dục liên quan đến mọi người, là lợi ích của mọi người, mọi cộng đồng
Thứ hai, làm cho giáo dục phù hợp với phát triển xã hội, phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Xác định mục tiêu giáo dục trước hết phải xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, xã hội hoá giáo dục tạo ra nhiều nguồn lực để làm giáo dục,
mở ra một con đường để chúng ta làm giáo dục không thuần tuý ở trong nhà
Trang 35trường, phá thế đơn độc của nhà trường; thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình - xã hội, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
Thứ tư, xã hội hoá giáo dục là nhằm mục tiêu "giáo dục cho mọi
người" Quy luật là muốn thực hiện "Giáo dục cho mọi người" thì mọi người
phải làm giáo dục
Thứ năm, xã hội hoá giáo dục và dân chủ hoá giáo dục là hai khái niệm gắn bó chặt chẽ với nhau Dân chủ hoá giáo dục là một nội dung lớn của thời đại, nhiều nước trên thế giới đang phấn đấu thực hiện một nền giáo dục dân chủ Ở nước ta xã hội hoá giáo dục là một con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục Xã hội hoá giáo dục tạo điều kiện để mọi người trong xã hội tham gia quản lý, xây dựng nhà trường
Mặt khác " xã hội hoá giáo dục là động lực nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" [16, tr26]
Đối với nước ta, khái niệm XHHSNGD đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu với quan điểm làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, thực trạng của giáo dục; nhận thức được trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục; làm cho giáo dục gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội; đa dạng hoá các nguồn lực để làm giáo dục, làm cho giáo dục phát triển thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra
Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng nền giáo dục nhằm phát triển
nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của "Thị trường lao động", hội nhập và
xu thế toàn cầu hoá mang tính chiến lược đối với các nước trên thế giới; giáo dục phải được nhận thức như một nhân tố then chốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Cách giải quyết của mỗi nước tuy khác nhau do phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính sách của từng nước, nhưng các nước đều tiếp tục hoàn thiện hoặc hướng tới mục
Trang 36tiêu thực hiện một nền giáo dục dân chủ, làm cho toàn dân quan tâm, chăm lo đến xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục thông qua các hoạt động vĩ
mô như các luật định, chính sách các văn bản của Nhà nước, Chính phủ và các
bộ ngành, hay thông qua các hoạt động ở tầm vi mô như hoạt động của mỗi cá nhân, gia đình, các tổ chức xã hội
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là cách làm giáo dục chỉ
có riêng ở nước ta mà là cách làm giáo dục phổ biến của các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển
Xu thế chung của các nước khi thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là tăng cường cộng đồng trách nhiệm, đa dạng hoá các loại hình trường lớp và đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho giáo dục; gắn Giáo dục - Đào tạo với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt coi trọng thể chế các nội dung XHHSNGD
Cụ thể: ở Trung Quốc, mục tiêu XHHSNGD là huy động xã hội tham gia vào giáo dục; với nội dung, cộng đồng hoá trách nhiệm, bằng các biện pháp tăng nhịp độ đầu tư tài chính của Nhà nước cho các địa phương, quyên thu các khoản đóng góp cho giáo dục; góp vốn cho phát triển giáo dục từ các
xí nghiệp, hầm mỏ, xây dựng các loại quỹ giáo dục, đa dạng hoá các loại hình giáo dục, liên kết giáo dục với các doanh nghiệp, liên kết giữa các loại trường, các liên ngành đào tạo
Đối với Ấn Độ, mục tiêu XHHSNGD là huy động xã hội tham gia làm giáo dục, tập trung cho việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, thông qua liên kết đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hoá phổ thông Với nội dung, đa dạng hoá các loại hình học tập và loại hình trường lớp Giải pháp để thực hiện là huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính qui,
mở các lớp học khoá học cho học sinh bỏ học, lưu ban và trẻ em không có điều kiện đến trường học
Đối với Philippin, mục tiêu XHHSNGD là nâng cao trình độ học vấn
và giải quyết việc làm Nội dung, giáo dục hoá xã hội và đa dạng hoá các
Trang 37loại hình học tập Biện pháp thực hiện: lôi cuốn cộng đồng vào việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sản xuất, đi đôi với việc giáo dục thanh niên, thiếu
niên; ở Philippin còn có trường học ở cấp xã "Chăm lo dạy văn hoá, dạy nghề
cho Thanh niên và cả người lớn do địa phương xây dựng "
1.3.2 Mục tiêu của XHHSNGD
Mục tiêu giáo dục được quy định tại điều 2, luật giáo dục "Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc"[5, tr6], "Thực hiện XHHSNGD mới có thể thực hiện được mục tiêu giáo dục "[20, tr23]
XHHSNGD còn nhằm mục tiêu "giáo dục cho mọi người", làm cho
mọi thành viên của cộng đồng được hưởng thụ giáo dục một cách thường xuyên, liên tục, được đào tạo suốt đời, có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia vào quá trình giáo dục với tư cách là những chủ thể giáo dục; đồng thời cũng là đối tượng của giáo dục dưới mọi hình thức, khả năng và điều kiện Như vậy, mục tiêu xã hội hoá giáo dục là làm tăng số lượng người học, nâng cao chất lượng giáo dục, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả giáo dục, thực hiện phổ cập giáo dục
1.3.3 Nội dung chủ yếu của XHHSNGD
1.3.3.1 Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo dục trở thành một nền giáo dục dành cho mọi người, tạo cơ hội để mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tạo ra một xã hội học tập
1.3.3.2 Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ
Trang 38Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế - xã hội, của gia đình và của từng người dân đối với sự nghiệp giáo dục
1.3.3.3 Đa dạng hoá loại hình đào tạo, các hình thức học tập; trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết là thế hệ trẻ
1.3.3.4 Tăng cường đầu tư ngân sách Nhà nước và mở rộng các nguồn đầu tư khác, khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục
1.3.3.5 Tiếp tục cụ thể hoá, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHSNGD và huy động cộng đồng
Để ngắn gọn một số nhà khoa học thường gắn năm nội dung
XHHSNGD nêu trên với năm chữ "hoá" như sau [ 20 ]:
-Giáo dục hoá xã hội tức là tạo cơ hội học tập cho mọi người, tạo nên
một xã hội học tập
-Cộng đồng hoá trách nhiệm của giáo dục và của cộng đồng, xã hội -Đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục
-Đa dạng hoá nguồn lực và huy động cộng đồng
-Thể chế hoá chủ trương XHHSNGD để chủ trương này nhanh chóng
đi vào cuộc sống
1.3.4 Điều kiện thực hiện XHHSNGD
1.3.4.1 Đảng và Nhà nước phải tạo ra chủ trương, chính sách, cơ chế
để triển khai thực hiện XHHSNGD; đồng thời chỉ đạo, quản lý các hoạt động XHHSNGD Về thực chất, XHHSNGD chính là xây dựng được cơ chế phối hợp các lực lượng trong toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng chăm lo
sự nghiệp giáo dục, quan tâm tới yếu tố con người
1.3.4.2 Tăng cường dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá trường học
Trang 39Thực hiện dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá trường học là thực hiện chủ
trương "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà
trường
Đối với nhà trường "Dân" thực chất là mọi đối tượng có liên quan đối
với nhà trường mà trước hết là tập thể sư phạm, học sinh, cha mẹ học sinh và các đối tác của nhà trường
Dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà trường một mặt bảo đảm quyền được học và học được của mỗi người (Đặc biệt đối với thế hệ trẻ), mặt khác tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp giáo dục, đảm bảo nghĩa vụ tham gia đóng góp xây dựng trường học, xây dựng nhà trường
Ngành giáo dục phải chủ động triển khai thực hiện XHHSNGD thông qua đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên; nâng cao chất lượng
"sản phẩm giáo dục" đáp ứng với đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương, của Quốc gia và thời đại; đồng thời các cấp quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải năng động, sáng tạo, chủ động và
là lực lượng nòng cốt trong công tác tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền các cấp; phối hợp với các tổ chức, lực lượng xã hội khác trong việc triển khai các chủ trương để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng Giáo dục - Đào tạo theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước 1.3.4.3 XHHSNGD là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước
Quản lý Nhà nước đối với giáo dục, XHHSNGD Quản lý Nhà nước về giáo dục là sự quản lý của các cơ quan quyền lực Nhà nước, của bộ máy quản
lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương lên các thành tố của hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã định Quản lý Nhà nước về giáo dục là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do Nhà nước quy định, phân cấp trong các hoạt động quản lý giáo dục Quản lý Nhà nước đối với hoạt động XHHSNGD là
Trang 40làm cho sự tham gia của xã hội vào công tác giáo dục được thể hiện theo chủ trương quy định, luật lệ, ổn định mang tính chất pháp lý, có chính sách, chế
1.3.5 Ý nghĩa của XHHSNGD
1.3.5.1.Thực hiện XHHSNGD là phá vỡ thế đơn độc của giáo dục
"Trong nhiều năm qua, với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp thay cho sự quản lý Nhà nước về giáo dục, chúng ta đã thực hiện Nhà nước hoá giáo dục
Vì vậy, đã làm mất đi bản chất xã hội của giáo dục Đây là một trong lý do cơ bản làm cho ngành giáo dục rơi vào thế đơn độc" [20, tr23] XHHSNGD sẽ
"mở cửa" nhà trường với xã hội bên ngoài, tạo điều kiện xây dựng mối quan
hệ gắn bó giữa nhà trường và nhân dân, làm cho nhân dân có thể thực hiện tốt quyền làm chủ của mình đối với giáo dục, không những đóng góp xây dựng nhà trường mà còn giám sát, kiểm tra nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
1.3.5.2 Thực hiện XHHSNGD thì giáo dục mới có thể thực hiện được mục tiêu mà giáo dục đề ra Vì vậy, giáo dục cần sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiến của gia đình và các lực lượng xã hội vào việc tạo ra môi trường