"Học viện Hành chính Quốc gia là Trung tâm Quốc gia, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các chức năng: đào tạo,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay “tri thức là sự giàu có” và lợi thế so sánh trong cạnh tranh kinh tế phụ thuộc vào kiến thức và tri thức của con người Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế Sức mạnh trí tuệ là yếu tố quyết định sự thành bại, “lao động có kỹ năng sẽ trở thành lợi thế so sánh lâu dài” và “kỹ năng là vũ khí cạnh tranh quyết định trong thế kỷ XXI”
Đầu tư vào giáo dục và đào tạo sẽ tích luỹ vốn con người, sẽ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao và chất lượng cao Đội ngũ nhân lực có trình
độ cao là chìa khoá để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập Đặc biệt đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước (mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp), giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội
Từ 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, song song với quá trình này là sự mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới Khi hội nhập kinh tế quốc tế, bộ máy quản lý Nhà nước phải điều chỉnh để có những
cơ cấu, thể chế tương thích Nếu vào một cuộc chơi chung mà riêng mình một bài riêng thì chắc chắn là không “ăn” Chúng ta phải tự điều chỉnh, đó là tất yếu Nhà nước trước đây quản lý cả về vĩ mô và vi mô thì bây giờ xác định chỉ quản lý vĩ mô toàn xã hội thông qua việc sử dụng công cụ để điều tiết chung Vấn đề này sẽ được tách bạch và đây chính là mục tiêu của cải cách hành chính Yêu cầu hàng đầu hiện nay là làm rõ chức năng, Nhà nước
sẽ làm đúng việc của mình, đó là làm chính sách, làm pháp luật, làm cơ chế, làm tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó hướng dẫn xã hội, thanh tra và kiểm
Trang 4soát nó Một trong những thách thức lớn nhất của quá trình chuyển đổi này là mâu thuẫn giữa yêu cầu của quá trình hội nhập với trình độ Trình độ nền hành chính của Việt Nam so với khu vực và thế giới còn kém
Nhận thức rõ mâu thuẫn này, một trong những giải pháp đưa ra đó là đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (Quyết định số
161/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2003) Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nội
vụ đã ban hành "Quy định các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và
kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức" (Quyết định số
13/2006/QĐ-BNV ngày 06 tháng 10 năm 2006)
Học viện Hành chính Quốc gia được thành lập từ 1959 đến nay và ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức "Học viện Hành chính Quốc gia là Trung tâm Quốc gia, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các chức danh công chức hành chính các cấp, cán bộ, công chức cơ sở, công chức dự bị, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên các chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Chính phủ trong lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước
Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức thì lớn, trong khi đó khả năng đầu tư của ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, Nhà nước không thể bao cấp toàn bộ cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Trong nền kinh tế thị trường, áp lực về cải cách tài chính cho đào tạo bồi dưỡng lực lượng lao động của cả nước nói chung và cán bộ công chức nói riêng đã tăng lên ở hầu hết các nơi trên thế giới Những giải pháp nhằm khắc phục sự khan hiếm về nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu
Trang 5tư, sẽ được tìm ra cho các cơ sở đào tạo với điều kiện khung chính sách cho các hoạt động phải được cải cách một cách cơ bản và các cơ sở đào tạo ngày càng phải năng động hơn trong việc tìm kiếm và gia tăng nguồn lực đầu tư cho đào tạo và bồi dưỡng
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài chính và để cho hoạt động đào tạo của Học viện ngày càng đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho sự nghiệp đổi mới quản lý nhà nước, kết hợp với những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình công
tác, đề tài "Các biện pháp tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại
Học viện Hành chính Quốc gia" vừa nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết
và có tính thời sự trong tình hình hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác định các cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của việc quản lý huy động nguồn lực tài chính, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia (HCQG) trong bối cảnh mới
3 Khách thể nghiên cứu
Các nguồn tài chính có khả năng huy động cho đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện HCQG
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện HCQG trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò của đào tạo, bồi dưỡng; tầm quan trọng của các nguồn tài chính và việc quản lý huy động các nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trang 6Phân tích tình hình các nguồn tài chính và thực trạng công tác quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện HCQG
- Đề xuất về một số biện pháp về đổi mới công tác quản lý nhằm tăng
nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện HCQG
- Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
thông qua phiếu hỏi ý kiến các chuyên gia và cán bộ quản lý
6 Giả thuyết khoa học
Trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước cấp cho đào tạo, bồi dưỡng không tương ứng với việc mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng; việc huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách có kết quả tích cực hơn dựa trên quan điểm cho rằng cần xây dựng và hoàn thiện các phương án thực hiện chế
độ tự chủ, trách nhiệm xã hội và quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện HCQG
7 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Các nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng
của Học viện HCQG được nghiên cứu chủ yếu đối với các nguồn kinh phí cấp cho chi thường xuyên không đi sâu vào nguồn cấp cho đầu tư xây dựng
cơ bản; và nghiên cứu các nguồn tài chính dưới góc độ quản lý tài chính Đối với các khoản chi phí của người học (chi phí tư nhân) cho công tác đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu đề cập tới khoản đóng góp của người học cho cơ sở đào đào tạo dưới hình thức học phí không đi sâu nghiên cứu tất cả các chi phí của người học cho quá trình đào tạo
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2002 đến nay (từ
khi có Nghị định số 10/2002/ NĐ -CP - dấu hiệu bắt đầu tăng quyền tự chủ
-và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở đào tạo)
Trang 78 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dưng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học (sử dụng bảng câu hỏi trong đánh giá các quy định hiện hành của Học viện và các khả năng tăng nguồn tài chính cho đào tạo bồi dưỡng)
- Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thống kê (về quy mô đào tạo, bồi dưỡng; về nguồn thu)
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
- Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia
9 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhằm tăng nguồn tài chính của các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chương 2: Đánh giá công tác quản lý huy động các nguồn tài chính cho
phát triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia
Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho phát
triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia trong bốí cảnh mới
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM TĂNG NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Đào tạo, bồi dưỡng và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.1.1 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng và cán bộ, công chức
1.1.1.1 Đào tạo
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách.” [31, tr 289]
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực
để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức kỹ năng của mỗi người có thể thực hiện tốt nghề nghiệp hay nhiệm vụ của mình
Có nhiều cách phân loại về đào tạo:
- Theo nội dung, đào tạo được phân thành đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo tiếp tục;
- Theo trình độ, đào tạo có thể được phân thành đào tạo nghề, đào tạo chuyên nghiệp, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và đào tạo sau đại học;
- Theo hình thức, đào tạo được phân thành đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, đào tạo từ xa
Trang 91.1.1.2 Bồi dưỡng
Bồi dưỡng là quá trình giảng dạy, truyền thụ kiến thức nhằm củng cố, hoàn thiện và tăng thêm các kiến thức đã được đào tạo Đây là quá trình có hệ thống, có tính hướng đích nhằm gia tăng khả năng đạt được mục tiêu của tổ chức (không phải mục tiêu tự thân của người được bồi dưỡng) Bồi dưỡng cán bộ công chức là nhằm nâng cao kỹ năng và năng lực liên quan đến công việc đang thực hiện, không chỉ cho người lao động
Như vậy, bồi dưỡng có mục đích là củng cố, hoàn thiện và tăng thêm các kiến thức đã được đào tạo Về khía cạnh văn bằng, chứng chỉ: sau khi tốt nghiệp đào tạo (đào tạo dài hạn), người tốt nghiệp thường nhận được bằng tốt nghiệp theo các trình độ đào tạo tương ứng (trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ); sau khi hoàn thành khóa bồi dưỡng người học có thể nhận được chứng chỉ - xác nhận kết quả học tập sau khi được bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp Chứng chỉ cũng được dùng để cấp cho những
người đã hoàn thành khóa đào tạo ngắn hạn
1.1.1.3 Cán bộ, công chức
Theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung năm 2001, cán bộ công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Trang 10- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội;
- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sỹ quan chuyên nghiệp;
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã
1.1.2 Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Phân theo đối tượng người được đào tạo, bồi dưỡng
- Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng, nghiệp vụ hành chính và quản lý nhà nước cho các các ngạch ngạch chuyên viên
- Các chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước, quản lý hành chính đối với đại biểu Hội đồng nhân dân
- Chương trình đào tạo tiền công vụ cho công chức dự bị
Trang 11- Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên về chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước
Phân theo hình thức, trình độ đào tạo và bồi dưỡng:
- Đào tạo (dài hạn) chính quy, không chính quy lấy bằng cử nhân và văn bằng sau đại học thuộc các chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước;
- Bồi dưỡng (hoặc đào tạo ngắn hạn) lấy chứng chỉ của các chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước
1.1.3 Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay
Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức gắn liền với
việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức Cán bộ công chức là
một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của công cuộc đổi mới ở nước ta Chất lượng của đội ngũ này thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và hiệu quả hoạt động điều hành và chấp hành của người cán bộ công chức Chất lượng được hình thành bởi nhiều yếu tố tác động, trong đó phần lớn qua con đường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện trong thực tiễn công tác
Do tầm quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ nên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã dành nhiều thời gian và sức lực cho việc đặt nền móng cho cơ sở lý luận Bằng sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, C.Mác đã khẳng định: Xưa nay, tư tưởng không thể đưa con người vượt ra khỏi trật tự thế giới cũ được; trong bất kỳ tình huống nào tư tưởng cũng chỉ
có thể đưa người ta vượt ra ngoài tư tưởng của trật tự thế giới cũ mà thôi Ông còn chỉ rõ, giai cấp vô sản và chính đảng của mình muốn giành được quyền lãnh đạo, giữ được chính quyền thì phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ thực sự trung thành và tài năng
Trang 12Lê Nin đã từng chỉ ra:“ Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng
tổ chức và lãnh đạo phong trào.” [21, tr 473]
Vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [ 22, tr 240];
“Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi con người có ích cho công việc chung của chúng ta.” [ 22, tr 273] Theo Hồ Chí Minh, điều cốt yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và phải đáp ứng đúng nhu cầu đó Chính vì vậy, muốn xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trước hết phải bắt đàu từ việc chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và giáo dục công chức
Trong lịch sử đấu tranh của xã hội loài người, mọi giai cấp thống trị đều tìm cách nắm lấy giáo dục và đào tạo, coi đó là công cụ sắc bén để truyền
bá những tư tưởng chính trị của mình trong quần chúng nhân dân, để tạo ra được những con người có khả năng chuyển hoá ý thức giai cấp trong thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Điều đó lại càng cần thiết trong việc xây dựng một lực lượng tiên phong, có trình độ quản lý tốt, nắm giữ những cương vị trọng trách trong hệ thống bộ máy thống trị và lãnh đạo
Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng với chức năng chủ yếu là trang bị kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động, hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức và tâm lý để tạo nên những mẫu hình con người đặc trưng và tương ứng với một xã hội nhất định, tạo ra năng lực hành động cho mỗi con người Nội dung của giáo dục, đào tạo công chức góp phần hình thành phẩm chất, tâm lý, tư tưởng, đạo đức và định
Trang 13hướng sự phát triển nhân cách cho mỗi cán bộ, công chức Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng còn là hoạt động nhằm cải biến mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong mỗi con người Thông qua giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng mà mỗi con người tiếp nhận được những tinh hoa của nhân loại, tiếp thu được tri thức và kinh nghiệm của loài người Thông qua hoạt động học tập, mỗi cá nhân nhận thức được quy luật của tự nhiên và xã hội, biết vận dụng chúng trong thực tiễn, biết nhận rõ chân lý, đúng sai, biết được cái hay, cái dở của mình mà vươn lên, mà phấn đấu
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới; tư duy quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội cần được đổi mới căn bản từ việc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính; cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; phương thức quản lý một chiều từ trên xuống sang quản
lý bằng pháp luật (bao gồm cả các văn bản pháp quy: các quy chế và điều lệ);
cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ và trách nhiệm xã hội; phương thức quản lý tương tác lấy nhà trường làm trung tâm Quá trình chuyển đổi này tất yếu đặt
ra việc phải đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức
1 2 Các nguồn tài chính và quản lý tài chính trong các cơ sở đào tạo
1.2.1 Khái niệm tài chính, nguồn tài chính
1.2.1.1 Khái niệm tài chính
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tài chính:
- Tài chính là việc quản lý thu, chi tiền bạc trong một tổ chức xã hội hay một nước
- Tài chính là tiền bạc và thu, chi nói chung
(Đại từ điển tiếng Việt NXB VH-TT,1998 Nguyễn Như ý chủ biên)
- Tài chính là hoạt động của Nhà nước về các khoản thu và chi, về tiền
Trang 14nói chung (Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng NXB VH-TT,1998)
- Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội (Luật tài chính Dương Thị Bình Minh chủ biên NXB TP Hồ Chí Minh,1997)
Tài chính là hoạt động thu chi tiền tệ, thu chi tiền vốn, để duy trì và phát triển hoạt động của cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức, của một địa phương, của Nhà nước (Bài giảng Quản lý tài chính trong giáo dục, PhạmQuang Sáng)
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện trong lĩnh vực hình thành và phân phối quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung trong nền kinh tế quốc dân (Bài giảng Quản lý tài chính trong giáo dục, Phạm Quang Sáng)
Qua các định nghĩa nêu trên, định nghĩa tài chính được sử dụng trong luận văn này với nội dung chính sau:
- Hoạt động: Tài chính là hoạt động thu chi tiền tệ, thu chi tiền vốn Đó (tài chính) là dấu hiệu tài sản dưới dạng tiền được trao đổi, phân phối, cho vay tuỳ thuộc vào quy mô và dự định của người nắm giữ sở hữu hay quyền quản lí
- Mục tiêu: để duy trì và phát triển hoạt động;
- Cấp độ: có thể gồm các cấp độ cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức, địa phương (xã, huyện, tỉnh), nhà nước
- Quan hệ giữa các thành viên/ các nhóm hoặc giữa các hoạt động trong mỗi cấp độ: ưu tiên hay không ưu tiên trong phân bổ sử dụng, khuyến khích hay không khuyến khích đối với mỗi nguồn thu
Trang 151.2.1.2 Khái niệm nguồn tài chính
Nguồn tài chính là tiền tệ không phải chủ yếu với tư cách là vật ngang giá chung, với chức năng đặc trưng là thước đo giá trị mà trước hết là tiền tệ đang vận động độc lập với chức năng chủ yếu là phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình phân phối để tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ Sự vận động độc lập tương đối của của cải xã hội dưới hình thức tiền
tệ đã hình thành một lĩnh vực đặc biệt - lĩnh vực tài chính
Nguồn tài chính được thể hiện dưới nhiều tên gọi: vốn bằng tiền, vốn tín dụng, các giấy tờ có giá Ở cấp độ quốc gia, thực chất, nguồn tài chính là toàn bộ tài sản của đất nước được giá trị hoá bằng tiền
Tóm lại, nguồn tài chính - nguồn hình thành tài sản và tài sản đó được thể hiện dưới hình thức giá trị (hay hình thức tiền tệ)
1.2.2 Cách phân loại nguồn tài chính của các cơ sở đào tạo
Có nhiều cách phân loại các nguồn tài chính cho giáo dục đại học Trong bài viết này, các nguồn tài chính (nguồn thu) cho giáo dục đại học được chia thành hai nguồn cơ bản:
+ Nguồn từ ngân sách nhà nước (NSNN)
+ Nguồn ngoài ngân sách nhà nước
Trong mỗi nguồn lại được phân thành các cấp độ nhỏ hơn (hay còn gọi
là nội dung của mỗi nguồn)
1.2.2.1 Nguồn từ ngân sách Nhà nước
* Vai trò của nguồn NSNN cho Giáo dục - Đào tạo
Chi NSNN cho giáo dục đại học là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để duy trì, phát triển giáo dục đại học theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp
Trang 16Vai trò của chi NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính để duy trì, củng cố các hoạt động Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) mà còn có tác dụng định hướng điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Chi NSNN cho GD&ĐT là khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội nhằm góp phần đảm bảo, duy trì cho phát triển kinh tế- xã hội thông qua việc sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước dưới hình thức không hoàn trả trực tiếp Tuy nhiên về mặt tác dụng lâu dài chi NSNN cho GD&ĐT là khoản chi có tính chất tích lũy bởi khoản chi này là nhân tố quyết định đến việc tăng trưởng nền kinh tế trong tương lai
Mặc dù nguồn tài chính từ NSNN đầu tư vào các trường đại học còn hạn hẹp, nhưng nó vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam
Điều đó được thể hiện ở trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, NSNN luôn là nguồn cung cấp tài chính cơ bản để duy trì,
định hướng sự phát triển của hệ thống GD&ĐT quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Thứ hai, chi NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và nâng
cao số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên Toàn bộ số tiền chi cho đội ngũ giảng viên và công tác giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng công lập thường do NSNN đảm bảo là chính Trong các khoản chi cho con người ở lĩnh vực hành chính sự nghiệp thì chi cho giảng viên được ưu tiên có hệ số lương cao hơn các ngành hành chính khác, cũng như các hệ số phụ cấp khác (mức phụ cấp thấp nhất là 20% và mức cao nhất là 70% tiền lương) Điều đó từng bước tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên ổn định đời sống, tập trung thời gian và công sức cho việc học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên
Trang 17môn Đồng thời, hàng năm việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cử người đi học trong và ngoài nước cũng được NSNN đảm bảo
Thứ ba, cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục đại học có tác dụng
điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành Trong điều kiện da dạng hoá GD&ĐT như hiện nay, thì vai trò định hướng của nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các ngành dọc, giữa các vùng là hết sức quan trọng, đảm bảo cho đào tạo phát triển cân đối, theo đúng đường lối của Đảng và Nhà nước
Thứ tư, đầu tư của nhà nước cho xây dựng cơ sở vật chất của nhà
trường, tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích các tầng lớp nhân dân đóng góp, thu hút nguồn lực từ lao động sản xuất, hợp đồng nghiên cứu ứng dụng khoa học của nhà trường, đóng góp của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phương
châm “Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp đào tạo”
Mặt khác, trong điều kiện các tổ chức cá nhân chưa đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án GD&ĐT thì sự đầu tư vốn của NSNN là nguồn quan trọng
để huy động các nguồn tài chính khác cùng đầu tư cho GD&ĐT Vốn đầu tư của nhà nước vào cơ sở vật chất của nhà trường và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, trường dân lập đã có tác dụng mạnh mẽ phong trào xã hội hoá GD&ĐT về mặt tài chính
Như vậy, mức độ đầu tư tài chính từ NSNN cho giáo dục đại học được coi là một trong các yếu tố tác động có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống các trường đại học trong toàn quốc
* Nội dung và yêu cầu sử dụng nguồn tài chính từ NSNN
Nguồn tài chính từ NSNN cho giáo dục đại học được sử dụng cho các nội dung sau:
Trang 18Một là, NSNN cấp cho chi thường xuyên của các trường Nguồn này
được dùng để chi trả tiền lương và những khoản có tính chất lương cho cán bộ, giảng viên, công nhân viên của các trường; chi trả học bổng cho sinh viên; chi công tác phí cho cán bộ, giảng viên nhà trường đi công tác, chi cho các hội nghị, chi phí hành chính, chi phí nghiệp vụ (chi trực tiếp cho giảng dạy - học tập)
Hai là, NSNN cấp kinh phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, mua sắm, sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định của nhà trường
Ba là, cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học Vì các trường
đại học vừa là cơ sở đào tạo, vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học Do vậy hàng năm, NSNN cấp nguồn kinh phí này để duy trì và phát triển các hoạt động nghiên cứu khoa học cho các trường đại học
Bốn là, chi đầu tư chiều sâu cho các trường đại học Khoản chi phí này
được cấp theo các mục tiêu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia cho GD&ĐT như xây dựng và hoàn thiện mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, đầu tư xây dựng cơ bản cho nghiên cứu khoa học như trang bị cho các thư viện, các phòng thí nghiệm, các viện và trung tâm nghiên cứu trong các nhà trường; đầu tư để bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên
và cán bộ quản lý nhà trường
Ngoài ra, nguồn từ ngân sách còn cấp cho các khoản chi thường xuyên khác
* Yêu cầu quản lý và sử dụng nguồn NSNN cấp cho GD&ĐT
Một là, nguồn tài chính này được hình thành theo kế hoạch của nhà
nước Hàng năm, nhà nước xây dựng kế hoạch ngân sách cho toàn ngành Kế hoạch này dựa trên hai căn cứ: một mặt, là nhu cầu chi tiêu thường xuyên cho đào tạo trong năm; các nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sửa chữa, bổ sung tài sản cố định, nhu cầu phát triển hoạt động nghiên cứu, nhu
Trang 19cầu về đầu tư và các nhu cầu khác từ các trường; mặt khác là dựa vào khả năng của NSNN Trên cơ sở đó, nhà nước phê duyệt ngân sách cấp cho ngành giáo dục nói chung, tiếp đó phân bổ ngân sách cho mỗi cơ sở đại học nói riêng
Bộ Tài chính phối hợp Bộ GD&ĐT xây dựng kế hoạch ngân sách cho toàn ngành giáo dục, trong đó có ngân sách cho đào tạo đại học
Hai là, nguồn tài chính từ NSNN chịu sự quản lý và sử dụng một cách
thống nhất, chi tiêu theo quy định tài chính của nhà nước
1.2.2.2 Nguồn thu ngoài ngân sáh nhà nước cho đào tạo
* Vai trò của nguồn ngoài NSNN
Vai trò của nguồn tài chính ngoài NSNN được thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là, tăng đầu tư cho đào tạo để nâng cấp các cơ sở đào tạo, cải thiện
đời sống cán bộ giảng dạy và sinh viên nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập
Hai là, thực hiện quan điểm “xã hội hoá trong đào tạo” khai thác tiềm
năng của các thành phần, các tổ chức kinh tế đóng góp kinh phí cho đào tạo trong khi nguồn NSNN còn hạn hẹp
Ba là, bản thân ngành giáo dục đại học cũng cần phát huy tính năng
động của mình trong việc huy động các nguồn tài chính
* Nội dung nguồn thu ngoài NSNN cho đào tạo
Nguồn tài chính ngoài NSNN bao gồm:
- Nguồn thu từ học phí và lệ phí Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung,
với sự tồn tại của nền kinh tế đơn sở hữu là sở hữu xã hội chủ nghĩa, người đi học là học tập cho nhà nước, làm việc cho nhà nước và chịu sự phân công của nhà nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, người đi học bây giờ không phải chỉ làm việc cho Nhà nước, mà làm việc cho mọi thành phần kinh tế Mặt khác GD&ĐT mang lại
Trang 20lợi ích cho cả người học và xã hội Vì vậy, chủ trương xã hội hoá giáo dục và việc người đi học phải đóng góp với các cơ sở đào tạo là tất yếu Từ đó hình thành lên nguồn đầu tư cho giáo dục đại học từ học phí, lệ phí của người đi học Nếu người đi học là người lao động làm việc cho các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, làm việc cho các tổ chức phi chính phủ thì người đi học phải chi trả học phí Người đi học còn sống phụ thuộc vào cha me thì phụ huynh học sinh phải chi trả học phí cho các cơ sở đào tạo
- Thu từ các hoạt động hợp đồng nghiên cứu khoa học, lao động sản
xuất và các dịch vụ trong các trường đại học và cao đẳng Như đã nói, các
trường đại học vừa là cơ sở đào tạo, vừa là cơ sở nghiên cứu Họ có khả năng cung cấp cho xã hội những sản phẩm khoa học công nghệ, những phát minh, sáng chế Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh trên thị trường luôn cần đến việc ứng dụng, đưa vào sản xuất những thành tựu của khoa học và công nghệ tiên tiến nhất, hiện đại nhất Chính vì vậy, các trường đại học có cơ hội ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình vào thực tiễn sản xuất và có được nguồn thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học công nghệ
và lao động sản xuất
- Nguồn thu viện trợ và quà biếu Nguồn thu này được hình thành từ
các nguồn viện trợ, quà biếu của Chính phủ, các tổ chức, cá nhân từ nước
ngoài hoặc trong nước Luật giáo dục nước ta ghi rõ: “Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho giáo dục, đào tạo”
- Các khoản thu khác (quỹ khuyến học, quỹ khuyến khích tài năng )
* Đặc điểm hình thành và yêu cầu sử dụng nguồn tài chính ngoài NSNN
Một là, nguồn thu này mang tính thoả thuận, tự nguyện giữa các cơ sở
đào tạo và người được cung cấp dịch vụ đào tạo, hoặc các tổ chức cá nhân có lòng hảo tâm, từ thiện
Trang 21Hai là, quy mô nguồn tài chính này tuỳ thuộc vào nhu cầu xã hội trong
mỗi thời kỳ, vào tiềm lực đội ngũ và khả năng phục vụ xã hội, mối quan hệ,
uy tín của các trường Chính vì vậy, trong mỗi thời kỳ phát triển, nguồn tài chính này ở các trường có sự khác nhau
Ba là, Nhà nước hướng dẫn việc thu chi đối với nguồn thu ngoài NSNN
Những phân tích trên cho thấy, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học có mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực trong hệ thống tài chính của nước ta Trong đó, tài chính nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn đầu tư tài chính cho giáo dục đại học Bên cạnh đó, theo xu hướng xã hội hoá GD&ĐT, các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học được xây dựng trên hai phần: tài chính Nhà nước và tài chính ngoài Nhà nước, bao gồm tài chính hộ gia đình, tài chính doanh nghiệp, tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, tài chính ở các tổ chức tài chính và tài chính quốc tế
Chi phí giáo dục được xem xét như một khoản đầu tư của cá nhân hoặc
xã hộị để hình thành vốn con người hay đđầu tư cho GD&ĐT là đầu tư để hình thành nguồn vốn con người- nguồn vốn quan trọng nhất của quá trình phát triển mỗi quốc gia Vốn con người (Human Capital) được hiểu là: a) những
kỹ năng và kiến thức bao hàm trong lực lượng lao động (Labourforce); và b) khi nói vốn con người ngụ ý nhấn mạnh đến kỹ năng và kiến thức, và nó hàm
ý là cái đó có được là do quá trình đầu tư Nguồn vốn đó chính là lực lượng lao động mới, có tri thức khoa học kỹ thuật cao, có tay nghề vững vàng, có nhiều nhân tài nòng cốt ở mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội Muốn vậy, phải tập trung mọi điều kiện, khả năng để phát triễn hệ thống các trường đại học, phải đổi mới và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuât cho nhà trường, có chế độ ưu đãi xứng đáng với người thầy và thu hút được nhiều học sinh xuất sắc
Trang 221.2.3 Quản lý tài chính trong cơ sở đào tạo
1.2.3.1 Khái niệm quản lý tài chính trong giáo dục và đào tạo
Tài chính cho giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm toàn bộ mọi khoản chi phí cho giáo dục lấy từ NSNN, các nguồn thu từ các hoạt động, dịch vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học công nghệ, tài trợ, viện trợ và các nguồn đóng góp của xã hội NSNN cho giáo dục là bộ phận quan trọng trong các nguồn thu của hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục công lập nói riêng
Như vậy, dù khai thác từ bât kỳ nguồn nào nhưng với một mục đích thống nhất là cung cấp tài chính cho các hoạt động giáo dục như việc trả lương cho người dạy, chi hỗ trợ cho người học, xây dựng chương trình, bài giảng, xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ đào tạo đều được hiểu là tài chính cho giáo dục
Để hiểu rõ quản lý tài chính trong GD&ĐT, trước hết chúng ta cần làm rõ được khái niệm quản lý Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, nhưng tựu chung thì quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định
Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý có những đặc điểm sau:
- Quản lý là thuộc tính bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý
Trang 23Thông qua khái niệm và sự phân tích trên ta thấy quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính trong trường đại học nói riêng không thể tách rời khỏi những đặc điểm cơ bản trên Tuy nhiên, quản lý tài chính trong GD&ĐT được tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ có được những nội dung khác nhau
Tiếp cận quản lý tài chính dưới góc độ chính sách: Bao gồm các hoạt động xây dựng, ban hành, đánh giá và điều chỉnh các chính sách: chính sách
mở rộng nguồn thu, chính sách trong phân bổ sử dụng, chính sách công bằng, chính sách tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục,
Tiếp cận quản lý tài chính theo quá trình quản lý: Với các chức năng lập kế hoạch tài chính, phân bổ tài chính, theo dõi giám sát việc thực hiện kế hoạch, điều chỉnh, bổ sung tài chính trong quá trình thực hiện, quyết toán và đánh giá hiệu quả của việc đầu tư tài chính cho giáo dục
Tiếp cận quản lý tài chính theo hoạt động: Là quản lý các hoạt động thu, thu đúng, thu đủ với các nguồn thu từ NSNN, từ các nguồn đóng góp của người học, thu từ NCKH và dịch vụ của nhà trường Quản lý các hoạt động chi trong đó có thể phân thành chi tiêu thường xuyên và chi tiêu đầu tư cơ bản, chi phục vụ đào tạo và NCKH Quản lý các hoạt động chi theo đúng quy định hiện hành về công tác tài chính, tránh thất thoát, lãng phí Quản lý tài chính cần đảm bảo công khai, minh bạch quá trình thu, chi trong mỗi cơ sở
và toàn bộ hệ thống giáo dục
Quản lý tài chính trong giáo dục đào tạo là quản lý các nguồn thu hợp pháp, lập kế hoạch phân bổ cho các hoạt động đào tạo, phục vụ đào tạo, NCKH, phát triển nhà trường, tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát việc thực hiện đầu tư tài chính theo đúng các quy định và chế độ tài chính của Nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của nhà trường
1.2.3.2 Các chức năng cơ bản của quản lý tài chính trong cơ sở đào tạo
Nội dung của quản lý tài chính trong nhà trường là quản lý sự thực
Trang 24hiện một cách thống nhất hai vấn đề đó là: Vấn đề kinh tế- xã hội của quá trình đào tạo và vấn đề tổ chức- sư phạm của quá trình đào tạo
Sử dụng và quản lý tài chính trong phát triển giáo dục- đào tạo chính là thực hiện các quy định của quá trình quản lý tài chính nhằm đảm bảo cho công tác đào tạo trong nhà trường thông qua bốn chức năng quản lý sau:
Khâu lập kế hoạch: Khi lập kế hoạch tài chính cho đào tạo phải dựa
vào quy mô đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục- đào tạo Nắm đầy đủ số liệu về biên chế, học sinh, sinh viên, cơ sở vật chất của nhà trường để có cơ sở dự kiến cho kế hoạch năm Đánh giá hết những nguồn thu có thể có và cân đối giữa khả năng và nhu cầu về nguồn lực tài chính Khó khăn nhất của khâu lập kế hoạch là lựa chọn các hoạt động được
ưu tiên trong phân bổ nguồn lực tài chính
Khâu điều hành, thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các
khoản chi tiêu kịp thời theo kế hoạch để đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên cho nhà trường Thực hiện thu đúng, thu đủ các khoản thu
đã dự kiến và khai thác, tìm kiếm thêm các nguồn thu phục vụ cho hoạt động đào tạo và NCKH của trường
Khâu kiểm tra: Giám sát việc điều hành chi tiêu trong các bộ phận đảm
bảo đúng chế độ, đúng mục đích và có hiệu quả Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến, nên đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình và có những điêù chỉnh cần thiết, bao gồm cả việc phân bổ bổ sung nguồn lực tài chính cho những hoạt động trọng tâm phục vụ cho đào tạo
Khâu quyết toán kinh phí: Là khâu cuối cùng của việc sử dụng kinh
phí, nhằm phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng chế độ quy định của Luật ngân sách và Pháp lệnh kế toán thống kê
về biểu mẫu, thời gian, nội dung các khoản thu và chi tiêu Trên cơ sở báo cáo quyết toán để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu và chi
Trang 25tiêu cho công tác đào tạo, rút ra được những ưu, nhược điểm trong quá trình quản lý, đồng thời làm cơ sở cho việc lập kế hoạch năm sau sát thực hơn
Để quản lý nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo ở cấp vĩ mô, Nhà nước xây dựng các định mức chi Các định mức chi này do Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch- Đầu tư và Bộ Giáo dục- Đào tạo quyết định và xem xét hàng năm đối với giáo dục- đào tạo Các định mức chi được xác định trên cơ sở số lượng học sinh, sinh viên Thông qua định mức chi ngân sách hàng năm cho sự nghiệp đào tạo đã góp phần định hướng, sắp xếp cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo
Tài chính là công cụ mạnh trong quản lý trường đại học, nhất là trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thông qua việc cấp NSNN có thể khuyến khích các trường cạnh tranh trong việc nâng cao chất lượng lượng đào tạo Các trường đại học sử dụng việc phân phối theo lao động để khuyến khích giảng viên nâng cao năng lực hay phân bổ ưu tiên cho những hoạt động (bao gồm cả các điêù kiện vật chất cho những hoạt động đó) nhằm nâng cao chất lượng dạy học và NCKH Thực chất của phân bổ tài chính là phân bổ các nguồn lực (nhân lực, vật lực) Các nguồn lực được tập trung hoặc ưu tiên cho mỗi giai đoạn phát triến của mỗi cơ sở đào tạo và ưu tiên cho các hoạt động
có tính quyết định tới chất lượng đào tạo Tài chính tác động đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là phải thông qua các thành tố của chất lượng đào tạo Đây là vấn đề cần nắm vững trong quản lý tài chính của giáo dục, nhất là ở giai đoạn phân bổ tài chính
1.3 Quản lý tài chính với việc tăng nguồn thu của các cơ sở đào tạo cán
Trang 26cũng có những nguồn thu tương tự Các nguồn thu được tóm tắt phân loại như sau:
- NSNN cấp, bao gồm cấp cho: Chi thường xuyên để đào tạo; chi NCKH; chi chương trình mục tiêu; chi đầu tư xây dựng cơ bản
- Các nguồn ngoài NSNN cấp bao gồm: a) Học phí và lệ phí; b) thu từ hợp đồng nghiên cứu, lao động sản xuất và dịch vụ với các tổ chức kinh tế, xã hội; c) tài trợ của nước ngoài các tổ chức quốc tế và trong nước, các nhà hảo tâm (bao gồm: viện trợ không hoàn lại, quà biếu của các cá nhân và các tổ chức nước ngoài; vốn vay; đóng góp của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong nư-ớc; tài trợ của các nhà hảo tâm trong nước)
Nếu như nguồn tài chính đáp ứng đầy đủ và kịp thời theo yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, tất yếu sẽ là điều kiện quan trọng nhằm vận hành bộ máy thực hiện tốt các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và NCKH Đủ nguồn lực tài chính và phân bổ chúng ưu tiên cho những thành tố: đổi mới chương trình, tài liệu đào tạo bồi dưỡng; đào tạo đội ngũ giảng viên; và tăng cường các trang thiết bị phục vụ dạy học sẽ gia tăng đáng kể chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.3.2 Những yếu tố tác động đến nguồn tài chính của các cơ sở đào tạo cán bộ, công chức
1.3.2.1 Chính sách của Nhà nước
Giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta xác định rõ là thành phần hữu
cơ của quá trình đổi mới kinh tế, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước Vì vậy, Chính sách của Nhà nước là một trong những yếu
tố tác động rất lớn tới việc huy động các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học nói chung và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói riêng Điều này thể hiện ở một số điểm sau:
Trang 27Một là, cơ chế chính sách đúng sẽ khuyến khích các cơ sở đào tạo có
cơ hội tăng nguồn thu ngoài NSNN cho đào tạo Điều đó giúp cho các cơ sở đào tạo có điều kiện mở rộng hoạt động phục vụ xã hội của họ, đồng thời giảm bớt gánh nặng chi tiêu của NSNN
Hai là, cơ chế chính sách đúng sẽ tạo cơ hội cho người đi học, người
sử dụng các dịch vụ tư vấn khoa học nhận được những dịch vụ đào tạo và tư vấn có chất lượng cao, từ đó họ có cơ hội để tăng thu nhập
Ngoài chính sách chung đối với giáo dục của Đảng và Nhà nước, những chính sách cụ thể đối với cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc gia tăng nguồn thu của các cơ sở chuyên làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
1.3.2.2 Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Trong quá trình phát triển kinh tế, các hoạt động kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc huy động các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo Các quá trình phát triển kinh tế như sự gia tăng số lượng sản xuất, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc tăng thu nhập và mức sống của tầng lớp dân
cư, tạo việc làm, giảm thất nghiệp, đều tạo ra tiềm lực và nhu cầu phát triển giáo dục đào tạo, có tác động nhất định đến mức độ đầu tư cho giáo dục đào tạo từ Nhà nước và nhân dân
1.3.2.3 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã làm biến đổi nhanh chóng
và sâu sắc nội dung và tính chất lao động, dẫn đến nhu cầu đào tạo ngày càng gia tăng nhằm phát triển mỗi con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Trang 28Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển của mọi quốc gia Với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, đã tạo thêm cơ hội nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới cho đất nước ta trong quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia để phát triển đất nước Để có thể tạo được những lợi thế cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư, đối với nước ta cần phải ưu tiên trong việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao và cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp
Việc đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn bộ hệ thống quản lý Nhà nước, từ cơ quan trung ương tới các địa phương nhằm tạo ra một cơ chế quản lý gọn nhẹ, hiệu quả, thuận lợi cho các các tổ chức kinh tế - xã hội và mỗi người dân
đã đặt ra nhu cầu phải đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công
chức Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm “tin học hóa”
quản lý kinh tế - xã hội ở các cấp cũng đặt ra nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin và truyền thông cho đội ngũ cán bộ, công chức
1.3.2.4 Sự năng động của các cơ sở đào tạo
Một điều được sự nhất trí rộng rãi, đó là sự năng động của các cơ sở đào tạo cũng có ảnh hưởng to lớn đến việc huy động nguồn tài chính cho đào tạo Quan điểm này dựa trên sự nhận thức rõ ràng việc huy động vốn đầu tư
sẽ hiệu quả hơn nếu nhà trường và những người quản lý nhà trường có những hướng đi đúng đắn, linh hoạt trong việc điều hành công việc
Thực tế cho thấy, những trường có khả năng tài chính dồi dào thường
là những trường đứng đầu trong việc thực hiện tính linh hoạt trong quản lý công việc Ngoài nguồn vốn đầu tư từ NSNN, họ còn năng động trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư ngoài NSNN Chẳng hạn, để thực hiện chức năng phục vụ xã hội của mình một số trường đã năng động trong việc thành lập các trung tâm tư vấn, các cơ sở sản xuất kinh doanh ngay trong trường, có
Trang 29mối quan hệ với các tổ chức công nghiệp Từ đó tạo nên nguồn lực mới phục vụ cho sự nghiệp đào tạo của mình Bên cạnh đó, để phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu, một số trường tận dụng được tối đa sự giúp đỡ, viện trợ từ các tổ chức nước ngoài, các dự án phục vụ cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của trường Ngoài ra, một số trường còn mở nhiều chương trình đào tạo, đa dạng hoá các loại hình phục vụ cho mọi đối tượng tham gia học nhằm thu hút
sự đóng góp đáng kể của các đối tượng trên
1.3.2.5 Năng lực tài chính của cán bộ, công chức và của các cơ quan đang quản lý, sử dụng cán bộ công chức
Năng lực tài chính của cán bộ, công chức và của các cơ quan đang quản lý, sử dụng cán bộ công chức cũng là một yếu tố có tác động rất lớn đến việc huy động nguồn tài chính cho đào tạo Ở những vùng có mức sống cao, việc huy động sức đóng góp của cán bộ, công chức và của các cơ quan cho một loại hình đào tạo là tương đối thuận lợi hơn so với những vùng mà sức sống còn thấp, đời sống cán bộ, công chức còn gặp nhiều khó khăn Điều dễ nhận thấy là việc đóng góp của cán bộ, công chức tham gia các khoá học ở những vùng có mức sống cao, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải phòng, Thành phố Hồ Chí Minh rõ ràng có mức độ và phạm vi thuận lợi hơn nhiều so với các vùng kinh tế, những tỉnh còn có khó khăn
Tóm lại: Không có sự phát triển nào của GD & ĐT nói chung và đào tạo cán bộ, công chức nói riêng lại không gắn liền với đầu tư tài chính Thông qua quá trình phân phối, cùng những chính sách huy động nguồn tài chính nhằm đảm bảo đủ nguồn lực cần thiết để chi trả lương cho bộ máy của hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo đội ngũ, đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật, xây dựng trường, lớp và các trang thiết bị giảng dạy, học tập
Trang 30Để tăng được nguồn thu thì mỗi cơ sở đào tạo phải có chiến lược (kế hoạch) mở rộng và đa dạng hóa nguồn thu Khái quát kinh nghiệm thực tiễn của các các cơ sở đào tạo ở nước ta, việc tăng nguồn thu sẽ trông chờ chủ yếu vào việc mở ra các chương trình đào tạo có chất lượng cao
và thu hút các nguồn lực khác thông qua các hoạt động NCKH và hỗ trợ từ các khu công nghiệp và dịch vụ Trước hết phải tập trung tuyệt đối hóa các nguồn thu hợp pháp, thực hiện chính sách thưởng phạt, đãingộ thỏa đáng đối với các tập thể, cá nhân có công tìm kiếm dự án, các nguồn tài trợ, các hợp đồng liên kết đào tạo, các nghiên cứu khoa học đem lại nguồn thu cho trường
Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nguồn tài chính và huy động nguồn tài chính đối với giáo dục đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo cán bộ, công chức nói riêng Việc nghiên cứu những nhân tố này
sẽ giúp ta có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm huy động nguồn tài chính cho phát triển cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo cán bộ, công chức ở Việt Nam
1.3.3 Quản lý tài chính theo các nguồn thu của cơ sở đào tạo cán bộ, công chức
1.3.3.1 Quản lý kinh phí cấp cho chi thường xuyên của đào tạo, bồi dưỡng
Kinh phí hoạt động thường xuyên của nhà trường được NSNN cung cấp cho những nội dung chi chủ yếu sau đây:
- Chi thanh toán cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, học bổng học sinh, tiền thưởng, phúc lợi tập thể
- Chi giảng dạy, học tập: chi phí mua vật tư cho học viên đi thực tập, đi thực tế,
- Chi hàng hoá, dịch vụ: thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin liên lạc, hội nghị, công tác phí, chi thuê mướn, chi đoàn ra đoàn
Trang 31vào, chi sửa chữa thường xuyên tài sản cố định
- Chi hỗ trợ, bổ sung và sắp xếp lao động
Trọng tâm của quản lý chi về bộ máy là việc quản lý quĩ lương, gắn với quản lý lao động, biên chế cán bộ, giảng viên của nhà trường theo chỉ tiêu được duyệt và chế độ tiền lương hiện hành Kinh phí hoạt động thường xuyên của nhà trường được cấp phát theo mức chi tổng hợp bình quân (tính theo đầu mỗi học viên bình quân trong năm ngân sách) Việc quản lý chặt chẽ chỉ tiêu biên chế, định mức lao động, chế độ làm việc, tiết kiệm chi phí bộ máy, chi phí gián tiếp là nhân tố trực tiếp tăng chi cho việc cải thiện điều kiện giảng dạy, học tập, sinh hoạt trong nhà trường và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
1.3.3.2 Quản lý kinh phí cấp cho chương trình mục tiêu
Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ được giao, chương trình mục tiêu giáo dục đào tạo có thể được ngân sách cấp cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức theo các nội dung sau:
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng mới: thí điểm nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dững mới
- Chương trình tăng cường giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng
- Chương trình đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức
- Chống xuống cấp, tăng cường cơ sở vật chất trường học
Việc sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu giáo dục đào tạo cho những nhu cầu mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng cơ bản phải thực hiện theo đúng các qui định về trình tự, thủ tục dự toán, đấu thầu, thanh quyết toán và những nội dung chi tiêu khác đều phải căn cứ vào các chế độ thanh toán tương ứng hiện hành để thực hiện
1.3.3.3 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 32Để đảm bảo việc quản lý vốn đầu tư xây dựng và thực hiện đầu tư đúng tiến độ, đạt hiệu quả cao nhất, các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói riêng phải tuân thủ Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng (Luật đầu tư, Luật đấu thầu năm
2005 có hiệu lực từ 1/1 /2006) và các văn bản hướng dẫn hiện hành
1.3.3.4 Quản lý thu chi trong các hoạt động phụ trợ khác của nhà trường
Hiện nay đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đượcNhà nước cho phép thu một số loại phí và tổ chức một số hoạt động có thu:
- Thu, chi và quản lý học phí thực hiện theo Thông tư liên tịch số 54/1998/TTLB Bộ GD&ĐT-TC ngày 31/8/1998 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện thu, chi và quản lý học phí ở các cơ
sở giáo dục và đoà tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Đối với hoạt động đào tạo theo phương thức không chính qui, thực hiện thu chi theo công văn số 46/2001/TTTC/BTC-BGDĐT của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn quản lý thu chi trong các trường và cơ sở đào tạo công lập
- Thu từ các hợp đồng liên kết đào tạo, dịch vụ khoa học, lao động sản xuất của giảng viên và học viên
Quản lý thu chi các hoạt động phụ trợ này thực hiện theo các văn bản qui định hiện hành tương ứng cho từng loại hoạt động và các khoản thu- chi này phải được hạch toán kế toán và thực hiện tài chính công khai nội bộ Nhà trường thực hiện kế toán tổng hợp tập trung tất cả các nguồn vốn, các nguồn kinh phí trong một hệ thống kế toán thống nhất
1.3.3.5 Quản lý tài sản
Định kỳ vào cuối năm tài chính, hoặc bất thường (bàn giao, chia tách,sáp nhập, giải thể ) đơn vị tiến hành kiểm kê tài sản, mọi trường hợp phát hiện thừa thiếu đều phải ghi rõ trong biên bản kiểm kê xác định rõ
Trang 33nguyên nhân, trách nhiệm, đề xuất biện pháp sử lý và ghi chép đầy đủ vào sổ
kế toán theo chế độ hiện hành
Dựa vào phân loại nguồn thu và các nội dung quản lý tài chính nêu trên, các con đường để tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; bao gồm:
- Tặng tiền và đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân
- Vay tiền của các tổ chức quốc tế và nước ngoài
Dưới góc độ của lý thuyết quản lý, các con đường trên đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý:
- Lập kế hoạch: Đánh giá hết tiềm năng những nguồn thu có thể có và có
các chiến lược khai thác phù hợp
- Tổ chức thực hiện: Thực hiện thu đúng, thu đủ các khoản thu đã dự kiến và
khai thác, tìm kiếm thêm các nguồn thu phục vụ cho hoạt động đào tạo và NCKH của trường Thực hiện các chính sách khuyến khích phù hợp cho những cá nhân
và những đơn vị trong trường có sự năng động và khai thác nguồn thu
- Kiểm tra: Việc thực hiện kế hoạch khai thác nguồn thu không phải bao
giờ cũng đúng như dự kiến, nên đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình và có những điêù chỉnh cần thiết, bao gồm cả việc tìm kiếm nguồn thu thông qua những hoạt động liên kết đào tạo và NCKH
- Quyết toán kinh phí theo thu và các khoản chi tiêu: Là khâu cuối cùng
Trang 34của việc khai thác và sử dụng kinh phí, nhằm phản ánh đầy đủ các nguồn thu
và chi tiêu trong báo cáo quyết toán tài chính theo đúng chế độ quy định của Luật ngân sách và Pháp lệnh kế toán thống kê Trên cơ sở báo cáo quyết toán
để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu và chi tiêu cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm rút ra được những ưu, nhược điểm trong quá trình quản lý, đồng thời làm cơ sở cho việc lập kế hoạch khai thác nguồn thu của năm sau sát thực hơn
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
2.1 Khái quát chung và quy mô đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển, chức năng và tổ chức bộ máy của Học viện
Tiền thân của Học viện HCQG là Trường Hành chính Trung ương được thành lập theo Nghị định số 214/NV ngày 29/5/1959 Ngày 6/7/1992, Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 253/HĐBT qui định Học viện HCQG là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nghiên cứu về hành chính và cải cách hành chính; và góp ý kiến vào các dự thảo pháp luật, qui định của Nhà nước về hành chính
Theo Quyết định số 123/2002/TTg ngày 19/9/2002, Học viện HCQG trực thuộc Bộ Nội vụ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 234/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Hành chính Quốc gia, theo đó, Học viện
là tổ chức sự nghiệp của Bộ Nội vụ và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Học viện là Trung tâm Quốc gia, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật
Học viện HCQG có trụ sở tại Hà Nội, số 77, đường Nguyễn Chí Thanh; và các phân viện :
• Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 10, Đường 3/2, Quận 10
• Phân viện tại Thành phố Huế
• Các phân viện khu vực
Hơn 45 năm qua, Học viện HCQG đã từng bước trưởng thành Trước yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước, Học viện HCQG đóng vai trò không chỉ là trung tâm nghiên cứu, phổ biến khoa học hành
Trang 36chính đầu ngành mà còn là trung tâm đào tạo chuyền giao kiến thức cho nhiều đối tượng trong đó có các nhà quản lý hành chính Nhà nước Học viện
có vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công chức, viên chức góp phần thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế Vì vậy, cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất, Học viện đã không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên và cán
bộ nghiên cứu Khoa học Hành chính
Về cơ sở vật chất, Học viện HCQG đã tăng cường được nhiều cơ sở vật chất hiện đại, khang trang phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học:
- Có trên 30 giảng đường, trong đó hầu hết đựơc trang bị phương tiện giảng dạy hiện đại: máy tính, máy chiếu, bảng chống loá, bảng lật phục vụ khoảng 2000 học viên, sinh viên; phòng truy cập Internet với 100 máy
- 04 Phòng học ngoại ngữ đa phương tiện (LAB) theo tiêu chuẩn quốc tế;
- 01 Trung tâm Phương pháp Sư phạm gồm 03 phòng học hiện đại;
Để đáp ứng những yêu cầu xây dựng nền hành chính chính quy, hiện đại, trước mắt là công cuộc cải cách hành chính nhà nước, Học viện đang đa dạng hoá các loại hình đào tạo, rà soát nội dung chương trình, tiến tới đào tạo theo nhu cầu, nâng cao năng lực nghiệp vụ, kỹ năng quản lý nhà nước cho từng đối tượng là lãnh đạo quản lý, các chuyên gia, đưa Học viện ngang tầm với yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức trong giai đoạn mới
Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay của Học viện HCQG Hồ Chí Minh được thể hiện ở sơ đồ 1 ở trang sau
Trang 37Khoa Nhà nước và Pháp luật Khoa Hành chính học
Khoa Quản lý nhà nước về kinh tế
Khoa quản lý nhà nước về xã hội Khoa Văn bản và Công nghệ hành chính Khoa Lý luận cơ sở
Khoa Sau đại học
Khoa Đào tạo, Bồi dưỡng công chức và tại chức
Khoa Quản lý Tài chính công
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự hành chính
Các khoa chuyên ngành và bộ môn chuyên ngành khác
Viện Nghiên cứu khoa học hành chính Tạp chí Quản lý nhà nước
Trung tâm Tin học - Thư viện
Văn phòng Phân viện tại TP Hồ Chí Minh Ban Đào tạo
Văn phòng đại diện Học viện tại TP Huế
Khoa Nhà nước , Pháp luật và Cơ sở
Khoa Quản lý Nhà nước
về các ngành, lĩnh vực Khoa Văn bản và Kĩ thuật hành chính, Khoa học hành chính, và Tổ chức , Quản lý nhân sự Hành chính
Ban Thanh tra Giáo dục - Đào tạo
Trung tâm Dịch vụ và Hỗ trợ đào tạo Nhà xuất bản Hành chính
Trang 382.1.2 Sự mở rộng và đa dạng hóa các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Học viện HCQG đã xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức đang làm việc trong bộ máy nhà nước và các Tổ chức chính trị, xã hội Từ năm 2002 Học viện được
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo tất cả các bậc học: Đại học, Cao
học và Tiến sĩ Mỗi bậc bao gồm hình thức đào tạo tập trung và không tập
trung, hệ đào tạo chính qui và tại chức
2.1.2.1 Đào tạo bồi dưỡng công chức
Đào tạo tiền công vụ: Là những người đã tốt nghiệp đại học muốn trở thành công
chức nhà nước hoặc mới trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức của cơ quan nhà nước
Bồi dưỡng chuyên viên:
Là cán bộ công chức đang làm việc ở ngạch chuyên viên có hệ số lương dưới 4,0
Bồi dưỡng chuyên viên chính:
Là cán bộ, công chức có thời gian làm việc ở ngạch chuyên viên 9 năm có hệ số
lương từ 4,0 trở lên
Bồi dưỡng chuyên viên cao cấp:
Là cán bộ công chức từ cấp vụ và tương đương có thời gian công tác ở ngạch chuyên
viên chính từ 6 năm và có hệ số lương từ 4,19 trở lên
Bồi dưỡng các kỹ năng, nghiệp vụ hành chính:
Các công chức, viên chức và nhân viên chuyên môn
2.1.2.2 Chương trình đào tạo đại học
Đại học Hành chính hệ chính quy
Trang 39- Cử nhân hành chính (Cho người chưa có bằng ĐH) dành cho học sinh tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc - Chính quy, tập trung
- Cử nhân hành chính (Cho người đã có bằng ĐH) dành cho người đã có
1 bằng ĐH hệ chính quy, có ít nhất 1 năm công tác - Chính quy, tập trung
Đại học Hành chính hệ tại chức
- Cử nhân Hành chính hệ tại chức (cho người chưa có bằng ĐH) dành cho Người đã tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc, có ít nhất 1 năm công tác - Tại chức, tập trung
- Cử nhân hành chính hệ tại chức( cho người đã có bằng ĐH) dành cho Người có bằng ĐH (Hệ chính quy hoặc tại chức), có ít nhất 1 năm công tác - Tại chức, tập trung
2.1.2.3 Đào tạo sau đại học
Đào tạo cao học Quản lý Nhà nước
Đối tượng đào tạo: các cán bộ, công chức đang làm công tác quản lý
trong các cơ quan, đoàn thể đã có kinh nghiệm công tác từ 2 năm trở lên và
có một bằng đại học chính quy, tại chức, chuyên tu (tất cả các chuyên ngành),
Đối với những người chưa có bằng Đại học Hành chính sẽ phải học chuyển đổi kiến thức trước khi dự thi, thời gian học chuyển đổi 6 tháng
Đào tạo tiến sĩ Quản lý Hành chính:
Học viện HCQG hàng năm tuyển trên 20 nghiên cứu sinh, chuyên ngành Quản lý Hành chính công, Quản lý Nhà nước
Đối tượng: Thạc sĩ Quản lý Nhà nước, Cử nhân Hành chính và Thạc sĩ
các chuyên ngành gần hoặc phù hợp với chuyên ngành Hành chính
2.1.2.4 Các loại hình đào tạo ngắn hạn
Ngoài các hệ đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ qui định, hàng năm Học viện HCQG còn tổ chức:
Trang 40- Các lớp Bồi dưỡng Phương pháp giảng dạy hành chính cho đội ngũ giảng viên mới của Học viện và các trường Đại học, Cao đẳng, giảng viên các trường Chính trị tại các tỉnh, thành phố
- Các lớp bồi dưỡng về quản lý tài chính công
- Các lớp bồi dưỡng Hành chính Văn phòng,
- Các lớp Hành chính Doanh nghiệp và Thư ký Giám đốc cho các cơ quan, Coanh nghiệp, địa phương có nhu cầu
- Các lớp bồi dưỡng chuyên đề: Quản lý nguồn nhân lực, giới v.v
- Đào tạo tin học cấp chứng chỉ quốc tế (ICDL – International Computer Driving Licence)
2.1.3 Quy mô đào tạo, bồi dưỡng
2.1.3.1 Đội ngũ cán bộ, giảng viên
Chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện đã được nâng lên, hiện nay có trên 80% cán bộ công chức trong biên chế có trình độ đại học và trên đại học có 63 tiến sĩ và học hàm giáo sư, phó giáo sư (trong đó có 4 GS-
TS, 15 PGS - TS 44 tiến sĩ) và 121 thạc sĩ
Từ năm 2002 đến nay, Học viện đã có nhiều cán bộ, giảng viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ Kết quả:
Về chuyên môn:
- Đã đào tạo và bồi dưỡng học trong nước 441 lượt người
- Đã đào tạo, bồi dưỡng ngoài nước 150 lượt người
Về nghiệp vụ sư phạm: Có 108 người được bồi dưỡng kiến thức,
phương pháp giảng dạy mới