1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát nguyên nhân của sẩy thai liên tiếp và hiệu quả điều trị sẩy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân tại khoa hiếm muộn Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

13 265 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 440,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát các nguyên nhân, đánh giá hiệu quả điều trị tùy theo nguyên nhân được tìm thấy và phác đồ điều trị sẩy thai không rõ nguyên nhân. Nghiên cứu thu thập các trường hợp sẩy thai ≥ 2 lần tại Bệnh viện Đại học Y Dược từ 1/2009 đến 5/2011 để đưa vào nghiên cứu.

Trang 1

KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN CỦA SẨY THAI LIÊN TIẾP

VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ SẨY THAI LIÊN TIẾP KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN TẠI KHOA HIẾM MUỘN BV ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Phạm Văn Đức * , Âu Nhựt Luân *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát các nguyên nhân, đánh giá hiệu quả điều trị tùy theo nguyên nhân được tìm thấy và

phác đồ điều trị sẩy thai không rõ nguyên nhân

Thiết kế nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt trường hợp

Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi thu thập các trường hợp sẩy thai ≥ 2 lần tại BV ĐHYD từ 1/2009

đến 5/2011 Các trường hợp này đều khảo sát nội tiết căn bản ngày 2 chu kỳ (FSH, LH, E2, prolactin), chức năng tuyến giáp (FT3, FT4, TSH), huyết thanh chẩn đoán (HIV, HbsAg, TPHA, C.trachomatis, TORCH, EBV), nhóm máu, Rh, RAI, Coom’s test, đường huyết (đói, 2giờ sau ăn), HbA1C, karyotype cả hai vợ chồng, miễn dịch (ANA, LE cell, anti CardioLipin (aCL), antiphospholipid IgG, IgM), siêu âm và theo dõi phát triển nang noãn ở một chu kỳ tự nhiên Các khảo sát nâng cao ví dụ như MRI khi prolactin tăng cao Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân được tìm thấy, trong trường hợp không rõ nguyên nhân chúng tôi tiến hành điều trị kích trứng với FSH, hỗ trợ sau rụng trứng với Prednisone, progesterone và tiếp tục duy trì nếu bệnh nhân có thai có kèm thêm heparin trọng lượng phân tử thấp (Lovenox®) đến thai trên 12 tuần vô kinh

Kết quả: Chúng tôi có 45 trường hợp sẩy thai ≥ 2 lần được khảo sát trong khoảng thời gian trên, trong đó

có 3 trường hợp u tuyến yên nhỏ (microadenoma), 2 trường hợp tổn thương buồng tử cung do thuyên tắc động mạch tử cung (UAE), 5 trường hợp có hội chứng kháng phospholipid, 2 trường hợp hội chứng thất bại tự miễn sinh sản (RAFS), 4 bất thường karyotype, 1 trường hợp rối loạn đường huyết, và 2 bệnh nhược giáp, bất thường nội tiết 6 trường hợp (13,3%), còn lại 21 trường hợp không rõ nguyên nhân chiếm 47% Kết quả điều trị có 6/21 trường hợp thai tiến triển trên 12 tuần ở đối tượng không rõ nguyên nhân

Kết luận: Hơn 50% các trường hợp sẩy thai liên tiếp có nguyên nhân, hiệu quả điều trị tùy thuộc nguyên

nhân Trong trường hợp không rõ nguyên nhân việc điều trị còn nhiều tranh cãi

Từ khóa: Recurrent miscarriage, heparin, aspirin, progesterone, prednisone, reproductive autoimmune

syndrome

ABSTRACT

RESULTS OF A CAUSAL STUDY FOR RECURRENT PREGNANCY LOSS AND EFFECTIVENESS OF TREATMENT FOR IDIOPATHIC PREGNANCY LOSS AT INFERTILITY CONSULTING ROOM, UNIVERSITY HOSPITAL, HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY

(HCMCUMP)

Pham Van Đuc, Au Nhut Luan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 185 - 197

Objectives: To study the causes of recurrent pregnancy loss, effects of etiology-driven treatment and effects

of treatment for idiopathic recurrent pregnancy loss

Study design: A case series study Study subjects were patients who came to University hospital,

*Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: BS Phạm Văn Đức ĐT : 0914240740 Email :phamvanduc1998@gmail.com

Trang 2

HCMCUMP, from January 2009 to May 2011, because of ≥2 recurrent consecutive pregnancy losses Tests performed for all cases included basic endocrine quantitative determinations (FSH, LH, E2, prolactin) on 2 nd day

of menstrual cycle, thyroid function (TSH, free-T3, free-T4), diagnostic serology for infectious diseases (HBsAg, anti-HCV, anti-HIV, RPR-TPHA, Chlamydia trachomatis, TORCH, EBV), blood group (ABO, Rhesus, abnormal antibodies RAI screening tests), blood biology (HbA1c, direct and indirect Coombs’ tests), blood glucose (fasting and 2-hour postprandial), couples’ karyotype, immunology (antinuclear antibodies, LE cell, anti-Cardiolipin IgG and IgM, anti-Phospholipid IgG and IgM), monitoring of ovular cyst development during natural cycles, MRI if suspected of pituitary microadenomas In later phase of the study, coagulation tests were added to causal screening bilan for recurrent pregnancy loss (total coagulation tests, quantifications of coagulant factors III, IV, VII, VIII) Treatments were based on the discovered causes For idiopathic cases, we carried out the optimizing process for ovular cyst development with recombinant FSH, luteal support with high-dose dydrogesterone, immunosuppression with prednisone in luteal phase and when pregnant, anticoagulation with low molecular weight heparin (enoxaparin) when hCG test was positive and maintaining it until amenorrhea pregnancy reached 12 th week

Results: In the study period, a total of 45 cases with 2 or more consecutive miscarriages were collected The

causes of recurrent pregnancy loss were identifiable in 24 patients (53%), among them 3 had small pituitary microadenomas, 2 uterine cavity injury after fibroid embolization, 5 anti-phospholipid antibody presence, 2 reproductive autoimmune failure syndrome (RAFS), 4 abnormal karyotypes, 1 impaired glucose tolerance, 2 subclinical hypothyroidism, 6 endocrine disorders (permanently high LH) Causes in other 21 patients remained unknown despite all the above-mentioned explorations (47%) There were totally 6 post-treatment progressing pregnancies in these 21 idiopathic cases

Conclusion: More than half of recurrent pregnancy loss cases had identifiable causes, and treatment effects

were cause-dependent For idiopathic cases, treatment options remained controversal

Key words: trichomoniasis, bacterial vaginosis, candidiasis, married women, Can Gio district

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sẩy thai liên tiếp được định nghĩa là sẩy thai

nghĩa này loại trừ các trường hợp thai sinh hóa

(chỉ có hCG dương tính mà chưa quan sát thấy

túi) hay thất bại làm tổ Nguyên nhân của sẩy

thai liên tiếp rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do

bệnh lý tự miễn chống lại bào thai và nguyên

Thai kỳ nhận biết được bằng siêu âm đầu

dò âm đạo sẽ có sẩy thai tự nhiên trong

khoảng 15-20% các trường hợp và thường chỉ

là biến cố duy nhất ở phụ nữ lứa tuổi sinh

sản Tuy nhiên, tần suất sẩy thai liên tiếp chỉ

sẩy ra ở tam cá nguyệt thứ nhì

Với tiến bộ của kỹ thuật chẩn đoán và am

hiểu bệnh sinh giúp thầy thuốc lâm sàng tiếp cận

bệnh nhân sẩy thai liên tiếp một cách có hệ thống

và điều trị tùy thuộc nguyên nhân

Mục tiêu

Khảo sát các nguyên nhân, đánh giá hiệu quả điều trị tùy theo nguyên nhân được tìm thấy

và phác đồ điều trị sẩy thai không rõ nguyên nhân

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Một báo cáo hàng loạt trường hợp lâm sàng được thực hiện tại bệnh viện Đại học Y Dược TP

Hồ Chí Minh trong khoảng 3 năm từ 2009-2011 Chọn các đối tượng có sẩy thai liên tiếp ≥ 2 lần sẩy thai mà được xác định có túi thai trong lòng

tử cung bằng siêu âm đầu dò âm đạo, với tuổi thai xác định dưới 13 tuần vô kinh và loại trừ khỏi mẫu nghiên cứu tất cả các trường hợp có thai sinh hóa, thất bại làm tổ hay sẩy thai quí II Tất cả các đối tượng đều khảo sát bilan sẩy thai liên tiếp và trong quá trình định bệnh không cho bệnh nhân mang thai trước khi có quyết định điều trị bao gồm:

Trang 3

Xét nghiệm nội tiết vào ngày 2 của chu kỳ

kinh: FSH, LH, E2, prolactine, testosterone

Xét nghiệm chức năng giáp: TSH, FT3, FT4,

nếu có tình trạng cường hay nhược năng giáp

được gửi đến trung tâm điều trị tuyến giáp để tìm

các kháng thể kháng giáp trạng và có thể phối

hợp điều trị

Toxoplamosis, HSV, CMV, EBV, C trachomatis

Dung nạp đường: đường huyết đói, 2 giờ sau

Máu: nhóm máu, Rh cả vợ chồng, Test

Coomb’s, RAI

Karyotype cả vợ và chồng

Miễn dịch: ANA, Le Cell, Anticardiolipin

(IgG, IgM), antiphospholipid (IgG, IgM)

Theo dõi 1 chu kỳ phát triển noãn tự nhiên,

đánh giá chất lượng của pha hoàng thể

KẾT QUẢ-BÀN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng trong nhóm nghiên

cứu

Đặc điểm Trị số trung bình

Nhóm tuổi trung bình

Số năm lặp gia đình

Số lần sẩy thai

Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Chu kỳ kinh

34,3 ± 4,1 tuổi (từ 23-41 tuổi) 6,7 ± 3,3 năm (từ 2-13 năm) 2,7 ± 1,0 lần (từ 2-7 lần) 21,6 ± 2,3 (từ 18-28) 31,3 ± 6,0 ngày (28-60 ngày)

Kết quả cho thấy nhóm tuổi của đối tượng sẩy

thai liên tiếp trong nghiên cứu được tiếp cận xác

định nguyên nhân thường muộn khoảng 34 tuổi

và thời gian khoảng 6,7 năm sau lập gia đình,

thường 3 lần sẩy thai liên tiếp bệnh nhân mới tiếp

cận xác định nguyên nhân Ở thời điểm muộn

thường bệnh nhân lớn tuổi ngoài nguyên nhân

gây sẩy thai liên tiếp còn bị ảnh hưởng bất lợi do

tuổi Do đó, chúng tôi đề nghị nên khảo sát tìm

nguyên nhân sẩy thai liên tiếp nếu bệnh nhân có

sẩy thai liên tiếp 2 lần

Tuổi và tiền sử số lần sẩy thai liên tiếp là hai

yếu tố độc lập ảnh hưởng đến lần sẩy thai tiếp

theo, và cả tuổi người chồng cũng là yếu tố nguy

cơ Tuổi mẹ càng cao thì càng kết hợp với suy

giảm cả số lượng và chất lượng của nang noãn còn lại Trong một nghiên cứu hồi cứu cho thấy: nhóm 12-19 tuổi tỷ lệ sẩy thai là 13%, 20-24 tuổi

là 11%, 25-29 tuổi là 12%, 30-34 tuổi là 15%, 35-39 tuổi là 25%, 40-44 tuổi là 51%, và trên 45 tuổi là 93% Nguy cơ cao nhất là những đôi mà người

Tiền sử sẩy thai là một yếu tố tiên đoán độc lập cho dư hậu thai kỳ tiếp theo, nguy cơ sẩy thai tiếp theo càng tăng sau mỗi lần sẩy thai liên tiếp, khoảng 40% sẩy thai tiếp nếu sau 3 lần sẩy thai liên tiếp và tiên lượng càng đen tối nếu kèm với tăng tuổi mẹ Tiền căn sanh con sống thì không

Các nghiên cứu hồi cứu đã cho thấy béo phì

Đặc điểm nội tiết tố ngày 2 của chu kỳ kinh

Trị số trung bình

FSH

LH E2 Prolactine

7,0 ± 2,3 (1,39-13) 5,1 ± 1,9 (1,6-10,5) 37,6 ± 31,6 (10-225)

22 ± 24 (6,6-120)

Kết quả xét nghiệm ngày 2 cho thấy tình trạng nội tiết tương đối bình thường, các rối loạn nội tiết chủ yếu nhẹ và thứ phát do các bệnh lý khác ảnh hưởng đến trục hạ đồi yên như: nhược giáp, u tuyến yên tăng tiết prolactin kéo dài, tình trạng không phóng noãn thường xuyên… Các rối loạn nội tiết toàn thân của người mẹ như tiểu đường, bệnh tuyến giáp kết hợp với nguy cơ sẩy thai Phụ nữ tiểu đường có bất thường HbA1C ở quí I của thai kỳ tăng nguy cơ sẩy thai và thai dị dạng Tuy nhiên, đường huyết điều chỉnh tốt cũng như điều trị bệnh tuyến giáp không làm cải thiện kết cục vì tần suất bệnh tiểu đường và tuyến giáp ở phụ nữ sẩy thai cũng tương tự với nhóm dân số chung(5,27)

Các rối loạn này chủ yếu điều chỉnh nguyên nhân sinh bệnh, kết quả cho thấy tình trạng phóng noãn tự nhiên sau khi đã điều trị bệnh nguyên nhân và thai kỳ được đặt dưới progesterone Hiện tại, chưa đủ chứng cứ đánh giá hiệu quả của progesterone sử dụng trong thai kỳ để dự phòng sẩy thai ở bệnh nhân sẩy

Trang 4

trong một phân tích gộp dựa trên 3 thử nghiệm

lâm sàng nhỏ cho thấy hiệu quả của

progesterone trên kết cục sẩy thai ở bệnh nhân

sẩy thai liên tiếp (OR 0,38; 95% CI 0,2-0,7) khi

so với nhóm không điều trị hay dùng giả

dược, tuy nhiên kết quả nghiên cứu không cho

Có 6 trường hợp rối loạn nội tiết trong

nghiên cứu của chúng tôi là hệ quả của rối loạn

phóng noãn, tình trạng không phóng noãn

thường xuyên mà nguyên nhân do u tuyến yên

nhỏ (có 3 trường hợp microadenoma), nhược

giáp (2 trường hợp nhược giáp dưới lâm sàng),

và 1 trường hợp PCOS Tuy nhiên, các nguyên

nhân này chưa đủ giải thích nguyên nhân sẩy

thai liên tiếp ngoại trừ u tuyến yên, nhưng việc

điều trị bệnh nguyên nhân giúp cải thiện tình

trạng ức chế trục hạ đồi-tuyến yên, làm cải thiện

phóng noãn tự nhiên, chất lượng noãn và hoàng

thể Kể cả việc điều trị hỗ trợ pha hoàng thể ở

bệnh nhân có rụng trứng hay PCOS cũng chưa

được chứng minh cải thiện kết cục thai kỳ

nhân gây ra tình trạng rối loạn nội tiết là quan

trọng chứ không phải điều trị hỗ trợ chúng

Có 1 trường hợp có rối loạn dung nạp đường

kèm béo phì (BMI: 28) nằm trong bệnh cảnh

PCOS, bệnh nhân khuyên giảm cân kết hợp

metformin 1000mg/ngày sau khoảng 6 tháng

Sau đó bệnh nhân có kinh và thai kỳ tự nhiên

được bảo vệ dưới progesterone có kèm

metformin đến 12 tuần vô kinh Một số tác giả

nhận thấy có 36-56% phụ nữ có sẩy thai liên tiếp

có PCOS được chẩn đoán trên siêu âm, tuy nhiên

các bằng chứng hiện tại cho thấy PCOS ở phụ nữ

có sẩy thai liên tiếp thì dự hậu thai kỳ sau đó thì

không có xấu hơn ở phụ nữ có sẩy thai liên tiếp

tần suất sẩy thai ở phụ nữ có PCOS giảm sau sau

đốt điểm buồng trứng và khi điều trị tình trạng

đề kháng Insulin như metformin với giả thuyết

là nồng độ cao androgens và hoặc LH làm tăng

nguy cơ sẩy thai(8) Tuy nhiên, hiện tại chưa đủ

chứng cứ để đánh giá hiệu quả của metformin

trong dự phòng sẩy thai ở phụ nữ có tiền căn sẩy

Trong đó có 3 trường hợp phát hiện tăng prolactin máu, kết quả chụp MRI sọ não cho

thấy có u tuyến yên nhỏ (microadenoma) Được điều trị bằng parlodel 2,5mg theo phác đồ liều thấp tăng dần và duy trì cho khi nồng độ prolactin máu ổn định < 30 ng/ml và không còn tiết sữa, chu kỳ kinh bình thường có phóng noãn

và tiếp tục duy trì khi có thai đến hết 36 tuần vô kinh Kết quả chúng tôi đang có 2 thai kỳ tiến triển khoảng 20 tuần vô kinh với liều parlodel khoảng 10mg/ngày

Có 2 trường hợp nhược năng tuyến giáp dưới cận lâm sàng, được điều trị hormone giáp trạng

cho đến bình giáp và có phóng noãn trở lại Đã

có 1 trường hợp thai tự nhiên được bảo vệ dưới prednisone, progesterone và Lovenox® liều thấp đến 12 tuần vô kinh Vì nhược giáp dưới lâm sàng chưa đủ giải thích nguyên nhân sẩy thai liên tiếp và có thể liên quan bệnh miễn dịch do

có kháng thể kháng giáp, do đó trong các trường hợp này chúng tôi xử trí giống trường hợp sẩy thai không rõ nguyên nhân

Kháng thể kháng giáp đã được biết liên quan đến tình trạng sẩy thai liên tiếp Tuy nhiên, trong một nghiên cứu bệnh chứng từ năm 1998 cho thấy nồng độ kháng thể trong tuần hoàn ở nhóm

có sẩy thai liên tiếp không khác biệt với nhóm

cho thấy hiện diện kháng thể kháng giáp ở bệnh nhân bình giáp có tiền sử sẩy thai liên tiếp không

Kết quả nhiễm sắc thể đồ phát hiện có 4 trường hợp bất thường NST

Kết quả NST đồ có 4/45 trường hợp có bất thường NST, chủ yếu mất và đảo đoạn cân bằng trên NST thường Các trường hợp sẩy thai liên tiếp nhiều lần kèm karyotype có mất đoạn, chuyển đoạn NST lớn chúng tôi khuyên bệnh nhân xin trứng hay xin con nuôi (trường hợp 2, 3) Còn các trường hợp chuyển đoạn tương hỗ ở nhánh ngắn, do nguyên nhân nam và bệnh nhân trẻ tuổi, đã có con thì chúng tôi thực hiện kích

Trang 5

noãn dưới FSH ngoại sinh, hỗ trợ pha hoàng thể

progesterone, prednisone, nếu có thai (Qs +) thai

kỳ được bảo vệ dưới các thuốc trên và Lovenox®

liều thấp đến 12 tuần vô kinh

Các yếu tố di truyền cũng góp phần trong các

nguyên nhân sẩy thai liên tiếp, chuyển đoạn cân

Mặc dù, người bình thường mang bất thường

chuyển đoạn cân bằng, nhưng thai kỳ của họ lại

tăng nguy cơ sẩy thai và con họ khi sinh ra có thể

mang đa dị tật và hoặc thiểu năng trí tuệ là kết

quả của tái sắp xếp các NST không cân bằng

Nguy cơ sẩy thai bị ảnh hưởng bởi kích thước và

số lượng gen chứa trên đoạn NST tái sắp xếp lại

sẩy thai liên tiếp cũng được mô tả, gợi ý một

thành tố di truyền cho tình trạng này, có liên

quan đến lệch NST X dẫn đến bất hoạt NST này

hay tình trạng bất thường HLA (human

leukocyte antigen) liên quan đến việc mở và hoạt

hóa các mật mã di truyền đến từ tinh trùng và

noãn sau thụ tinh để biệt hóa cơ quan bào thai

Ngoài ra, khiếm khuyết đơn gen ví dụ như đột

biến và đa hình gen, hệ thống HLA, con đường

chuyển hóa acid folic và quá trình đông máu

Các cặp vợ chồng có chuyển đoạn cân bằng hay

đảo đoạn NST nên khảo sát di truyền chẩn đoán

tiền thai bởi vì có tăng nguy cơ bất thường NST

trong bào thai Tuy nhiên, việc khảo sát này trên

mô sẩy thai hay sản phẩm từ bào thai thì không

cần thiết ngoại trừ mục tiêu nghiên cứu khoa học

Ở những người sẩy thai liên tiếp, bất thường NST

của phôi thai chiếm 30-57% ở lần sẩy thai tiếp

chứng hiện tại đã chưa đủ bằng chứng để chứng

minh một tình trạng không lệch bội của bào thai

có thể loại trừ các nguyên nhân di truyền từ bố

mẹ hay việc thay đổi điều trị có có ảnh hưởng kết

cục của họ, cũng như giá trị tiên lượng của di

truyền bào thai vẫn còn tranh cải Vì còn có cơ

chế tự sửa đổi tự nhiên trên các khiếm khuyết

NST di truyền của bố mẹ cũng như di truyền

ngoài nhân như ty thể từ mẹ ảnh hưởng cơ chế

Thực hiện NST đồ cả vợ lẫn chồng đối với các trường hợp sẩy thai liên tiếp nhất là khi khảo sát sản phẩm thụ thai có bất thường cấu trúc NST không cân bằng (khuyến cáo D) Khi tìm thấy các bất thường trên karyotype của bố

mẹ cần chuyển đến chuyên gia tư vấn về di

Nên phân tích di truyền các sản phẩm thụ thai sau lần thứ 3 và sẩy thai liên tiếp (khuyến

tiên lượng thai kỳ tiếp theo, nếu karyotype thai bình thường thì có tiên lượng tốt ở thai kỳ tiếp sau, nguy cơ càng cao nếu số lần lệch bội trước đây càng tăng(29)

Chẩn đoán tiền làm tổ (PGD) được đề xuất như một lựa chọn điều trị ở những đôi có chuyển đoạn hay bất thường NST khi thực hiện

chi phí cao cho một trẻ sinh sống khỏe mạnh trong tổng số chu kỳ IVF có thực hiện PGD và tỷ

lệ trẻ sinh sống chỉ 30% và không khác biệt so với

soát khảo sát gen tiền làm tổ (PGS) với IVF/ICSI

ở phụ nữ sẩy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân cũng không cải thiện trẻ sinh sống (khuyến

sống ở thai kỳ tự nhiên cao hơn nhóm sau tầm

Trong điều kiện hiện tại Việt Nam, chúng tôi khảo sát các bất thường NST bố mẹ chỉ có mục tiêu tham khảo, các phân tích gen chưa được đánh giá cũng như mức độ ảnh hưởng bất thường NST của bố mẹ chưa được chứng minh Trong bối cảnh này, nếu có bất thường mất đoạn lớn NST, hay có chuyển đoạn không cân bằng từ người nữ chúng tôi khuyên bệnh nhân nên xin trứng hay xin con nuôi Còn các chuyển đoạn nhỏ và cân bằng, bất thường ở người nam chúng tôi tối ưu hóa phát triển nang noãn với FSH ngoại sinh và thai kỳ dưới progesterone kết hợp Lovenox® liều thấp đến 12 tuần vô kinh

Đặc điểm miễn nhiễm

Dương tính âm tính

Trang 6

Rubella

Toxoplasmosis

CMV

HSV

EBV

Chlamydia trachomatis

36(80%) 15(33,3%) 31(68,9%) 22(48,9%) 8(17,8%) 3(6,7%)

9(20%) 30(66,7%) 14(31,1%) 23(51,1%) 37(82,2%) 42(97,3%)

Kết quả đáp ứng miễn dịch với các tác nhân

virus-vi khuẩn thay đổi tùy thuộc nguyên nhân

sinh bệnh Chưa đủ chứng cứ giải thích nguyên

nhân sẩy thai liên tiếp và sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê giữa nhóm nhiễm và không

nhiễm, tuy nhiên phải thực hiện các test này

thường qui nhằm có cơ sở đánh giá các yếu tố

kèm theo có thể gây bất lợi cho thai kỳ

Mọi nhiễm khuẩn nặng có thể dẫn đến nhiễm

khuẩn huyết và có thể là nguyên nhân của sẩy

thai đơn lẻ, còn vai trò của nhiễm khuẩn trên sẩy

thai liên tiếp thì chưa được chứng minh Một

nhiễm khuẩn bị cho là tác nhân gây sẩy thai liên

tiếp thì phải có khả năng tồn tại trong ống sinh

dục và không bị phát hiện, không triệu chứng và

có tiềm năng gây hại cho thai, trong khi các

nhiễm tác nhân TORCH, listeria thì không đủ

Vaginosis) âm đạo vào tam cá nguyệt thứ nhất

của thai kỳ được báo cáo là có liên quan đến sẩy

thai quí II và sanh non, nhưng bằng chứng gây

sẩy thai ở tam cá nguyệt đầu thì không được

chứng minh Các thử nghiệm lâm sàng có đối

chứng việc điều trị BV ở tam cá nguyệt II với

clindamycin làm giảm có ý nghĩa tần suất sẩy

thai quí II và nguy cơ sanh non ở trong dân số

chung, vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá vai trò

của kháng sinh ở phụ nữ có tiền căn sẩy thai liên

tiếp ở tam cá nguyệt II(45)

Nguyên nhân tại tử cung

Sẩy thai sau thuyên tắc động mạch tử cung

điều trị UXTC (UAE: Uterine Fibroid

Embolization)

Có 2 trường hợp tổn thương buồng tử cung

sau thuyên tắc động mạch tử cung điều trị u xơ

tử cung, làm nội mạc mất chức năng và dính buồng tử cung, kèm theo rối loạn nối tiết tố (FSH tăng 13 UI/ml, E2 tăng cao) do tổn thương mạch máu nuôi buồng trứng và tử cung sau thuyên tắc mạch

So với dân số sản khoa không can thiệp UAE, thực hiện thuyên tắc có tỷ lệ sẩy thai cao

và tỷ lệ có thai thấp hơn một cách có ý nghĩa

so với nhóm chứng là phẫu thuật bóc UXTC, nhóm thuyên tắc có tỷ lệ thai tự nhiên thấp hơn có ý nghĩa (50% so với 78%, p<0,05) khi theo dõi trên 25 tháng, và tần suất sẩy thai cao

Ngay sau khi UAE được áp dụng điều trị, các báo cáo biến chứng có thể ảnh hưởng xấu đến kết cục IVF như tăng FSH sớm vào ngày 3, suy buồng trứng sớm khoảng 2%, và các triệu chứng nóng bừng 12 tuần sau UAE Tác giả đề nghị nên

áp dụng UAE ở bệnh nhân đã đủ con, bóc nhân

xơ có thể khó khăn, và phải giải thích cho bệnh

Đặc điểm buồng tử cung ở bệnh nhân sau UAE: tồn tại kéo dài UXTC thoái triển, thoát vị khối u xơ làm biến dạng buồng tử cung, nội mạc

tử cung không đều do khiếm khuyết phần cơ tử cung bên dưới, mất và giảm thể tích niêm mạc tử cung chức năng do tình trạng thiếu máu nuôi, tạo dính do tổ chức hóa các mô còn lại sau UAE

và tạo những dải xơ trong buồng tử cung do thoái hóa UXTC làm mất chức năng của lớp nội mạc tử cung Chính các đặc điểm này làm ảnh hưởng xấu khả năng làm tổ của chu kỳ IVF và

Dị dạng buồng tử cung

Có 2 trường hợp phát hiện có dị dạng buồng

tử cung, tuy nhiên nguyên nhân này (tử cung có vách ngăn không hoàn toàn) không đủ giải thích nguyên nhân sẩy thai liên tiếp ở giai đoạn sớm của thai kỳ và chúng tôi xử trí giống như một trường hợp không rõ nguyên nhân và không khuyến khích đa thai

Trang 7

Tần suất dị dạng tử cung bẩm sinh gây sẩy

thai liên tiếp thay đổi 1,8-37,6%, tần suất này cao

ở những phụ nữ sẩy thai liên tiếp ở quí II so với

tam cá nguyệt đầu và có thể liên quan đến tình

trạng cổ tử cung suy yếu hay gặp ở phụ nữ bất

những phụ nữ nguy cơ cao sẩy thai và sanh non

nếu không được điều trị thì tần suất thai kỳ đủ

tháng khoảng 50%, tuy nhiên nghiên cứu này bị

Một khảo sát buồng tử cung cũng được

khuyến cáo đối với trường hợp sẩy thai liên tiếp,

bằng các phương tiện như HSG, siêu âm 3D, siêu

âm có bơm nước buồng tử cung hay nội soi

nguyên nhân gây sẩy thai liên tiếp sớm chủ yếu

là UXTC dưới niêm, hay trong cơ gây biến dạng

dạng tử cung chủ yếu gây sẩy thai liên tiếp ở giai

Tất cả phụ nữ sẩy thai liên tiếp ở tam cá

nguyệt đầu, sẩy thai trên 1 lần ở quí II của thai

kỳ nên siêu âm vùng chậu để đánh giá giải

phẫu học tử cung Khi kết quả nghi ngờ cần

khảo sát HSG, nội soi buồng tử cung và siêu

âm 3D vùng chậu để khẳng định bất thường

Hiện tại vẫn chưa đủ chứng cứ đánh giá hiệu

quả của phẫu thuật cắt vách ngăn ở phụ nữ sẩy

thai liên tiếp có vách ngăn tử cung để dự phòng

Bệnh miễn dịch-tự miễn-dị miễn

Ngày nay, bệnh miễn dịch gây sẩy thai được

biết đến là bệnh tự miễn (autoimmune) hay dị

miễn (alloimmune) Trong đó, sẩy thai tự miễn

(autoimmune) kháng thể tự miễn của mẹ tác

động trên sự phát triển của nhau, bào thai và

những tế bào tự phản ứng mà đích là các phân

tử màng rụng và nguyên bào nuôi Còn sẩy thai

dị miễn (alloimmune), hệ thống miễn dịch mẹ

phản ứng chống lại phôi thai và gây tổn thương

nguyên bào nuôi thông qua phản ứng kiểu loại

bỏ dị sinh (thải dị ghép)

Sẩy thai tự miễn (autoimmune)

Năm 1999, Hội Miễn dịch học sinh sản Hoa

Kỳ, xem sẩy thai tự miễn như là một trong các biểu hiện không chỉ của hội chứng thất bại sinh sản tự miễn (RAFS: reproductive autoimmune failure syndrome) nhưng còn là biểu hiện của

antiphospholipid syndrome), từ đó đề nghị 2 hội chứng này nên được gôm vào một thể lâm sàng rộng hơn: hội chứng tự miễn sinh sản

Chẩn đoán RAS nên nghĩ đến dựa vào bệnh sử sẩy thai và đề nghị cận lâm sàng giúp chẩn đoán xác định

RAFS: Hội chứng thất bại tự miễn sinh sản

Trong nghiên cứu phát hiện có 2 trường hợp

có ANA và LE CELL dương tính kèm sẩy thai liên tiếp đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng tự miễn sinh sản (RAS) ANA phát hiện trong 35% trường hợp phụ nữ có RSA và chiếm ít hơn 10% phụ nữ hiếm muộn không kèm tiền căn sẩy thai Trong nghiên cứu của chúng tôi, 2 bệnh nhân này chưa được phát hiện bệnh Lupus trước đây, sau tổng soát bilan sẩy thai liên tiếp phát hiện có ANA và Le Cell được gửi đến BV Da Liễu và có chẩn đoán xác định Lupus đỏ hệ thống

Các chứng cứ cho thấy không có mối liên quan giữa bệnh Lupus đỏ hệ thống với sẩy thai liên tiếp, tuy nhiên bệnh nhân có biểu hiện bệnh Lupus đỏ kèm sẩy thai liên tiếp có thể xếp trong hội chứng RAFS Ổn định tình trạng bệnh, đảm bảo không có tình trạng biến chứng trên thận, thần kinh và thai kỳ dưới prednisone liều cao khoảng 30mg/ngày và progesterone kết hợp

100mg/ngày đến thai 34 tuần nếu sau 16 tuần có bất thường kết quả tripple test mà khảo sát NST

đồ dịch nước ối bình thường, có biểu hiện cao huyết áp, đường biểu diễn đường sinh trắc của thai, khảo sát doppler động mạch tử cung bất

Bệnh Lupus đỏ hệ thống là bệnh lý tự miễn gây tổn thương đa cơ quan mãn tính mà xảy ra

ưu thế ở phụ nữ ở lứa tuổi sanh đẻ Nguy cơ biến chứng và dư hậu thai kỳ nặng nề ở thai phụ có

Trang 8

Lupus như tiền sản giật, sản giật, thai chậm tăng

trưởng, thai chết lưu Hơn nữa, thai kỳ có thể là

nguyên nhân gây ra đợt cấp của Lupus cần thiết

phải ức chế miễn dịch trong thai kỳ và nếu tình

trạng mẹ nặng nề có thể phải chấm dứt thai kỳ

Nhiều biến chứng của thai thai kỳ biểu hiện như

triệu chứng của Lupus thách thức chẩn đoán và

điều trị, cũng như thai kỳ là cơ hội phát hiện bệnh

Lupus tiềm ẩn Chẩn đoán xác định khi có ít

nhất 4 trong 11 tiêu chuẩn của Hội thấp học Hoa

Kỳ Tần suất sẩy thai và thai chết lưu tăng ở thai

phụ Lupus gấp 5 lần hơn thai phụ bình thường

Tuy nhiên, liên quan của sẩy thai liên tiếp và

bệnh Lupus chưa được chứng minh, nhưng phát

hiện sớm, theo dõi diễn tiến bệnh và thai kỳ, điều

trị tích cực có thể làm giảm bệnh suất và tử suất ở

nhân Lupus đỏ hệ thống nên ổn định bệnh trước

6 tháng khi có ý định mang thai giúp giảm các

nguy cơ biến chứng, nếu có biến chứng trên thận,

hệ thống thần kinh trung ương thường cho dư

hậu xấu cho thai kỳ Thuốc ức chế miễn dịch cần

duy trì liều thấp để kiểm soát bệnh và tránh một

số thuốc có thể ảnh hưởng phát triển của thai

Hội chứng kháng phospholipid

Có 5 trường hợp phát hiện hội chứng kháng

phospholipid có huyết thanh dương tính với

anticardiolipin và hoặc antiphospholipid Hội

chứng kháng phospholipid được chẩn đoán dựa

vào 2 trong 5 tiêu chuẩn ở bảng trên, khoảng

30% phụ nữ có RSA phát hiện có aPL Các

nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam cho thấy có 22

trường hợp hội chứng kháng phospholipid trong

tổng số 57 trường hợp sẩy thai liên tiếp (chiếm

38,6%) và kết quả thai kỳ được đặt dưới heparin

trọng lượng phân tử thấp đến 12 tuần có kèm

aspirin 100mg/ngày và progesterone, cho thấy

hiệu quả cao > 80%(26) Với phác đồ này trong

nghiên cứu của chúng tôi đã có 1/5 thai kỳ thành

công Hội chứng kháng phospholipid hiện diện

trong 15% các trường hợp sẩy thai liên tiếp, tần

suất này thấp khoảng 2% ở nhóm dân số sản

khoa nguy cơ thấp, và khoảng 10% thai kỳ với

Lý do hội chứng này gây sẩy thai là do hiện tượng tăng đông hình thành những cục huyết khối làm thuyên tắc các mạch máu nhỏ tại màng rụng, tuy nhiên mô học của nhau thai cho thấy

đa số nồng độ kháng thể lại tập trung tại nguyên bào nuôi Bệnh sinh ảnh hưởng của kháng thể kháng phospholipid trên nguyên bào nuôi bao gồm giảm tính hoạt mạch của màng tế bào, tăng hình thành nốt, giảm tưới máu đến lông nhau (villi), tăng nhồi máu, hoại tử, ức chế chức năng

và biệt hóa của nguyên bào nuôi và bệnh sinh tại mạch máu bào thai nhiều hơn là hình thành

aspirin 75-100mg/ngày được dựa trên liều hiệu quả bảo vệ chống lại sự tái nhồi máu cơ tim, người ta tin rằng cũng có hiệu quả cải thiện thai

kỳ trên điều trị sẩy thai liên tiếp ở bệnh nhân có hội chứng kháng phospholipid và đã sử dụng

sàng có đối chứng (RCT) và phân tích gộp cho thấy aspirin đơn độc không cải thiện tỷ lệ trẻ sinh sống (RR 1,05; 95% CI 0,66-1,68), do đó các chứng cứ hiện tại không ủng hộ chỉ định aspirin đơn độc này Ngược lại, kết hợp aspirin với heparin phân tử đứt đoạn hay heparin trọng lượng phân tử thấp lại làm giảm có ý nghĩa sẩy thai khi so sánh với sử dụng aspiri đơn độc (RR 0,46; 95% CI 0,29-0,71) Còn prednisone kết hợp aspirin làm tăng nguy cơ sanh non và nguy cơ tiểu đường thai kỳ khi so sánh với giả dược, aspirin đơn độc hay kết hợp với heparin nhưng không có cải thiện kết cục thai kỳ, do đó không nên có kết hợp này trong điều trị Immunoglobulin tĩnh mạch kèm hay không heparin và aspirin tăng nguy cơ sẩy thai và sanh non khi so sánh với heparin kết hợp với aspirin (RR 2,51; 95% CI 1,27-4,95) và không khác biệt dư hậu sẩy thai khi so sánh với prednisone kèm aspirin(28)

Do đó, trong điều kiện hiện tại điều trị thai kỳ

ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp có hội chứng kháng phospholipid là heparin kết hợp với aspirin liều thấp (khuyến cáo B)(1,36) Kể cả các điều trị corticosteroid và immunoglobulin tĩnh mạch đều không cải thiện kết cục trẻ sinh sống ở

Trang 9

các bệnh nhân này so với các mô thức điều trị

khác, mà điều trị này còn làm tăng bệnh suất ở

Nhược điểm không khảo sát các yếu tố đông

máu

Cả bệnh tăng đông (thrombophilias) bẩm

sinh hay mắc phải đều bao gồm tăng hoạt tính

của kháng protein C (đa số là do đột biến yếu tố

V Leiden), thiếu hút protein C/S và

antithrombin, tăng homocystein máu và đột biến

gen prothrombin được chứng minh là nguyên

nhân tạo huyết khối hệ thống Thêm vào đó,

bệnh thrombophilias di truyền liên quan đến

nguyên nhân của sẩy thai liên tiếp và biến chứng

thai kỳ muộn với cơ chế được cho là hình thành

huyết khối trong tuần hoàn nhau thai Trong một

phân tích hệ thống cho thấy có mối tương quan

giữa các loại bệnh thrombophilias di truyền với

các dạng sẩy thai, và mối tương quan này với sẩy

thai sớm ít hơn khi so sánh với các biến chứng

trong thai kỳ bệnh Cũng trong phân tích này,

yếu tố V Leiden kết hợp với sẩy thai liên tiếp ở

tam cá nguyệt đầu (OR 2,01, 95% CI 1,13-3,58),

sẩy thai sau 22 tuần (OR 2,56; 95% CI 1,58-21,67);

tăng hoạt tính của kháng protein kết hợp với sẩy

thai liên tiếp quí I (OR 3,48; 95% CI 1,58-7,69);

đột biến gen prothrombin kết hợp với tăng nguy

cơ sẩy thai liên tiếp quí I (OR 2,32; 95% CI

1,12-4,97), sẩy thai liên tiếp trước 25 tuần (OR 2,56;

95%CI 1,04-6,29), thai chết muộn (OR 2,3; 95% CI

1,09-4,87); thiếu hụt protein S kết hợp với sẩy thai

liên tiếp (OR 14,95% CI 0,99-218) và thai chết sau

trong một phân tích tổng quan khác cho thấy

người mang yếu tố V Leiden hay đột biến gen

prothrombin tăng nguy cơ sẩy thai liên tiếp gấp

antithrombin III và protein C không kết hợp sẩy

thai, tuy nhiên các bệnh này rất hiếm nên dữ liệu

nghiên cứu còn quá ít nên khó xác định mối

khảo sát bệnh tăng đông (thrombophilias) có

tính di truyền bao gồm yếu tố V Leiden, II

(prothrombin) đột biến gen và thiếu hụt protein S (khuyến cáo D)(36)

Các dữ liệu tiền cứu còn hạn chế và kết quả trái ngược nhau trong đánh giá vai trò theo dõi không điều trị trên kết cục trẻ sinh sống ở bệnh

Hiện tại chưa đủ chứng cứ để đánh giá hiệu quả của heparin trong thai kỳ ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp ở tam cá nguyệt thứ nhất kết hợp

Tuy nhiên, một số một số nghiên cứu đoàn hệ đã cho thấy dùng heparin hiệu quả vì có khả năng

nghiệm ngẫu nhiên tiền cứu, đã cho thấy hiệu quả của heprin trọng lượng phân tử thấp (enoxaparin) cải thiện trẻ sinh sống khi so với aspirin đơn độc (OR 15,5; 95% CI 7-34) ở phụ nữ

có sẩy thai liên tiếp muộn sau 10 tuần có mang yếu tố V Leiden hay prothrombin đốt biến gen

thai liên tiếp ở tam cá nguyệt thứ nhì có kết hợp với thrombophilias di truyền, điều trị heparin trong thai kỳ có cải thiện tỷ lệ trẻ sinh sống

Aspirin cũng đã thường được khuyến cáo sử dụng ở bệnh nhân thrombophilias di truyền Tuy nhiên, bệnh này gây tăng đông trực tiếp mà không can thiệp của tiểu cầu hay thông qua mất cân bằng trong thromboxane prostacycline Trong khi bệnh do yếu tố V Leiden đột biến, yếu

tố Va trở nên đề kháng với sụt giảm của protein C hoạt tính và do đó tăng tạo huyết khối trong lòng mạch lên 3-5 lần Đột biên gen Thrombin, G20210A đã cho thấy kết hợp tăng nồng độ prothrombin và tăng tạo cục máu đông lên 3 lần

Do đó, có thể aspirin không có vai trò trong điều trị bệnh này vì cơ chế tác động thông qua ức chế COX là enzyme có vai trò trong dòng thác đông máu Thực vậy, kết quả các nghiên cứu cho thấy heparin (enoxaparin) hiểu quả hơn aspirin trên kết cục trẻ sinh sống (86% so với 29%), do đó chưa đủ chứng cứ sử dụng aspirin đơn độc đối với bệnh nhân sẩy thai liên tiếp có hiện diện

Trang 10

Sẩy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân

Trong nghiên cứu chúng tôi có 21 trường

hợp không rõ nguyên nhân (chiếm 47%), tương

nhiên, chúng tôi đã không khảo sát các yếu tố

đông máu trong các bệnh lý thrombophilias di

truyền, các bệnh lý miễn dịch kiểu dị miễn do

điều kiện phòng xét nghiệm chưa có đủ, do đó

chúng tôi đã gộp các bệnh lý trên vào sẩy thai

không rõ nguyên nhân vì cách thức điều trị

tương tự nhau Trong phần bàn luận trên, cho

thấy hiệu quả của heparin cải thiện kết cục trẻ

sinh sống ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp ở tam cá

nguyệt thứ nhất và đặc biệt ở tam cá nguyệt thứ

nhì có liên quan đến bệnh thrombophilias di

truyền

Sẩy thai dị miễn, hệ thống miễn dịch mẹ

phản ứng chống lại phôi thai, làm tổn thương

nguyên bào nuôi thông qua cơ chế dị ghép, phản

ứng kiểu trực tiếp Cơ chế là do sự thiếu hụt các

yếu tố tiền làm tổ, kháng nguyên nguyên bào

nuôi có thể biểu hiện không thích hợp, các trình

diện kháng nguyên này và phân tử điều hòa

miễn dịch có thể bị phát hiện Giảm sản xuất

kháng thể ngăn chặn phản ứng gây độc tế bào do

đó có thể gây hại cho phôi, hiện diện các yếu tố

ngăn kháng thể kháng độc tế bào và tế bào gây

độc (NK cells) làm nguy hại cho nguyên bào

nuôi Các tế bào lympho đặc biệt của thai kỳ

không hiện diện, không hoạt động và tăng tế bào

Th1 sản xuất các cytokines (IL-2, IFN-γ, TNF –a)

thay vì Th2 sản xuất các IL-4, IL-10, IL-13 ở

những thai kỳ bình thường Tuy nhiên, vẫn chưa

đủ chứng cứ để thiết lập giả thuyết không tương

hợp HLA ở bố mẹ, thiếu kháng thể chống lại hiện

tượng gây độc tế bào lympho và do đó không

nên xét nghiệm thường qui các yếu tố này ở bệnh

nhân sẩy thai liên tiếp(36) Kể cả tìm tế bào NK

trong máu ngoại vi để đánh giá liên quan sẩy

thai liên tiếp cũng chưa được khuyến cáo thường

qui, vì NK cells trong máu ngoại vi có chức năng

khác biệt hẳn với các tế bào NK tử cung (uNK) có

vai trò trong sẩy thai(36) Một phân tích gộp kết

luận vẫn chưa đủ dữ kiện chứng minh mối liên

quan giữa tính đa hình của cytokine và sẩy thai

liên tiếp, cần nhiều nghiên cứu để có thể sử dụng

Các điều trị miễn dịch (parternal cell immunisation, third party donor leucocytes, trophoblast membranes) kể cả immunoglobulin tĩnh mạch và anti-TNF trước đây cho là hiệu quả

đố với các đối tượng này, các chứng cứ hiện tại cho thấy không cải thiện kết cục trẻ sinh sống, do

đó không khuyến cáo ở bệnh nhân này (khuyến

ta, các chứng cứ còn chưa đủ thuyết phục chúng tôi tạm chấp nhận các đối tượng này được xếp vào nhóm không rõ nguyên nhân và trong phác

đồ điều trị có sử dụng prednisone và progesterone có vai trò làm mù các đáp ứng miễn dịch kiểu dị nguyên

Aspirin liều thấp đã được báo cáo là không

hiệu quả trong dự phòng sẩy thai liên tiếp không

nhiên tiền cứu ở bệnh nhân này sử dụng aspirin liều thấp cho thấy không khác biệt tỷ lệ trẻ sinh sống và tần suất các biến chứng thai kỳ muộn khi

trong một nghiên cứu quan sát hồi cứu cũng cho thấy aspirin liều thấp không cải thiện kết cục trẻ sinh sống khi so với giả dược (OR 1,24; 95% CI 0,93-1,67) ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp giai đoạn sớm của thai kỳ (dưới 13 tuần vô kinh) Ngược lại, bệnh nhân có tiền căn sẩy thai muộn (sau 13 tuần) thì aspirin liều thấp có cải thiện rõ rệt tần suất trẻ sinh sống khi so với nhóm không điều trị (OR 1,88; 95% CI 1,04-3,37), tác giả giải thích có thể do sẩy thai quí II của thai kỳ có liên quan tình trạng tăng đông, tuy nhiên tác giả cũng không loại trừ bệnh thrombophilias di truyền trong

có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của aspirin ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân sau khi đã loại trừ bệnh thrombophilias di truyền, nhưng các tác giả nghi ngờ tính hiệu quả và an toàn của aspirin đối với

phân tích có hệ thống mới đây, cho thấy đối với sẩy thai liên tiếp đã loại trừ nguyên nhân kháng phospholipid thì aspirin liều thấp không cải

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w