1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật mới trong gây mê hồi sức bệnh nhân lớn tuổi

6 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 219,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết nghiên cứu với 48 trường hợp phẫu thuật, tuổi trung bình 71,58 ± 7,08, ASA III chiếm 1/3 tổng số. Hầu hết bệnh nhân mắc những bệnh nội khoa kèm theo bệnh cần phải phẫu thuật như: cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường...Bằng việc chuẩn bị bệnh nhân trước mổ chu đáo, áp dụng phối hợp linh hoạt các kỹ thuật tê tủy sống, tê khoang xương cùng, gây tê ngoài màng cứng và gây mê toàn diện với Sevofluran, Isofluran, tất cả các bệnh nhân đã vượt qua các cuộc mổ một cách an toàn.

Trang 1

Trương Thanh Hoàng*, Nguyễn Văn Chừng*, Bùi Ngọc Uyên Chi*, Phan Thị Hồ Hải**

TÓM TẮT

Nghiên cứu với 48 trường hợp phẫu thuật, tuổi trung bình 71,58±7,08, ASA III chiếm 1/3 tổng số Hầu hết bệnh nhân mắc những bệnh nội khoa kèm theo bệnh cần phải phẫu thuật như: cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường Bằng việc chuẩn bị bệnh nhân trước mổ chu đáo, áp dụng phối hợp linh hoạt các kỹ thuật tê tủy sống, tê khoang xương cùng, gây tê ngoài màng cứng và gây mê toàn diện với Sevofluran, Isofluran, tất cả các bệnh nhân đã vượt qua các cuộc mổ một cách an toàn Hon nữa, khi kết hợp gây tê ngoài màng cứng với gây mê toàn diện, chúng tôi đã giảm một cách đáng kể lượng thuốc mê sử dụng trong lúc phẫu thuật đồng thời giúp bệnh nhân giảm đau sau mổ một cách hiệu quả

SUMMARY

STUDYING TO APPLY SOME NEW TECHNIQUES IN ANESTHESIA

FOR ELDERLY PATIENTS

Truong Thanh Hoang, Nguyen Van Chung, Bui Ngoc Uyen Chi, Phan Thi Ho Hai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 34 – 39

In this study, 48 elderly patients were treated surgically, mean age was 71,58±7,08 years old, one-third ASA III Almost the patients were coexisting medical illesness, such as: arterial hypertension, ischemic myocardial diseases, COPD, diabetes Through carefully preanesthetic preperation and appropriate using in combined techniques: spinal, caudal, epidural blocks and general anesthesia with Sevofluran, Isofluran, all the patients were safely passed the operations Futher more, with the combined epidural and general anesthesia, we decreased dramatically inhalational anesthetics requirement and got better results in the post-operation pain relief

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dự đoán đến năm 2040, người lớn tuổi ≥ 65 tuổi

chiếm tỉ lệ khoảng 24% dân số thế giới, phải chi trả #

50% tổng chi phí y tế trên toàn thế giới Trong đó,

một nửa mắc những bệnh cần phải được điều trị

bằng phẫu thuật (PT)

Hiện nay tình hình kinh tế xã hội Việt Nam đang

phát triển, đời sống nhân dân và tình hình chăm sóc

sức khỏe cho người dân ngày càng tốt hơn, tuổi thọ

người VN ngày càng tăng Bệnh nhân (BN) lớn tuổi

cần đươc điều trị bằng PT, do đó cũng tăng

Tại bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí

Minh năm 2002:1225 trường hợp bệnh nhân ≥ 60 tuổi được điều trị bằng PT chiếm tỷ lệ 25,07% trong tổng số bệnh nhân được phẫu thuật Trong đó PT chương trình: 1205 trường hợp, chiếm tỷ lệ khoảng 91%

-Vấn đề cần phải đặt ra khi gây mê hồi sức (GMHS) cho BN lớn tuổi:

* Tình trạng suy giảm chức năng các cơ quan

* Bệnh lý kèm theo: bệnh mạch vành, cao huyết áp, suy tim, bệnh lý hô hấp mãn tính, tiểu đường, suy gan, suy thận

Đây là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao về

* ĐH Y Dược TPHCM

** BV ĐH Y Dược TPHCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

những tai biến, biến chứng xảy ra trong và sau PT

-Tiến bộ của y học nói chung & GMHS nói riêng

trong một vài thập niên gần đây đã giúp đỡ những

người làm công tác GMHS phòng ngừa, xử lý những

vấn đề khó khăn trong tiên lượng và điều trị tai biến,

biến chứng trong GM-PT cho bệnh nhân lớn tuổi

Mục tiêu tổng quát

Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích

nghiên cứu ứng dụng những kỹ thuật, dụng cụ, thuốc

men mới vào lĩnh vực GMHS cho bệnh nhân lớn tuổi

có hoặc không có bệnh lý kèm theo bệnh cần được

PT Qua đó cung cấp tài liệu phục vụ công tác giảng

dạy và điều trị bệnh nhân

Mục tiêu chuyên biệt:

2.1.Ứng dụng những kỹ thuật thăm dò chức

năng các cơ quan hô hấp và tuần hoàn để đánh giá

tình trạng bệnh nhân lớn tuổi trước PT Từ đó xác

định những tiêu chuẩn chuẩn bị bệnh nhân lớn tuổi

trước PT

2.2.Theo dõi đánh giá hiệu quả của những kỹ

thuật gây mê phối hợp gây tê hoặc gây mê đơn thuần

với Sevofluran, Isofluran trên BN lớn tuổi có bệnh lý

tim mạch kèm theo bệnh cần được PT

2.3.Theo dõi, đánh giá hiệu quả của kỹ thuật gây

tê ngoài màng cứng, gây tê tuỷ sống, gây tê khoang

xương cùng trên bệnh nhân lớn tuổi có bệnh lý hô

hấp kèm theo bệnh cần được phẫu thuật

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, can thiệp lâm sàng

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ≥ 60 tuổi điều trị PT Ngoại tổng quát

– Niệu – Phụ khoa tại khoa PT bệnh viện ĐHYD, có

hoặc không có bệnh lý kèm theo

Thời gian – địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 03/2003 đến tháng 11/2004 tại bộ môn

GMHS ĐHYD TPHCM và khoa PT- GMHS bệnh viện

ĐHYD TPHCM

Tiêu chuẩn chọn bệnh

-Không phân biệt phái tính -Bệnh nhân ≥ 60 tuổi được điều trị bằng PT chương trình hoặc cấp cứu

-Phân loại ASA II, III, IV

Phương tiện trang thiết bị

-Máy gây mê kèm máy thở có thể sử dụng Sevofluran, Isofluran

-Monitor đo SpO2, ETCO2, M, HA, nhịp thở, ECG -Đèn soi thanh quản, bóng ambu, mặt nạ và các dụng cụ gây mê cấp cứu thông thờng khác

-Bộ dụng cụ gây tê ngoài màng cứng (NMC), gây tê tuỷ sống, gây tê khoang xương cùng

-Máy kích thích thần kinh cơ -Thuốc mê hơi Isofluran, Sevofluran -Thuốc tiền mê, thuốc dẫn đầu gây mê, thuốc dãn cơ, thuốc tê các loại sử dụng thường xuyên tại phòng mổ

Các bước tiến hành

Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ

-Hô hấp: đánh giá chức năng hô hấp trước mổ qua khám lâm sàng, X quang ngực, đo chức năng hô hấp

-Tuần hoàn: đánh giá tình trạng tim mạch bệnh nhân trước mổ qua khám lâm sàng, ECG, siêu âm tim Nếu cần phải được điều trị ổn định tình trạng tim mạch trước PT

-Khám tiền mê đánh giá tình trạng tổng quát bệnh nhân trước mổ

-Bệnh nhân được chuẩn bị trước mổ thích hợp với từng loại PT

-Đến khoa PT, BN được đặt catheter truyền dịch và các phương tiện theo dõi không xâm lấn

Bệnh nhân tại phòng mổ

-Bệnh nhân phẫu thuật vùng bụng, hậu môn – trực tràng có kèm suy giảm chức năng hô hấp: áp dụng kỹ thuật tê tuỷ sống, tê ngoài màng cứng liên tục hoặc tê khoang xương cùng Thuốc tê sử dụng

Trang 3

mạch vành kèm theo: áp dụng kỹ thuật GM toàn diện

duy trì isofluran

-Bệnh nhân PT vùng bụng, dự kiến thời gian PT

> 1 h có bệnh lý mạch vành kèm theo: áp dụng kỹ

thuật GM toàn diện duy trì sevofluran kết hợp gây tê

NMC

-Đặt catheter đo CVP, HA động mạch xâm lấn

nếu có chỉ định

-Theo dõi đánh giá diễn tiến trong lúc PT: M, HA,

SpO2, ECG, CVP, phân tích khí máu động mạch (nếu

có chỉ định)

-Sau khi phẫu thuật hoàn thành, đánh giá lại các

dấu hiệu sinh tồn và tác dụng thuốc dãn cơ Điều

chỉnh lại liều lượng thuốc giảm đau cho vào khoang

NMC

Chuyển bệnh nhân về phòng hồi sức:

- Theo dõi đánh giá tình trạng bệnh nhân trong

những giờ đầu tiên ở hậu phẫu

-Thở O2, thở máy hoặc rút ống NKQ khi có chỉ

định

-Điều chỉnh liều lượng thuốc giảm đau theo tình

trạng bệnh nhân

-Bổ sung các kỹ thuật hồi sức cấp cứu, thuốc

men hồi sức nếu cần thiết

-Theo dõi đánh giá tình trạng bệnh nhân trong

ngày đầu hậu phẫu

Thu thập xử lý số liệu

Dữ liệu thu nhận được xử lý bằng các phép toán

thống kê

KẾT QUẢ

Từ tháng 3 năm 2003 đến tháng 11 năm 2004

chúng tôi đã chọn lựa và thực hiện gây mê – phẫu

thuậât được 48 trường hợp với những đặc điểm sau:

Phái tính

Nam: 18/48 trường hợp - 37,50% Nữ: 30/40

trường hợp – 62,50%

tuổi

TUỔI 60 - 70 71 - 80 >81

Số Trường Hợp 21/48 21/48 6/48

Đánh giá ASA

ASA II: 32/48 trường hợp – 66,66% ASA III: 16 trường hợp – 33,34%

Bệnh phẫu thuật

Bệnh phẫu thuật Số trường hợp-tỷ lệ %

K gan, K đầu tuy 4/48 – 8,33%

K đại tràng – trực tràng 4/48 – 8,33% Bệnh lý hậu môn trực tràng (túi

thừa, lồng trực tràng- ống hậu môn, trĩ )

6/48 – 12,50% Nhiễm trùng đường mật, sỏi mật

Bướu tiền liệt tuyến 5/48 – 10,41%

Khác (bướu giáp, thoát vị bẹn, tràn dịch tinh mạc) 6/48 – 12,50%

Phương pháp vô cảm

Phương pháp vô cảm Số trường hợp - tỷ lệ%

NKQ SEVOFLURAN + TÊ NMC 6/48 – 12,52%

NKQ ISOFLURAN + TÊ NMC 14/48 – 29,16%

NKQ ISOFLURAN 7/48 – 14,58%

TE ÂNMC, TTS, CAUDAL 20/48 – 41,66%

MASK THANH QUẢN 1/48 – 2,08%

Bệnh kèm theo

Bệnh kèm theo Số trường hợp - tỷ lệ%

Thiếu máu cơ tim, NMCT cũ 15/48 – 31,25% Cao huyết áp 15/48 – 31,25% Suy tim, hở van tim 4/48 – 8,33% Rối loạn chức năng các buồng tim 20/48 – 41,66% Rối loạn nhịp tim 2/48 – 4,16% Bệnh mãn tính đường hô hấp 11/48 – 22,91%

Suy thận 2/48 – 4,16% Tiểu đường 2/48 – 4,16% Viêm gan 1/48 – 2,08%

Số trường hợp mắc 2 bệnh kèm theo trở lên

SỐ LƯỢNG BỆNH KÈM THEO 2 3

Số Trường Hợp - Tỷ Lệ% 15/48 –

31,25%

7/48 – 14,58%

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật ngắn nhất: 20 phút

Thời gian phẫu thuật dài nhất: 320 phút

Thời gian phẫu thuật trung bình: 115±70,66 phút

Thời gian phẫu thuật (phút) Số trường hợp - tỷ lệ%

<60 8/48 – 16,66%

61 - 90 19/48 – 39,59%

91 -120 3/48 – 6,25%

121 – 150 5/48 – 10,42%

151 – 180 4/48 – 8,33%

>181 9/48 – 18,75%

Những biến chứng xãy ra trong phẫu

thuật

BIẾN CHỨNG SỐ TRƯỜNG HỢP - TỶ LỆ %

Mạch, huyết áp dao động > 30% 19/48 – 39,58%

Rối loạn nhịp tim 2/48 – 4,16%

Lạnh run 1 – 2,08%

Diễn tiến sau phẫu thuật

Thời gian rút ống NKQ: ngắn nhất 10 phút, dài

nhất: 60 phút, trung bình 20 - 30 phút

Mổ lại: 1 trường hợp – 2,08%

Đau sau mổ: 14 trường hợp – 29,16%

Nôn, buồn nôn: 12 trường hợp – 25%

Thở máy sau mổ: không

Tử vong: không

BÀN LUẬN

Trong 48 trường hợp phẫu thuật cho bệnh nhân

cao tuổi, đa số là phái nữ, tuổi trung bình 71, tuổi cao

nhất 87, với 1/3 xếp loại ASA III cho thấy

- Phái nữ có tuổi thọ cao hơn nam giới nên khả

năng mắc bệnh cần phải điều trị bằng phẫu thuật

nhiều hơn Điều này cũng phù hợp với y văn trong và

ngoài nước

- Trên bệnh nhân lớn tuổi, phần lớn mắc những

bệnh nặng như ung thư đường tiêu hóa, gan mật, cần

phải thực hiện phẫu thuật lớn, thời gian kéo dài

Ngoài ra, với thời gian ngày càng chồng châùt lên

tuổi đời, người bệnh còn mắc thêm những bệnh nội

khoa mãn tính làm ảnh hưởng không nhỏ lên chất

lượng cuộc sống, cũng như khả năng sống còn khi

phải chịu đựng stress lớn như là những cuộc đại phẫu, gây mê kéo dài Đây là một bài toán không dễ, đặt cho những người làm công tác gây mê hồi sức với yêu cầu phải giải quyết thông minh, khéo léo và hiệu quả Thật vậy, với tình trạng bệnh nặng, suy giảm chức năng đa cơ quan kéo dài, nay phải chịu đựng cuộc đại phẫu với thời gian kéo dài, đòi hỏi phải: Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ tốt: phối hợp với bác sĩ nội khoa chẩn đoán và điều trị những bệnh lý kèm theo sao cho tình trạng bệnh nhân tạm ổn định có thể chịu đựng được cuộc phẫu thuật Bằng việc kết hợp khám lâm sàng, đo ECG và siêu âm tim doppler màu, chúng tôi có thể phát hiện sớm những bệnh lý mạch vành, khảo sát chuyển động các vùng trên tim, đánh giá chức năng các buồng tim Qua đo chức năng hô hấp, chúng tôi có thể đánh giá được mức độ của tình trạng chức năng phổi trên những bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), suy giảm chức năng hô hấp Từ đó chúng tôi có thể phối hợp với phẫu thuật viên quyết định tính chất thời điểm của cuộc phẫu thuật và quan trọng hơn là quyết định phương pháp vô cảm cho bệnh nhân

• Chọn lựa một phương pháp vô cảm đúng đắn, phù hợp với tình trạng bệnh nhân, tính chất của cuộc phẫu thuật và cơ sở vật chất trang thiết bị gây mê hồi sức, tình trạng tay nghề người làm công tác gây mê hồi sức là một việc vô cùng quan trọng Trong nghiên cứu của chúng tôi:

Sevofluran là thuốc mê được lựa chọn cho những bệnh nhân lớn tuổi có mắc bệnh lý mạch vành kèm theo bệnh cần phải phẫu thuật Đây là một thuốc mê mới có đặc điểm:

- Giảm co bóp cơ tim nhẹ

- Ít giảm kháng lực mao mạch và huyết áp động mạch

- Không có tình trạng “ăn cắp máu” mạch vành, CSS (Coronary Steal Syndrom)

Tuy nhiên do tính chất tạo compound A trong hệ thống gây mê đường vòng có sử dụng Sodalime, nên chúng tôi không thể áp dụng kỹ thuật gây mê với lưu lượng thấp (Low flow anesthesia) Điều này là một trở ngại khá lớn vì thuốc mê rất đắt tiền và sẽ gây ô

Trang 5

vùng bụng, chúng tôi phối hợp thêm gây tê ngoài

màng cứng liên tục với Marcaine và Fentanyl nhằm

mục đích giảm nồng độ sử dụng Sevofluran trong

duy trì gây mê, qua đó, chúng tôi kết hợp giảm đau

sau mổ cho bệnh nhân Kết quả là chúng tôi đã giảm

được một cách đáng kể nồng độ Sevofluran khi duy

trì mê Thật vậy, nếu gây mê toàn diện với Sevofluran

có phối hợp thêm gây tê ngoài màng cứng, chúng tôi

chỉ phải duy trì nồng độ Sevofluran từ 0,8-1% với lưu

lượng O2 2 l/ph, giảm ½ - ²/3 lượng thuốc sử dụng so

với liều lượng thông thường Đồng thời chúng tôi có

thể duy trì giảm đau sau mổ rất tốt qua catheter ngoài

màng cứng

Chúng tôi cũng đạt kết quả tương tự khi dùng

Isofluran cho những trường hợp bệnh nhân không có

bệnh lý mạch vành kèm theo Những trường hợp

không thể phối hợp gây tê ngoài màng cứng, chúng

tôi duy trì gây mê đơn thuần với Isofluran bằng kỹ

thuật gây mê lưu lượng thấp và cũng đạt được yêu

cầøu an toàn trong gây mê – phẫu thuật

Với những bệnh nhân có hội chứng tắc nghẽn,

hội chứng hạn chế nặng ở phổi cần phải phẫu thuật

vùng bụng, chúng tôi áp dụng kỹ thuật gây tê tủy

sống hoặc gây tê ngoài màng cứng liên tục với

Marcaine phối hợp thêm Fentanyl và chúng tôi đã

giúp bệnh nhân vượt qua những cuộc phẫu thuật một

cách an toàn

Trong những trường hợp phẫu thuật vùng hậu

môn- trực tràng, đặc biệt trong phẫu thuật Delorme

bệnh nhân được mổ trong tư thế nằm sấp hoàn toàn,

chúng tôi gây tê khoang xương cùng với Lidocaine có

pha thêm Fentanyl khoảng 5μg/ml và ghi nhận được:

- Trong lúc phẫu thuật: giảm đau và dãn cơ vòng

hậu môn rất tốt, sinh hiệu rất ổn định

- Sau phẫu thuật: giảm đau tốt trong ngày đầu

tiên ở hậu phẫu

Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi cũng

ghi nhận một số trường hợp tụt huyết áp đáng kể xảy

ra trong những trường hợp sau:

- Cuộc phẫu thuật lớn, kéo dài quá lâu (4,5 giờ

- Gây tê ngoài màng cứng liên tục:

• Khi pha nồng độ Fentanyl > 3 μg/ml nguy

cơ tụt huyết áp tăng lên tỉ lệ thuận với liều Fentanyl

• Khi bơm liều đầu tiên: trong những trường hợp già yếu suy kiệt hoặc mắc nhiều bệnh kèm theo, chỉ cần liều đầu tiên với Lidocaine 2% 10ml cũng đủ gây tụt huyết áp khi kết hợp dẫn đầu gây mê Tuy nhiên chúng tôi hoàn toàn có thể kiểm soát được huyết áp bằng các thuốc vận mạch thông thường như Ephedrin, Dopamine

Rút kinh nghiệm, trong những trường hợp sau, chúng tôi giảm tối đa trong liều bolus đầu tiên khi gây tê ngoài màng cứng và liều thuốc dẫn đầu gây mê Điều này đã giúp chúng tôi hạn chế được biến chứng này

Trong nghiên cứu có một trường hợp rò tá tràng tái phát phải mổ lại ngay trong giai đoan hậu phẫu Trong lần phẫu thuật sau, chúng tôi không đặt lại catheter ngoài màng cứng do vừa rút ra trước đó vài ngày Sau mổ, bệnh nhân than phiền là phẫu thuật lần sau gây đau, mệt nhiều và hồi phục sức khỏe chậm hơn lần trước Điều này cho thấy lợi điểm của phương pháp gây tê ngoài màng cứng phối hợp gây mê toàn diện trên người bệnh lớn tuổi

KẾT LUẬN

Từ những kiến thức được thầy cô truyền đạt cộng với một ít sáng tạo nho nhỏ khi đem áp dụng linh hoạt vào thực tế lâm sàng, chúng tôi đã đạt được kết quả: mang lại sự an toàn cho người bệnh cao tuổi và niềm vui cho gia đình bệnh nhân Đây là niềm hạnh phúc vô biên cho người thầy thuốc nói chung và những người làm công tác gây mê hồi sức nói riêng Chúng tôi viết nghiên cứu này như một lời tri ân gửi đến thầy cô, nay đã được gọi là người cao tuổi, những người đã dìu dắt, dạy bảo chúng tôi được như hôm nay; đồng thời cũng để chia sẻ niềm vui và kinh nghiệm với bạn bè, đồng nghiệp

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

TÀI LIỆU THAM KHẢO 6 Nguyễn Văn Chừng Fentanyl, Lidocain, Bupivacain Sử dụng lâm sàng thuốc gây mê hồi sức Nhà xuất bản

Y học 2004:148-151, 203-206, 210-3

Sinatra RS., Swanidoss CP Spinal & Epidural

opioids Principles & practice of anesthesiology 2 nd

edition Mosby 1998: 1511-46

7 Nguyễn Văn Chừng Gây tê ngoài màng cứng Gây Mê

Hồi Sức Nhà xuất bản Y học 2004:92-104

8 Nguyễn Văn Chừng Thuốc tê và các phương pháp gây tê Gây Mê Hồi Sức Nhà xuất bản Y học 2004:79-91

bệnh nhân trước mổ Gây Mê Hồi Sức Nhà xuất bản Y học 2004:1-8

Printince Hall International1996:743-8

epidural and caudal blocks Clinical anesthesiology 2nd

edition Printince Hall International 1996:211-44

of medical therapeutics, 31 st edition Lippicott William

&Wilkin 2004:72-89

10 Schwartz D - Anne Carol Goldberg Ischemie heart

disease The Washington manual of medical therapeutics, 31 st edition Lippicott William & Wilkin 2004: 92-6

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w