1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 18‐60 tuổi tại huyện Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa

7 110 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 348,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường ở phụ nữ huyện Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa trong độ tuổi từ 18 đến 60 và khảo sát mối liên quan giữa tuổi, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, tình trạng kinh tế xã hội và tiền căn sản phụ khoa với phết tế bào cổ tử cung bất thường.

Trang 1

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ 18‐60 TUỔI   TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA 

Trần Thị Liên Hương*, Lê Hồng Cẩm** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Phết tế bào cổ tử cunglà một xét nghiệm thường quy, được sử dụng để phát hiện sớm những biến 

đổi bất thường ở cổ tử cung trước khi những tế bào này chuyển thành tế bào ung thư. Mặc dù tầm soát ung thư 

cổ tử cung bằng phết tế bào cổ tử cung đã được đưa vào chương trình khám phụ khoa định kỳ tại địa phương  nhưng số phụ nữ tham gia tầm soát ung thư cổ tử cung còn rất thấp. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường ở phụ nữ huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa 

trong độ tuổi từ 18 đến 60 và khảo sát mối liên quan giữa tuổi, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, tình trạng kinh tế 

xã hội và tiền căn sản phụ khoa với phết tế bào cổ tử cung bất thường. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở những phụ nữ có gia đình từ tháng 3 

đến tháng 5/2011 tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Có 1.176 phụ nữ được khám phụ khoa và làm phết tế  bào cổ tử cung với que Spatula d’Ayre. Tiêu bản phết tế bào cổ tử cung được gửi về khoa Giải phẫu bệnh, bệnh  viện Hùng Vương, nhuộm theo phương pháp Papanicolaou, đọc và phân loại kết quả theo hệ thống Bethesda. 

Kết quả: Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường là 0,2% với 1 trường hợp ASC‐H và 1 trường hợp LSIL.  Kết luận: Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường thấp, không xác định được mối liên quan giữa tuổi, tuổi 

quan hệ tình dục lần đầu, tình trạng kinh tế xã hội và tiền căn sản phụ khoa với tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất  thường vì số lượng mẫu phết bất thường thu được chỉ có 2 trường hợp. Cần nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn. 

Từ khóa: phết tế bào cổ tử cung bất thường 

ABSTRACT 

THE PREVALENCE OF ABNORMAL PAP SMEARS AND ASSOCIATED FACTORS  

AMONG WOMEN AGED 18‐60 IN KHANH VINH – KHANH HOA PROVINCE 

Tran Thi Lien Huong, Le Hong Cam 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 1 ‐ 7 

Background: Pap smear is a cytologic screening test used to detect early precancerous changes of the cervix 

so  that  these  conditions  can  be  managed  or  treated  to  prevent  disease  progression  due  to  invasive  cancer.  Although cervical cancer screening with cytology smear is implemented in gynecological routine examinations,  the number of women attending this procedure is still low. 

Objectives:  To  determine  the  prevalence  of  abnormal  pap  smears  among  women  aged  18  ‐  60  in  Khanh 

Vinh, Khanh Hoa and the relationship between age, age of first sex, socioeconomic status, history of obstetrics and  gynecology and abnormal pap smears. 

Methods:  Across‐sectional  study  was  conducted  among  married  women  from  March  to  May,  2011  in 

Khanh Vinh, Khanh Hoa Province. There were1176 participating women who were vaginal examined and taken  papsmear  with  dʹAyre  Spatula.  Papsmear  templates  were  sent  to  the  Pathology  Department  of  Hung  Vuong  Hospital, stained with Papanicolaou method, read and sorted according to Bethesda system. 

* Bệnh viện Từ Dũ    ** Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP HCM 

Trang 2

Results:  The prevalence of abnormal cervical cytology smears is 0.2%, including 1 case of ASC‐H and 1 

case of LSIL. 

Conclusions: The prevalence of abnormal Pap test in women aged 18‐60 in Khanh Vinh, Khanh Hoa is low. 

No  relationship  between  age,  age  of  first  sex,  socioeconomic  status,  history  of  obstetrics  and  gynecology  and  abnormal cervical cytology smears was found due to small number of abnormal cases. 

Key words: abnormal cervical cytology smear 

MỞ ĐẦU 

Trên thế giới, ung thư cổ tử cung đứng hàng 

thứ  2  trong  các  loại  ung  thư  ở  phụ  nữ  và  là 

nguyên  nhân  gây  tử  vong  hàng  đầu  trong  các 

bệnh lý phụ khoa ác tính. Tuy nhiên, ung thư cổ 

tử cung có thể phòng ngừa được vì có thời gian 

tiền ung thư kéo dài, chương trình tầm soát sẵn 

có và các biện pháp điều trị tổn thương tiền ung 

thư  khá  hiệu  quả.  Có  nhiều  phương  pháp  tầm 

soát  ung  thư  cổ  tử  cung,  trong  số  đó  có  xét 

nghiệm phết tế bào cổ tử cung (PTBCTC)(2).  

PTBCTC  là  một  xét  nghiệm  thường  quy, 

được sử dụng để phát hiện sớm những biến đổi 

bất thường ở cổ tử cung trước khi những tế bào 

này  chuyển  thành  tế  bào  ung  thư(7).  Đây  là 

phương  pháp  được  lựa  chọn  trong  bước  đầu 

tầm  soát  với  ưu  thế  đơn  giản,  dễ  thực  hiện,  rẻ 

tiền,  hiệu  quả,  phù  hợp  với  kinh  tế  các  nước 

đang phát triển.  

Huyện Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa 

là một huyện vùng sâu vùng xa với đa số đồng 

bào là người dân tộc thiểu số (74,6%). Chương 

trình  tầm  soát  ung  thư  cổ  tử  cung  bằng 

PTBCTC  đã  được  triển  khai  tại  địa  phương 

cách nay 4 năm, nhưng chỉ tập trung tại một số 

xã. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác 

định tỷ lệ PTBCTC bất thường ở phụ nữ tại địa 

phương này. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  cắt  ngang  được  thực  hiện  từ 

tháng 3 đến tháng 5 năm 2011 tại huyện Khánh 

Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. 

Có 1176 phụ nữ được chọn vào nghiên cứu 

theo phương pháp chọn mẫu cụm xác suất tỉ lệ 

theo  cỡ  (PPS).  Đã  loại  khỏi  nghiên  cứu  những 

phụ  nữ  đang  mang  thai,  có  quan  hệ  tình  dục, 

thụt rửa âm đạo, đặt thuốc âm đạo  trong  vòng 

24  giờ  trước  đó,  đang  ra  huyết  âm  đạo,  viêm  nhiễm đường sinh dục cấp, có bệnh lý cấp cứu  sản phụ khoa hoặc đã mổ cắt tử cung hoàn toàn,  không đồng ý tham gia nghiên cứu. Sau khi ký  vào bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu, đối  tượng  nghiên  cứu  được  phỏng  vấn  và  khám  phụ khoa, lấy mẫu PTBCTC theo phương pháp 

cổ  điển.  Bệnh  phẩm  được  cố  định  ngay  và  gửi 

về khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Hùng Vương 

Papanicolaou, đọc và phân loại kết quả theo hệ  thống  Bethesda.  Những  trường  hợp  kết  quả  phết tế bào tử cung bất thường sẽ được báo lại  cho địa phương và mời đối tượng đến bệnh viện  tỉnh để khám và điều trị tiếp. 

Phân phối tần suất của các biến số định danh và  biến  số  thứ  tự,  các  biến  số  định  lượng  sẽ  được  trình  bày  bằng  trung  bình  và  độ  lệch  chuẩn  trong kết quả mô tả đặc điểm dân số nghiên cứu 

và  kết  quả  PTBCTC  bất  thường.  Sử  dụng  phương  pháp  phân  tích  đơn  biến  để  phát  hiện  mối liên quan giữa các biến độc lập với PTBCTC  bất thường. Kiểm định bằng phép kiểm Chi bình  phương (2) và Fisher nếu n < 5. 

KẾT QUẢ 

Nghiên  cứu  được  thực  hiện  trong  thời  gian 

từ tháng 3/2011 đến tháng 5/2011 tại 14 trạm y tế 

xã, thị trấn của huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh  Hòa. 1176 đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu  được chọn vào nghiên cứu. 

Tuổi  trung  bình  của  đối  tượng  tham  gia  nghiên cứu là 33,8 ± 9,9. Nhóm tuổi từ 26 đến 35  chiếm tỷ lệ cao nhất (37,9%). 

Số  lượng  phụ  nữ  người  dân  tộc  thiểu  số  chiếm  ưu  thế  với  tỷ  lệ  66,4%,  trong  đó,  tỷ  lệ  người Raglay cao nhất (44,7%). 

Trang 3

mẫu nghiên cứu với tỷ lệ 74,9%. 

Có  0,9%  phụ  nữ  có  tiền  căn  gia  đình  mắc 

ung thư cổ tử cung. 

Bảng 1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi (n = 1176)

Dân tộc (n = 1176)

Nghề nghiệp

(n = 1176)

Trí thức 111 9,4

Làm ruộng 881 74,9

Học vấn (n = 1176)

Cao đẳng, đại

Tiền căn gia đình mắc

ung thư cổ tử cung

(n=1176)

Tuổi  quan  hệ  tình  dục  lần  đầu  trong  mẫu 

nghiên cứu thấp nhất là 14 và cao nhất là 39, giá 

trị trung bình là 20,2 ± 3,8. 

87  phụ  nữ  có  tiền  căn  ra  huyết  âm  đạo  sau 

giao hợp, chiếm tỷ lệ 7,4%. 

Số lần sanh trung bình: 2,6 ± 1,7. Người sanh 

nhiều nhất là 12 lần. 468 phụ nữ sanh trên 2 lần, 

chiếm tỷ lệ 39,8%. 

Số bạn tình của đối tượng nghiên cứu nhiều 

nhất là 5 người. 8,3% phụ nữ trong mẫu nghiên 

cứu có từ 2 bạn tình trở lên. 

79,9% số phụ nữ trong mẫu nghiên cứu đã 

từng  khám  phụ  khoa.  434  phụ  nữ  khám  phụ 

khoa  định  kỳ  6‐12  tháng/lần,  chiếm  tỷ  lệ 

36,9%.  20,1%  phụ  nữ  chưa  từng  khám  phụ  khoa lần nào. 

Bảng 2. Đặc điểm về tiền căn sản phụ khoa của đối 

tượng nghiên cứu 

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Tình trạng hôn nhân (n=1176)

Sống cùng chồng 1111 94,5 Góa, ly thân, ly dị 65 5,5 Tuổi quan hệ tình

dục lần đầu (n=1176)

Tiền căn ra huyết

âm đạo sau giao hợp (n=1176)

Tuổi mang thai lần đầu(n=1155)

Tuổi sanh lần đầu (n=1147)

Số lần sanh (n=1176)

Số bạn tình của đối tượng nghiên cứu (n=1176)

Số bạn tình của chồng đối tượng nghiên cứu (n=1176)

Không có ý kiến 29 2,5

Từng khám phụ khoa (n=1176)

6 – 12 tháng/lần 434 36,9

≥ 2 năm/lần hoặc

Địa điểm khám phụ khoa (n=940)

Bệnh viện huyện 48 5,1 Bệnh viện tuyến

Phòng khám tư 36 3,8

Từng được làm PTBCTC (n=1176)

PTBCTC gần nhất

PTBCTC gần nhất

Kết quả PTBCTC từng làm (n=390)

Bình thường 390 100 Bất thường 0 0

Có  390  phụ  nữ  từng  được  làm  PTBCTC,  chiếm tỷ lệ 33,1% và tất cả đều có kết quả bình  thường. Trong số này, đa số phụ nữ có lần làm  PTBCTC cuối cùng cách đây hơn 1 năm (22,5%).  66,9% chưa từng được làm PTBCTC. 

Trang 4

Đặc điểm lâm sàng cổ tử cung Tần số

(n=1176) Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ phụ nữ có cổ tử cung trơn  láng  trong 

nghiên cứu (64,5%) cao hơn tỷ lệ phụ nữ có cổ tử 

cung có tổn thương (35,5%). 

Bảng 4. Kết quả PTBCTC 

(n=1176) Tỷ lệ (%)

Âm tính đối với tổn thương tân sinh

trong biểu mô CTC và tổn thương

ác tính

1174 99,8

Tỷ  lệ  PTBCTC  bất  thường  là  0,2%.  Có  1 

trường  hợp  ASC‐H  và  1  trường  hợp  LSIL,  mỗi 

trường hợp chiếm tỷ lệ 0,1%. 

BÀN LUẬN 

Nghiên  cứu  được  thực  hiện  trên  1176  phụ 

nữ.  Kết  quả  có  2  trường  hợp  PTBCTC  bất 

thường, chiếm tỷ lệ  0,2%,  trong  đó  có  1  trường 

hợp ASC‐H và 1 trường hợp LSIL. Số lượng quá 

nhỏ nên không thể thực hiện thống kê phân tích 

và đưa ra kết luận về mối liên quan giữa một số 

yếu tố và tỷ lệ PTBCTC bất thường. 

Về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 

Trong  mẫu  nghiên  cứu,  phụ  nữ  có  độ  tuổi 

thấp nhất là 18, cao nhất là 60. Tuổi trung bình là 

33,8 ± 9,9, nhỏ hơn so với tuổi trung bình trong 

nghiên  cứu  của  Lê  Thị  Kim  Tuyến  tại  huyện 

Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh là 38,7 (p > 

0,05)(6). Nhóm tuổi 26‐35 chiếm tỷ lệ 37,9%, phù 

hợp  với  nghiên  cứu  của  Phạm  Thị  Ngọc  Xuân 

(35,8%)(11).  Tuy  nhiên,  trong  nghiên  cứu  của  tác 

giả này, nhóm tuổi 35 – 45 chiếm tỷ lệ cao nhất  (40,2%)  trong  khi  nhóm  tuổi  này  trong  nghiên  cứu của chúng tôi chỉ chiếm 23,0%. Lê Thị Kim  Tuyến  cũng  ghi  nhận  phụ  nữ  trong  nhóm  tuổi  36‐45  tham  gia  nghiên  cứu  đông  nhất  (32,2%). 

Tỷ  lệ  phụ  nữ  trên  45  tuổi  được  chúng  tôi  ghi  nhận (14,9%) phù hợp với Phạm Thị Ngọc Xuân  (14,6%)  nhưng  thấp  hơn  so  với  Lê  Thị  Kim  Tuyến (27,7%). Có lẽ vì thế kết quả phết tế bào  bất  thường  của  chúng  tôi  thấp  hơn  các  tác  giả  trên do ung thư cổ tử cung thường gặp ở phụ nữ  lớn tuổi. 

Về  thành  phần  dân  tộc,  trong  nghiên  cứu  này, phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 66,4%,  cao hơn dân tộc Kinh (33,6%). Trong đó, phụ nữ  dân  tộc  Raglay  chiếm  đa  số  (44,7%).  Các  thành  phần dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm tỷ lệ dưới  10%.  Phân  bố  thành  phần  dân  tộc  trong  mẫu  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù  hợp  với  phân bố dân tộc chung của huyện Khánh Vĩnh  với 74,6% là đồng bào dân tộc thiểu số.  

Về  nghề  nghiệp,  tỷ  lệ  phụ  nữ  làm  ruộng  là  cao  nhất  trong  mẫu  nghiên  cứu  (74,9%),  phù  hợp  với  phân  bố  thành  phần  nghề  nghiệp  tại  huyện Khánh Vĩnh với đa số là làm ruộng, tỷ lệ  phụ nữ nội trợ thấp (8,7%), tỷ lệ trí thức là 9,4%.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  có  điểm  tương  đồng  về  thành  phần  nghề  nghiệp  với  nghiên  cứu  của  Phạm  Thị  Ngọc  Xuân  tại  các  xã  vùng  sâu  huyện  Thủ  Thừa,  Long  An,  có  lẽ  do  2  địa  điểm nghiên cứu có cùng đặc điểm địa lý, đều là  vùng sâu vùng xa, nơi điều kiện kinh tế còn thấp 

và  nông  lâm  nghiệp  vẫn  là  nền  tảng.  Trong  nghiên  cứu  này,  tỷ  lệ  phụ  nữ  làm  ruộng  là  88,5%,  nội  trợ  chiếm  10,4%  và  chỉ  có  1,1%  là  công nhân viên(11). So với nghiên cứu của Lê Thị  Kim  Tuyến(6)  tại  huyện  Bình  Chánh  thành  phố 

Hồ Chí Minh với tỷ lệ nông dân là 14,5% trong  khi phụ nữ nội trợ chiếm tỷ lệ khá cao (45,2%),  thành phần phụ nữ làm ruộng trong nghiên cứu  của  chúng  tôi  thấp  hơn.  Có  lẽ  do  Bình  Chánh  tuy  trước  đây  là  vùng  đất  nông  nghiệp  nhưng  trong thời gian trở lại đây, quá trình đô thị hóa 

đã  tiến  nhanh  làm  diện  tích  đất  nông  nghiệp 

Trang 5

giảm dần và phụ nữ tại đây không còn  gắn  bó 

nhiều  với  công  việc  đồng  áng.  Trong  khi  đó 

Khánh  Vĩnh  vẫn  là  một  huyện  miền  núi  thuần 

nông, biểu hiện đô thị hóa tại đây vẫn còn ít và 

hạn hẹp nên số lượng phụ nữ làm nông nghiệp 

tại đây chiếm đa số cũng là điều dễ hiểu. 

Nhóm  phụ  nữ  có  trình  độ  học  vấn  cấp  1,  2 

trong nghiên cứu chiếm tỷ lệ 67,8%. Nhóm phụ 

nữ có trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học chỉ 

chiếm 6,6%. Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ mù chữ trong 

nghiên  cứu  khá  cao  (23,4%).  So  với  nghiên  cứu 

của tác giả Huỳnh Văn Nhàn(4) tại Bù Đăng, Bình 

Phước  với  14,6%  phụ  nữ  mù  chữ  thì  tỷ  lệ  của 

chúng  tôi  cao  hơn  nhưng  không  có  ý  nghĩa 

thống  kê  (p  >  0,05).  Với  nghiên  cứu  của  Phạm 

Thị  Ngọc  Xuân(11)  (15%  phụ  nữ  mù  chữ)  thì  sự 

khác biệt so với nghiên cứu của chúng tôi cũng 

không có ý nghĩa (p > 0,05). Tỷ lệ mù chữ và cấp 

1 được chúng tôi ghi nhận là 51,5%, tương đồng 

với kết quả của Lê Thị Kim Tuyến (45,7%)(6). Học 

vấn  thấp,  nghề  nghiệp  sẽ  ảnh  hưởng  đến  thu 

nhập  kinh  tế,  từ  đó  người  phụ  nữ  sẽ  ít  có  hội 

được chăm sóc y tế. 

Về kết quả PTBCTC bất thường 

Hai  trường  hợp  PTBCTC  bất  thường  là  ở  2 

phụ  nữ  37  và  38  tuổi,  dân  tộc  Raglay  và  Tày, 

trình độ học vấn cấp 1 và 2, đều làm ruộng, từng 

khám phụ khoa nhưng chưa được làm PTBCTC. 

Như  vậy  nếu  chỉ  khám  phụ  khoa  đơn  thuần 

không  được  làm  PTBCTC  sẽ  bỏ  sót  những 

trường hợp tiền ung thư vì trong giai đoạn này 

bệnh chưa có triệu chứng lâm sàng. Vì vậy thực 

hiện  PTBCTC  trong  khám  phụ  khoa  là  hết  sức 

cần thiết. 

So sánh kết quả PTBCTC trong nghiên cứu 

của  chúng  tôi  và  các  nghiên  cứu  khác  trong 

nước cho thấy tỷ lệ PTBCTC bất thường chúng 

tôi  ghi  nhận  tại  huyện  Khánh  Vĩnh  đều  thấp 

hơn  so  với  các  tác  giả  khác.  Cụ  thể,  tỷ  lệ 

PTBCTC  bất  thường  trong  nghiên  cứu  này 

thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với 

tỷ  lệ  của  tác  giả  Huỳnh  Văn  Nhàn  (2,2%)  khi 

nghiên  cứu  tại  huyện  Bù  Đăng,  tỉnh  Bình 

Phước  năm  2002  trên  625  phụ  nữ(4),  tác  giả 

Phạm Thị Ngọc Xuân (1,4%) ghi nhận trên 625  phụ  nữ  tại  huyện  Thủ  Thừa,  tỉnh  Long  An  năm  2005(11),  tác  giả  Phan  Hồng  Vân  (6,0%)  nghiên  cứu  năm  2007  trên  1126  phụ  nữ  tại  huyện  Hòa  Thành,  tỉnh  Tây  Ninh(12),  tác  giả  Bùi  Thị  Hồng  Nhu  (1,9%)  khảo  sát  trên  1615  phụ nữ quanh mãn kinh tại thành phố Hồ Chí  Minh năm 2008(1) và tác giả Lê Thị Kim Tuyến  (1,5%)  nghiên  cứu  tại  huyện  Bình  Chánh,  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  năm  2009  trên  1244  phụ nữ(6). 

Các nghiên cứu khác tiến hành tại bệnh viện  hoặc  phòng  khám  cũng  cho  thấy  tỉ  lệ  PTBCTC  bất  thường  cao  hơn  so  với  kết  quả  nghiên  cứu  của chúng tôi. Nghiên cứu năm 1998 của tác giả 

Vũ Thị Nhung tại Phòng khám Phụ khoa bệnh  viện  Hùng  Vương  ghi  nhận  tỷ  lệ  PTBCTC  bất  thường  là  1,2%(15).  Tác  giả  Vũ  Bá  Quyết  nghiên  cứu tại Viện Bảo vệ bà mẹ trẻ em năm 1993 trên  10.000  phụ  nữ  báo  cáo  tỷ  lệ  bất  thường  là  1,4%(14). Tỷ lệ PTBCTC bất thường trong nghiên  cứu của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu này 

có thể do các tác giả trên chọn vào mẫu những  phụ  nữ  trong  khoảng  tuổi  rộng  hơn,  từ  18  đến 

84  tuổi.  Bên  cạnh  đó,  phụ  nữ  đến  khám  phụ  khoa tại bệnh viện thường vì những triệu chứng  bệnh lý hơn là vì lý do đến khám phụ khoa định 

kỳ. Do vậy, tỷ lệ bất thường của các phết tế bào 

có thể cao hơn nghiên cứu trong cộng đồng của  chúng tôi. Mặt khác, theo thời gian, các chương  trình tầm soát ung thư CTC đã được triển khai  rộng hơn và có hiệu quả hơn dẫn đến tỷ lệ bất  thường  ở  các  nghiên  cứu  trong  thời  gian  gần  đây có thể thấp hơn so với các nghiên cứu trước. 

So  với  các  nghiên  cứu  nước  ngoài,  tỷ  lệ  PTBCTC  bất  thường  trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p 

<  0,05).  Năm  2003,  Jamal  tiến  hành  một  nghiên  cứu  với  mẫu  khá  lớn  gồm  22.089  phụ  nữ  tại  vùng Tây Ả Rập Saudi thu được tỷ lệ PTBCTC  bất  thường  là  1,6%(5).  Nghiên  cứu  của  Fadwa  J.Altaf năm 2006 cũng tại Ả Rập Saudi trên 5132  phụ nữ cho thấy tỷ lệ PTBCTC khá cao là 4,7%(3). 

Trang 6

Trong  2  trường  hợp  PTBCTC  bất  thường 

được  ghi  nhận  trong  nghiên  cứu,  có  1  trường 

hợp  ASC‐H  (0,09%)  và  1  trường  hợp  LSIL  kèm 

nhiễm HPV (0,09%). Tương tự tỷ lệ PTBCTC bất 

thường nói chung, tỷ lệ LSIL của chúng tôi cũng 

thấp  hơn  kết  quả  báo  cáo  của  các  tác  giả  khác 

trong nước. Đặc biệt, các nghiên cứu khác không 

thấy ghi nhận ASC‐H. Trong nghiên cứu của tác 

giả  Huỳnh  Văn  Nhàn,  tỷ  lệ  ASCUS,  AGUS  là 

1,6%, LSIL và HSIL chiếm tỷ lệ lần lượt là 0,5% 

và  0,2%(4).  Phạm  Thị  Ngọc  Xuân  ghi  nhận  tỷ  lệ 

ASCUS,  LSIL  và  HSIL  tại  Thủ  Thừa,  Long  An 

năm 2006 lần lượt là 1,0%,  0,3%  và  0,4%(11).  Tác 

giả Bùi Thị Hồng Nhu nghiên cứu trên các phụ 

nữ  quanh  tuổi  mãn  kinh  tại  thành  phố  Hồ  Chí 

Minh năm 2008 ghi nhận tỷ lệ ASCUS, LSIL và 

HSIL lần lượt là 1,1%, 0,3% và 0,4%(1). Tỷ lệ này 

được Lê Thị Kim Tuyến báo cáo từ nghiên cứu 

năm  2009  tại  Bình  Chánh,  thành  phố  Hồ  Chí 

Minh  là  0,8%,  0,3%  và  0,1%(6).  Tác  giả  Phan 

Hồng Vân báo cáo nghiên cứu năm 2007 với tỷ 

lệ ASCUS và AGUS khá cao (4,53%), tỷ lệ LSIL 

(1,24%)  cũng  cao  hơn  so  với  các  nghiên  cứu 

khác(12).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chỉ  có  tổn 

thương trong biểu mô mức độ thấp  và  ASC‐H, 

không có tổn thương trong biểu mô mức độ cao 

cũng  như  ung  thư  tế  bào  gai  hay  tế  bào  tuyến. 

Do vậy kết quả này có sự khác biệt với kết quả 

của các tác giả trên. Sự khác biệt này có thể do 

các  tác  giả  trên  tiến  hành  nghiên  cứu  ở  những 

địa  phương  chưa  thực  hiện  tầm  soát  ung  thư 

CTC. Tại huyện Khánh Vĩnh, chương trình tầm 

soát  ung  thư  và  các  tổn  thương  tiền  ung  thư 

CTC đã có hiệu quả tốt, góp phần làm giảm tỷ lệ 

các tổn thương trong biểu mô CTC mức độ cao 

cũng như ung thư CTC. 

So sánh với các nghiên cứu nước ngoài, sự phân 

bố  kết  quả  PTBCTC  bất  thường  trong  nghiên 

cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của 

tác giả Malkawi SR trong gần 4 năm tại Jordan 

và  được  báo  cáo  năm  2004  với  tỷ  lệ  ASCUS, 

AGUS  là  0,8%  và  LSIL  là  0,2%,  không  có  HSIL 

và ung thư CTC. Đây có thể là kết quả khả quan 

của  việc  tầm  soát  ung  thư  CTC  tại  đây(7).  Các 

nghiên  cứu  khác  của  Thistle  PJ  và  Mohammad  Shoaib  Khan  lại  không  ghi  nhận  ASCUS  và  AGUS  nhưng  có  HSIL  và  ung  thư  tế  bào  gai  CTC với tỷ lệ lần lượt là 3,6% và 2,0%(9,13). Riêng  trong  nghiên  cứu  của  Thistle(13)  ở  Zimbabwe  năm  1997,  tỷ  lệ  LSIL  rất  cao  (12%)  có  thể  do  Zimbabwe là một nước nghèo, đời sống kinh tế 

xã hội còn ở mức thấp, đây là một yếu tố nguy 

cơ  của  ung  thư  và  các  tổn  thương  tiền  ung  ở  CTC. Hơn nữa, nghiên cứu này được thực hiện  năm 1997, có thể vào thời điểm cách đây hơn 10  năm, chương trình tầm soát ung thư CTC tại đất  nước  này  còn  hạn  chế  và  chưa  được  quan  tâm  đúng mức. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu cắt ngang trên 1176 phụ nữ 

từ  18  đến  60  tuổi  tại  huyện  Khánh  Vĩnh,  tỉnh  Khánh  Hòa,  chúng  tôi  đã  thu  được  những  kết  quả sau: 

‐ Tỷ lệ PTBCTC bất thường là 0,2%. 

‐  Có  2  trường  hợp  PTBCTC  bất  thường,  trong  đó  có  1  trường  hợp  ASC‐H  và  1  trường  hợp LSIL 

‐ Nghiên cứu không xác định được mối liên  quan  giữa  tuổi,  tuổi  quan  hệ  tình  dục  lần  đầu,  tình  trạng  kinh  tế  xã  hội  và  tiền  căn  sản  phụ  khoa  với  tỷ  lệ  PTBCTC  bất  thường  vì  số  lượng  mẫu  PTBCTC  bất  thường  thu  được  chỉ  có  2  trường hợp. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bùi Thị Hồng Nhu (2008), Tầm soát ung thư cổ tử cung ở phụ nữ 

quanh tuổi mãn kinh tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003, Luận 

văn Thạc sĩ y học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Trường  Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1‐53. 

2 Charles  R.B.B.,  Frank  W.L.,  Barbara  M.B,  William  N.P.H,  Douglas  W.L.,  Roger  P.S.,  (2010),  “Cervical  Neoplasia  and 

Carcinoma”,  Obstetrics and Gynecology,  6th   Edition,  Published 

in  collaboration  with  ACOG,  Lippincott  William  &  Wilkins,  pp375‐387. 

3 Fadwa J.A., FRCPC, FIAC (2006), “Cervical cancer screening 

with  pattern  of  Pap  smear  ‐  Review  of  multicenter”,  Saudi 

Med J 2006, Vol 10, pp.1498‐1502. 

4 Huỳnh  Văn  Nhàn  (2002),  Tầm  soát  ung  thư  cổ  tử  cung  trong 

cộng đồng dân cư huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Luận văn tốt 

nghiệp  Chuyên  khoa  cấp  II,  Bộ  Giáo  dục  Đào  tạo,  Bộ  Y  tế,  Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1‐50. 

Trang 7

5 Jamal, A.A., Al‐Maghrabi, J.A., (2003), “Profile of Pap  smear 

Cytology in the Western region of Saudi Arabia”, Saudi Med J 

2003; 24, p. 1225‐1229. 

6 Lê Thị Kim Tuyến (2008), Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường 

và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 18‐60 tuổi tại huyện Bình Chánh 

năm 2008, Luận văn Thạc sĩ y học, Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Y 

tế, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1‐54. 

7 Malkawi,  S.R.,  Abu  Hazeem,R.M.,  Hajjat,  B.M.,  et  al,  (2004), 

“Evaluation  of  cervical  smear  at  King  Hussein  Medical 

Center, Jordan, over three and a half years”, La revue de sant 

de la Mediterrane orientale, Vol 10, No. 4/5. 

8 Manos M. M., Kinney W. K., Hurley L. B. et al, “Identifying 

women  with  cervical  neoplasia  using  HPV  DNA  testing  for 

equivocal Pap results”, JAMA 1999, 281(17), pp.1605‐1610. 

9 Mohammad,S.K., et al, (2005), “Pap smear Screening for Pre‐

cancerous Conditions of the Cervical Cancerʺ, Pak J Med Res, 

Vol 44, No.3. 

10 Ostor, A.G., (1993), “Cervical Dysplasia and Invasive Cervical 

Cancer”, Int J Gyne Path 1993 (12), pp.186‐192. 

11 Phạm Thị Ngọc Xuân (2006), Tầm soát ung thư cổ tử cung ở phụ 

nữ các xã vùng sâu huyện Thủ Thừa, Luận văn Thạc sĩ y học, Bộ 

Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Trường Đại học Y Dược thành 

phố Hồ Chí Minh, tr. 1‐49. 

12 Phan Hồng Vân (2007), Tỷ lệ tổn thương tiền ung thư – ung thư 

cổ  tử  cung  ở  phụ  nữ  25‐65  tuổi  tại  huyện  Hòa  Thành  tỉnh  Tây  Ninh, Luận văn Thạc sĩ Y học, Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Y tế, 

Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1‐50. 

13 Thistle, P.J., Chirenje, Z.M, (1997), “Cervical cancer screening 

in a rural population of Zimbabwe”, Cent Afr Med, 43 (9), pp.  246‐251. 

14 Vũ  Bá  Quyết  (1993),  Kết  quả  phát  hiện  ung  thư  cổ  tử  cung  bằng tế bào học ‐ soi cổ tử cung ‐ giải phẫu bệnh lý, Luận văn  tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, Bộ Giáo dục và Đào tạo,  Trường Đại học Y khoa Hà Nội. 

15 Vũ  Thị  Nhung,  Trần  Thị  Vân  Anh,  Trương  Công  Việt,  Nguyễn  Trọng  Hậu  (1998),  “Phát  hiện  sớm  tổn  thương  tiền  ung thư tại phòng khám phụ khoa bệnh viện Hùng Vương”, 

Số đặc biệt chuyên đề ung bướu học, Y học thành phố Hồ Chí  Minh, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Phụ  bản 3, tập 2, tr.228‐234. 

  Ngày nhận bài báo      : 30/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo  : 02/12/2013  Ngày bài báo được đăng    : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm