1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kiến thức về sơ cứu tai nạn bỏng của một số nhóm công nhân làm việc trong điều kiện có nguy cơ cháy nổ cao

6 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 401,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá kiến thức của nhóm nguy cơ cao đối với sơ cấp cứu tai nạn bỏng. Bài viết điều tra cắt ngang 674 công nhân làm việc trong lĩnh vực cứu hỏa, dầu khí và điện lực về sơ cấp cứu sau bỏng.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ SƠ CỨU TAI NẠN BỎNG

CỦA MỘT SỐ NHÓM CÔNG NHÂN LÀM VIỆC TRONG

ĐIỀU KIỆN CÓ NGUY CƠ CHÁY NỔ CAO

Nguy n Nh Lâm*; H Th Xuân H ơng*

Chu Anh Tu n*; Tr n Quang Trung**

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá kiến thức của nhóm nguy cơ cao đối với sơ cấp cứu tai nạn bỏng Đối tượng

và phương pháp: điều tra cắt ngang 674 công nhân làm việc trong lĩnh vực cứu hỏa, dầu khí và

điện lực về sơ cấp cứu sau bỏng Nội dung điều tra bao gồm đặc điểm đối tượng, biện pháp sơ

cứu sau bỏng và nguồn thông tin có được Kết quả: chỉ có 29,54% đối tượng trả lời đúng trên

75% số câu hỏi 86,05% biết sử dụng nước sạch để làm lạnh bề mặt vết bỏng Nhóm trẻ tuổi, nam giới và những người đã được tập huấn về sơ cứu bỏng có nhận thức cao hơn đáng kể so với nhóm còn lại (p < 0,001) Có sự khác biệt giữa nhận thức của đối tượng thuộc các ngành nghề khác nhau (p < 0,01) Nguồn thông tin chủ yếu từ phương tiện truyền thông và trường học

chiếm 8% Kết luận: kiến thức của công nhân có nguy cơ cao về sơ cứu bỏng còn nhiều hạn

chế Cần có các lớp tập huấn để nâng cao kiến thức cho nhóm đối tượng này

* Từ khóa: Bỏng; Sơ cứu; Nhóm nguy cơ cao

Evaluation of Knowledge of First-aid Treatment for Burn Wounds

in Workers Working in High Risk of Fire

Summary

Objectives: To evaluate knowledge of first aid treatment for burn wounds of high risk groups Subjects and methods: A cross-sectional survey was conducted on 674 workers including fire fighters, employers working in electric power and oil industry The contents of survey focused on demographic criteria, first aid measurement for burn accidents and source of information Results: Only 29.54% of the participants had right answer of more than 75% of total questions 86.05% of participants knew how to use cool fresh water to reduce the temperature of the burn wound In addition, higher knowledge level was significantly seen in a sub-group of younger, male workers as well as who took part in training courses (p < 0.001) There was difference in awareness of levels among sub-groups of employers (p < 0.01) Information source mostly came from multimedia, only 8% from school Conclusion: Knowledge of first aid treatment of high risk workers was significantly limited It is necessary to conduct further training courses for this groups

* Key words: Burn; First-aid treatment; High risk of fire

* Viện Bỏng Lê Hữu Trác

** Học viện Quân y

Ngày nh n bài: 03/12/2016; Ngày ph n bi n đánh giá bài báo: 10/01/2017

Ngày bài báo đ c đăng: 20/01/2017

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Công tác sơ cấp cứu ngay sau bỏng

bao gồm các bước đơn giản như đưa nạn

nhân ra khỏi vùng nguy hiểm, loại bỏ tác

nhân bỏng, đảm bảo chức năng sống, làm

lạnh bề mặt vùng bỏng, bù nước điện giải,

ủ ấm và gọi sự trợ giúp của nhân viên y tế

Thực tế cho thấy, mức độ nặng hay nhẹ

của tổn thương bỏng cũng như thành

công của điều trị bỏng không chỉ phụ

thuộc vào hiệu quả điều trị tại các trung

tâm bỏng mà còn phụ thuộc nhiều vào

công tác sơ cứu ngay sau bỏng Tuy nhiên,

qua thực tế tiếp nhận điều trị bệnh nhân

bỏng, đặc biệt trong các vụ bỏng có nhiều

nạn nhân, các biện pháp sơ cứu thường

không được thực hiện đầy đủ, bị bỏ qua,

thậm chí còn áp dụng các biện pháp sai

dẫn đến làm nặng thêm tổn thương bỏng,

làm tăng nguy cơ tử vong Công nhân

làm việc trong các nhà xưởng, ngành

nghề có nguy cơ cao đối với tai nạn bỏng

như điện lực, dầu khí, nhân viên cứu hỏa,

việc phổ biến kiến thức cơ bản cho các

đối tượng này có vai trò quan trọng trong

xử lý sơ cấp cứu tai nạn bỏng Nghiên cứu

này nhằm: Đánh giá kiến thức của các đối

tượng nguy cơ cao về sơ cứu tại chỗ nạn

nhân bỏng nhằm đưa ra biện pháp can

thiệp nâng cao kiến thức và kỹ năng sơ

cấp cứu bỏng của những đối tượng này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiên cứu trên 674 cán bộ

công nhân viên của các ngành có nguy

cơ cao đối với bỏng gồm điện lực, dầu

khí, cứu hỏa đang công tác tại một số tỉnh

thành trong cả nước từ tháng 1 - 2015

đến tháng 9 - 2015 Điều tra thông qua

bảng hỏi bao gồm 11 câu hỏi về kiến thức

sơ cứu tai nạn bỏng và 01 câu hỏi về nguồn thông tin Các tiêu chí đánh giá bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp (dầu khí, điện lực, cứu hỏa), kiến thức về sơ cứu khi bị bỏng bao gồm: làm lạnh, thời điểm và phương pháp áp dụng, che phủ vết bỏng, ủ ấm, cách sơ cứu trong các tình huống hỏa hoạn, nguồn thông tin có được từ đâu Số liệu thu thập sau khi được phân nhóm, lập bảng, biểu đồ, tính giá trị trung bình, χ2 để

so sánh giữa các biến số xác định mối liên quan giữa đặc điểm đối tượng điều tra như tuổi, giới, nghề nghiệp đối với kiến thức về sơ cấp cứu sau bỏng Số liệu được xử lý trên phần mềm Intercool Stata 11.0 Giá trị p < 0,05 được coi có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Đặc điểm của nhóm đối tượng

được khảo sát (n = 674)

Đặc

Giới tính

Học vấn

Nghề nghiệp

Tuổi

Trung bình 35,77 ± 8,50

Trong số 674 người trả lời các câu hỏi điều tra, nam nhiều hơn nữ (82,79% so với 17,21%), đa số học hết lớp 12 (98,37%), công nhân điện lực chiếm 49%, công nhân lĩnh vực dầu khí 33%; còn lại là nhân viên cứu hỏa

Trang 3

* Kết quả trả lời đúng các nội dung

điều tra (n = 674):

Sử dụng nước mát sơ cứu sau bỏng:

580 người (86,05%); thời điểm tối ưu áp

dụng nước mát: 466 người (69,14%);

thời gian sử dụng nước mát: 294 người

(43,62%); sử dụng nước trong thời tiết

lạnh: 342 người (50,74%); sự cần thiết

phải che phủ vết bỏng: 574 người (85,16%);

sự cần thiết của ủ ấm nạn nhân: 528 người (78,34%); phương pháp thoát khỏi nhà tầng cháy: 482 người (71,51%); tránh ngạt khói khi cháy nhà tầng: 550 người (81,60%); sử dụng cầu thang khi cháy nhà tầng: 447 người (66,32%); xử trí tình huống bỏng lửa: 245 người (36,35%); khả năng tự khỏi của vết bỏng: 506 người (75,07%)

Biểu đồ 1: Tỷ lệ trả lời đúng trung bình theo nghề nghiệp

Kiến thức của nhóm công nhân dầu khí tốt nhất trong số 3 nhóm nghề nghiệp (74,36%

số câu hỏi được trả lời đúng), tiếp đến nhóm công nhân ngành điện lực (67,58%) Lực lượng cứu hỏa chỉ đạt 56% số câu hỏi trả lời đúng

Bảng 3: Tỷ lệ trung bình số câu hỏi trả lời đúng theo giới, tuổi, tập huấn (%)

Giới tính

0,009

Lứa tuổi

0,001

Tập huấn

0,001

Tỷ lệ trung bình của số câu hỏi được trả lời đúng của đối tượng nam cao hơn nữ (68,60 ± 15,70% so với 60,01 ± 18,42%; p < 0,01) Lứa tuổi từ 20 - 39 có nhận thức tốt hơn nhóm còn lại (tỷ lệ các câu hỏi được trả lời đúng là 69,30 ± 16,6% so với 60,40 ± 15,00%; p < 0,01) Tỷ lệ trả các câu hỏi được trả lời đúng ở nhóm đối tượng đã qua tập huấn sơ cấp cứu bỏng trước đó cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm còn lại (83,64 ± 8,54% so với 59,51 ± 13,07%, p < 0,01)

Trang 4

Biểu đồ 2: Kết quả tổng hợp điều tra kiến thức

Kết quả tổng hợp điều tra cho thấy 199 đối tượng (29,54%) điều tra trả lời đúng trên 75% số câu hỏi, 94 người được hỏi (13,94%) trả lời đúng chưa đạt một nửa số câu hỏi điều tra

Biểu đồ 3: Nguồn gốc thông tin có được (n = 674)

Nguồn cung cấp nhiều nhất là truyền thông (42%) và các hình thức kết hợp (47%), chỉ có 8% từ trường học

BÀN LUẬN

Kiến thức của cộng đồng nói chung và

của nhóm đối tượng nguy cơ cao có vai

trò quan trọng, thậm chí quyết định hiệu quả

của việc tự cứu, cứu lẫn nhau, góp phần

giảm thiểu mức độ nặng của tổn thương

cũng như nguy cơ tử vong sau bỏng Theo các thông báo, kiến thức của cộng đồng về sơ cứu tai nạn bỏng còn nhiều hạn chế [2, 8] Wallace H.J và CS (2013) điều tra trên 2.602 người lớn tại một câu lạc bộ thể thao về sơ cấp cứu bỏng thấy

Trang 5

tỷ lệ có kiến thức đầy đủ 30 - 50% tùy

theo tác nhân bỏng [9] Nghiên cứu của

Graham H.E (2011) đánh giá kiến thức về

sơ cứu ban đầu khi bị bỏng giữa các bậc

cha mẹ ở Nam Yorkshire (Anh) cho thấy:

73% biết cần rửa vết bỏng dưới nước

mát và 92% che phủ vết thương bằng

băng gạc thích hợp, chỉ < 40% cha mẹ

được hỏi sẽ loại bỏ quần áo và đồ trang

sức nóng và 35% làm mát vết bỏng đủ

thời gian yêu cầu [4]

Bazargani H.S và CS (2013) điều tra

trên bệnh nhân bỏng thấy: phần lớn cho

rằng việc đến được cơ sở y tế là tốt nhất,

đồng thời sử dụng nước làm lạnh vết

bỏng sẽ gây hại cho tổn thương bỏng, sử

dụng các thuốc dân gian có tác dụng

giảm đau nhanh, dự phòng nhiễm khuẩn,

nhanh liền vết bỏng và dự phòng sẹo

bỏng Rất ít người biết cách dập lửa và

thoát khỏi đám cháy cho bản thân và

người khác, đa phần cho rằng bỏng vùng

ngực, bỏng điện là nặng nhất và nguy

hiểm nhất Trong nghiên cứu của Hsiao M

và CS (2007) điều tra kiến thức của học

sinh, sinh viên tại Campuchia về sơ cấp

cứu bỏng: 36% có kiến thức về dự phòng

và sơ cấp cứu bỏng, 13% trả lời dùng

nước để làm lạnh vết bỏng, 7% biết cách

dập lửa trên người bằng lăn trên mặt đất

Nhiều trường hợp sử dụng kem đánh

răng (18%), băng vết bỏng ngay (8%)

hoặc gọi trợ giúp (7%) mà không dùng

nước [6] Harvey L.A và CS (2011) thông

báo kết quả điều tra về kiến thức sơ cứu

bỏng tại Úc cho thấy 82% sử dụng nước

mát làm lạnh vết bỏng, tuy nhiên chỉ 9%

sử dụng trong 20 phút, rất ít người trả lời

cần giữ ấm cho nạn nhân và các thông tin

có được là từ sách báo (42%) và internet

(33%) [5] Đánh giá kiến thức của người nhà bệnh nhân bỏng tại bệnh viện của Anh, nhóm nghiên cứu của Davies M và CS (2013) thông báo chỉ có 32% số người được hỏi có kiến thức đầy đủ về sơ cấp cứu bỏng, mức độ hiểu biết không liên quan chặt chẽ đến thành phần xã hội, thu nhập và tuổi [3]

Tại Việt Nam, nghiên cứu trên 118 bệnh nhân bỏng tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định, Vũ Mạnh Độ và CS báo cáo chỉ có 21,9% số trường hợp sơ cứu đúng, 18,6% bệnh nhân không được sơ cứu [1] Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và CS (2013), khảo sát 200 đối tượng tham gia điều tra kiến thức sơ cứu bỏng cho thấy 40,5% người dân có kiến thức đạt về sơ cứu bỏng nhiệt 38,7% người dân có kiến thức đúng về làm lạnh vết thương 15% người dân biết cần băng bó/che phủ tạm thời vết thương [2] Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung điều tra kiến thức về

sơ cấp cứu bỏng của nhóm đối tượng nguy cơ cao gồm điện lực, cứu hỏa, dầu khí Kết quả phản ánh tình trạng chung là kiến thức sơ cứu còn hạn chế, đặc biệt trong các tình huống kết hợp

Một điều đáng chú ý là kiến thức có được đa phần từ phương tiện thông tin đại chúng, không phải từ trường học, đây

là thông tin hữu ích cho các trường phổ thông để bổ sung chương trình đào tạo kỹ năng sống cho học sinh Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh và CS cho thấy kiến thức sơ cứu khi bị bỏng của người dân biết nhiều nhất thông qua bạn bè/người thân/những người xung quanh (46%), sau

đó đến đài/báo/tivi (36%) [2] Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Độ và CS cũng cho thấy chỉ có 10,8% nguồn thông tin từ trường học [1]

Trang 6

Vai trò của công tác tập huấn, đào tạo

về sơ cấp cứu cũng được nhiều nghiên

cứu đánh giá theo chiều hướng tích cực

Theo Wallace H.J Chang, tỷ lệ trả lời đúng

cao hơn 15% ở nhóm đã được tập huấn

về sơ cấp cứu bỏng trong vòng 5 năm

(chiếm khoảng 50% số người được hỏi)

và phần lớn những người chưa từng

được tham gia khóa học sơ cấp cứu bỏng

không có kiến thức về sơ cấp cứu bỏng,

chỉ khoảng 15% có kiến thức tốt, tuy nhiên

chỉ 9,4% biết thực hành làm lạnh vết bỏng

đúng yêu cầu [9] Nhóm nghiên cứu của

Davies M và CS (2013) thông báo tỷ lệ

nhận thức cao hơn ở nhóm đã đào tạo

về sơ cấp cứu (70% tổng số người được

đào tạo có nhận thức tốt), phân tích hồi

quy đa yếu tố cũng cho thấy đào tạo

về sơ cấp cứu là yếu tố duy nhất ảnh

hưởng nhận thức về sơ cấp cứu bỏng [3]

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết

quả tương tự, nhóm đã được tập huấn

có tỷ lệ trả lời đúng cao hơn đáng kể

nhóm chưa qua lớp tập huấn khoảng 24%

(p < 0,001)

KẾT LUẬN

Kết quả điều tra trên 674 công nhân

ngành cứu hỏa, điện lực, dầu khí cho thấy

chỉ có 29,54% trả lời đúng trên 75% số

câu hỏi Kiến thức về sơ cứu bỏng ở nhóm

đã được tập huấn cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với nhóm còn lại (83,64%

so với 59,51%, p < 0,01) Nguồn thông tin

cung cấp nhiều nhất là truyền thông, trong

khi từ trường phổ thông chỉ chiếm 8%

Cần có những chương trình can thiệp nhằm

nâng cao kiến thức sơ cấp cứu tai nạn bỏng cho cộng đồng, đặc biệt, các đối tượng nguy

cơ cao về bỏng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Mạnh Độ và CS Nhận xét chăm sóc

sơ cứu bỏng ban đầu người bệnh bỏng đến khám và điều trị tại Khoa Chấn thương, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định 10 - 2006 đến

08 - 2007 Luận văn Thạc sỹ 2007

2 Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và CS Thực

trạng công tác sơ cấp cứu và điều trị tai nạn lao động nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp trọng điểm Việt Nam Tạp chí Y học Thực hành 2013, tháng 6

3 Davies M, Maguire S, Okolie C et al

How much do parents know about first aid for burns Burns 2013, Vol 39, pp.1083-1090

4 Graham H.E, Bache S.E, Muthayya P et al

Are parents in the UK equipped to provide adequate burns first aid? Burns 2012, 38 (3), pp.438-443

5 Harvey L.A, Barr M.L et al A

population-based survey of knowledge of first aid for burns in New South Wales Med J 2011, August,

195 (8), pp.465-468

6 Hsiao M, Tsai B, UK P, Jo H et al What

do kids know: a survey of 420 grade 5 students

in Cambodia on their knowledge of burn prevention and first-aid treatment Burns 2007,

33 (3), pp.347-51

7 Mahoney Eric J, David T, Harrington et al

Lessons learned from a nightclub fire: Institutional Disaster Preparedness The Journal

of Trauma Injury, Infection and Critical Care

2004, 58 (3), pp.487-491

8 Nguyen N.L, Gun R, Ryal P The

importance of immediate cooling - a case series of childhood burns in Vietnam Burns

2002, 28 (2), pp.173-176

9 Wallace H.J, O’Neill T.B, Wood F.M

Determinants of first aid knowledge: cross-sectional study Burns Vol 39, pp.1162-1169

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w