1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Rò động mạch cảnh xoang hang do chấn thương và can thiệp nội mạch cấp cứu

10 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả việc áp dụng can thiệp nội mạch trong điều trị rò động mạch cảnh xoang hang trực tiếp sau chấn thương và trình bày những trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang cần can thiệp cấp cứu.

Trang 1

RÒ ĐỘNG MẠCH CẢNH XOANG HANG DO CHẤN THƯƠNG

VÀ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU

Trần Chí Cường*, Trần Triệu Quốc Cường*, Võ Tấn Sơn**, Huỳnh Hồng Châu**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả việc áp dụng can thiệp nội mạch trong điều trị rò động mạch cảnh

xoang hang trực tiếp sau chấn thương và trình bày những trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang cần can thiệp cấp cứu

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tổng số 80 bệnh nhân được chẩn đoán rò động mạch cảnh xoang

hang sau chấn thương đầu được điều trị nội mạch bít lỗ rách tại bệnh viện ĐHYD TPHCM, trong khoảng thời gian: từ tháng 10/2004 đến tháng 9/2007 Đây là nghiên cứu tiền cứu, cắt ngang

Kết quả nghiên cứu: Trong số 80 ca rò trực tiếp: 97,5% sau chấn thương đầu do TNGT, 2,5% sau chấn

thương do tai nạn sinh hoạt Các triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất: ù tai, âm thổi ở mắt 96.3%, lồi mắt 87.5%,

đỏ mắt, sung huyết kết mạc 85%, liệt vận nhãn 56.3%, mù mắt 12.5%, chảy máu mũi họng nặng 2,5%, xuất huyết dưới nhện 1,25% Lỗ rò được bít hoàn toàn chiếm 97.5%.Biến chứng liệt nữa người 1.25% Đặc biệt chúng tôi điều trị cấp cứu 10 trường hợp dò động mạch cảnh xoang hang nặng: kèm vỡ động mạch cảnh chảy máu mũi họng 2 ca, xuất huyết dưới nhện 1 ca, mù mắt tiến triển nhanh 2 ca, giả phình trong xoang bướm dọa

vỡ 3 ca, giàm tri giác do trào ngược tĩnh mạch nông võ não 2 ca

Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị mới, với tỷ lệ

thành công cao, ít tai biến, là phương pháp nên được lựa chọn đầu tiên để điều trị rò động mạch cảnh xoang hang

ABSTRACT

ENDOVASCULAR AND EMERGENCY TREATMENT OF TRAUMATIC CAROTID CAVERNOUS FISTULAS: REVIEW 80 CONSECUTIVE CASES

Tran Chi Cuong, Tran Trieu Quoc Cuong, Vo Tan Son, Huynh Hong Chau

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 233 - 240

Objectives: To evaluate the results of endovascular and emergency treatment of patients having traumatic

carotid-cavernous fistulas (CCF)

Methods: A prospective study, from October 2004 to October 2007 in University Medical Center of HCM

city, eighty consecutive patients underwent endovascular embolization procedure treatment of traumatic carotid-cavernous fistulas

Results: Among 80 traumatic CCF, 97.5% suffered from head trauma traffic accident, 2.5% resulted from

others trauma The most common symptoms were orbital bruit 96.3%, proptosis 87,5%, chemosis 85%, abducens palsy 56.3%, visual loss 12.5%, severe nose and throat bleeding 2.5%, subarachnoid hemorrhage 1.25%

The fistulas were successfully occluded in 97.5% The neurological complication rate (hemiparesis) was 1.25% Especially we have performed successfully 10 emergency procedures for severe tramatic CCF accompanied with: severe nose and throat bleeding causes by rupture ICA pseudoaneurysm in 2 cases, subarachnoid hemorrhage in 1 case, rapid progressive visual loss and blind in 2 cases, unrupture pseudoaneurysm ICA in sphenoid sinus in 3 cases, neurological deficit causes by cortical vein reflux and venous congestion in 2 cases

* Phân khoa Ngoại Thần Kinh BV ĐHYD TP HCM

Trang 2

Conclusion: On the basis of these results, we conclude that Endovascular therapy provides a high

rate of fistula obliteration with low complication rate and is the best initial procedure to treat Carotid Cavernous Fistulas

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rò động mạch cảnh xoang hang là sự thông

nối bất thường từ động mạch cảnh qua xoang

tĩnh mạch hang (xoang hang) Sự thông nối này

có thể là trực tiếp do rach thành động mạch cảnh

trong, đoạn đi trong xoang hang hay gián tiếp

qua các nhánh động mạch màng cừng của động

mạch cảnh trong hoặc cảnh ngoài Hậu quả của

sự thông nối bất thường này gây ứ trệ dẫn lưu

của xoang hang và cả các tĩnh mạch đổ về xoang

hang Rò động mạch cảnh xoang hang trực tiếp

hay gặp sau chấn thương đầu gây xé rách thành

động mạch cảnh trong, đoạn đi trong xoang

hang, hoặc do vỡ túi phình động mạch cảnh

trong ở đoạn này, cũng có thể xuất hiện sau các

thủ thuật vùng sàn sọ cạnh xoang hang và động

mạch cảnh Đối với rò động mạch cảnh xoang

hang gián tiếp đa số là khởi phát tự phát, nữ mắc

bệnh nhiều hơn nam, một số ít khởi phát sau

mang thai và sanh con như theo ghi nhận của

Walker và Allegre

Đa số các trường hợp rò động mạch cảnh

xoang hang ở Việt Nam là rò trực tiếp, thường

khởi phát sau chấn thương đầu do TNGT, và

khá thường gặp so với trên thế giới Số lượng

bệnh nhân chấn thương đầu gia tăng kéo theo số

bệnh nhân rò động mạch cảnh xoang hang cũng

gia tăng đáng kể Do đó việc chẩn đoán đúng

bệnh và điều trị kịp thời là vấn đề rất quan

trọng Bởi vì ngày nay bằng can thiệp nội mạch

chúng ta có thể chữa khỏi bệnh này và nếu cấp

cứu kịp thời chúng ta có thể cứu sống những

bệnh nhân chảy máu mũi họng nặng do rò động

mạch cảnh xoang hang hay vỡ động mạch cảnh

sau chấn thương

Sơ lược giải phẫu vùng xoang hang

Xoang hang mỗi bên nằm ở vùng thân

xương bướm, nhận máu chủ yếu từ tĩnh mạch

mắt trên, và tĩnh mạch mắt dưới máu từ xoang

hang sẽ đồ về tĩnh mạch đá trên và đá dưới sau

đó đổ về xoang ngang và tĩnh mạch cảnh Ngoài

ra cần lưu ý là xoang hang có thể thông nối với tĩnh mạch nông vỏ não vùng trên lều và đám rối tĩnh mạch vùng nền sọ-chẩm liên quan dẫn lưu tĩnh mạch hố sau

Liên quan đến động mạch: động mạch cảnh trong trước khi vào sọ cấp máu cho não sẽ đi trong xoang đám rối tĩnh mạch hang và cho các nhánh nhỏ trong đoạn này cấp máu cho màng não và tuyến yên.Liên quan về thần kinh: ngoài động mạch cảnh trong, xoang hang còn liên quan mật thiết với các dây thần kinh vận nhãn: dây III, IV, VI, và hạch thần kinh sinh ba, dây V1

Phân loại rò động mạch cảnh xoang hang

Theo tác giả Barrow rò động mạch cảnh

xoanag hang được phân thành 4 types: A, B, C, D

Type A: Thông nối trực tiếp từ động mạch

cảnh trong và xoang hang (hay gặp nhất)

Type B: Thông nối gián tiếp từ các nhánh nhỏ

của động mạch cảnh trong vào xoang hang (hiếm gặp)

Type C: Thông nối gián tiếp từ các nhánh nhỏ

của động mạch cảnh ngoài vào xoang hang (rò màng cứng: dural fistula)

Type D: Thông nối gián tiếp từ các nhánh nhỏ

của động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài vào xoang hang

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá việc áp dụng can thiệp nội mạch trong điều trị rò động mạch cảnh- xoang hang

Đối tượng

Nghiên cứu 80 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng rò động mạch cảnh xoang hang sau chấn thưong đầu được chụp mạch máu não xóa nền DSA và được điều trị nội mạch tại BV ĐHYD

TP HCM từ tháng 10/2004 đến tháng 9/2007

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu tiền cứu, cắt ngang

Phương pháp điều trị phương tiện

Phương pháp điều trị: chúng tôi thực hiện

can thiệp nội mạch sử dụng máy chụp mạch

máu xóa nền DSA để đưa bóng hoặc coils

(những cuộn xoắn bằng platinum) qua những

ống thông trong lòng mạch máu đến nơi mạch

máu bị rách và bít tắc lỗ rách Việc sử dụng bóng

hay coils là tùy thuộc vào kích thước lỗ rách sau

chụp DSA Kết quả bít lổ rách được chụp kiểm

tra ngay sau đặt và theo dõi các triệu chứng lâm

sàng, tái khám lại sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng

Chỉ định điều trị cấp cứu khi

- Thị lực diễn tiến xấu nhanh (sẽ dẫn đến

mù mắt)

- Chảy máu mũi họng nặng trên bệnh nhân

dò mạch cảnh xoang hang

- Túi giả phình động mạch cảnh trong xoang

bướm, (nếu vỡ dễ gây tử vong)

- Bệnh nhân dò mạch cảnh xoang hang tri

giác xấu dần

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung

Tuổi, giới

T ỉ l ệ 82,5% 17,5%

Tuổi nhỏ nhất là 17 tuổi lớn nhất 75 tuổi tuổi

trung bình: 33,8 tuổi

Nguyên nhân

Nguyên nhân: T ỉ l

Ch ấ n th ươ ng đầ u do TNGT 97,5%

Ch ấ n th ươ ng th ể thao 1,25%

B ị đ ánh 1,25%

Lâm sàng

Cơ năng

- Nghe tiếng kêu ù ù trong tai gặp trong 95%

các trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang

trực tiếp sau chấn thương

Thực thể

Tri ệ u ch ứ ng T ỉ l

Đỏ m ắ t phù n ề sung huy ế t k ế t m ạ c 93,7%

L i m ắ 96,3% Nghe trên m ắ t có âm th ổ i 96,3%

Gi ả m th ị l ự c: Sáng t ố i (+), 3/10-7/10 30%

Sáng t ố i (-) 12,5%

Li ệ t v ậ n nhãn các dây III, IV, VI 56,3%

T ng nhãn áp 12,5%

Ch ả y máu m ũ i xoang do v ỡ gi ả phình

trong xoang b ướ m

2,5%

Xu ấ t huy ế t d ướ i nh ệ n hôn mê sâu 1,25%

Cận lâm sàng

Siêu âm Doppler động mạch cảnh-tĩnh mạch mắt

- Có 45 trường hợp siêu âm doppler thấy dãn tĩnh mạch mắt sau đó những bệnh nhân này được chụp DSA và xác định chính xác là rò động mạch cảnh xoang hang trực tiếp

- Dấu hiệu điển hình trên siêu âm doppler là: Tĩnh mạch mắt dãn to, có hiện tượng thông nối động tĩnh mạch, tĩnh mạch mắt bị động mạch hóa

CT scan sọ não có cản quang

- Được thực hiện trong 30 ca tất cả những ca này đều thấy được các dấu hiệu:

- Xoang hang và tĩnh mạch mắt dãn to, bắt thuốc cản quang sớm

- Mắt lồi

DSA (Digital Subtraction Angiography)

- Thấy được luồng thông từ động mạch cảnh

- xoang hang-tĩnh mạch mắt ngay thì động mạch

là tiêu chuẩn và để xác định chẩn đoán và phân loại lỗ rò

Hình minh hoạt rò động mạch cảnh xoang hang:

Trang 4

Siêu âm Doppler

CT scan có cản quang

DSA mạch máu não

Kết quả điều trị

Cách điều trị

Cách đ i ề u tr ị T ỉ l

Đặ t bóng 87,5%

Đặ t coil 12,5%

Hình minh họa điều trị rò động mạch cảnh

xoang bằng bóng

Kỹ thuật đặt bóng bít lỗ rách

Hình DSA trước và sau đặt bóng

Triệu chứng ở mắt trước đặt bóng

Cùng bệnh nhân, sau đặt bóng 48h

Trang 5

Kết quả điều trị

Lỗ rò được bít hoàn toàn 78/80 trường hợp

chiếm 97,5%

Bít đượ c hoàn toàn l ỗ rách 97,5%

Ch ư a bít đượ c hoàn toàn 2,5%

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 11 ca rò

động mạch cảnh xoang hang tái phát bao gồm: 3

ca tái phát sau mổ cột động mạch cảnh trong, 6

ca tái phát sau mổ cột động mạch cảnh chung, 2

ca tái phát sau thả cơ qua lỗ mở động mạch cảnh

ở cổ (chưa cột động mạch cảnh).Việc điều trị cho

những bệnh nhân đã cột động mạch cảnh gặp

rất nhiều khó khăn Chúng tôi phải chọn dò trực

tiếp động mạch cảnh trong ở cổ và đặt bóng

thành công 4 ca, 3 ca phải đi bằng đường động

mạch thông sau, 1 ca cần phải phối hợp ngoại

khoa bộc lộ động mạch cảnh trong phía trên nơi

cột sau đó luồn ống thông trực tiếp vào động

mạch cảnh để thả bóng kết quả là bít được hoàn

toàn lỗ thông

Có 1 trường hợp không đến được lỗ rách:

bệnh nhân rò động mạch cảnh xoang hang trực

tiếp tái phát sau mổ cột động mạch cảnh trong

trên bệnh nhân tuần hoàn thông nối qua đa giác

Willis không tốt (bệnh nhân bị liệt nửa người sau

cột động mạch cảnh trong), nên không thể đi

đến lỗ rách

Trong nghiên cứu có 10 trường hợp dò động

mạch cảnh xoang hang nặng chúng tôi bít được

lỗ rách hoàn toàn trong 10 trường hợp, kết quả

sau can thiệp:

Tình tr ạ ng c ấ p c ứ u S ố ca K ế t qu ả

Ch ả y máu m ũ i h ọ ng n ặ ng 2 ca C ứ u s ố ng b ệ nh nhân

Gi ả phình trong xoang b ướ m

d a v ỡ

3 ca Bít đượ c hoàn toàn

túi phình Giàm tri giác do trào ng ượ c

t nh m ạ ch nông võ não

2 ca Ph ụ c h ồ i hoàn toàn

Mù m ắ t ti ế n tri ể n nhanh 2 ca Có ph ụ c h ồ i th ị l ự c

Xu ấ t huy ế t d ướ i nh ệ n b ệ nh

nhân hôn mê sâu

1 ca Không c ả i thi ệ n

Đánh giá các triệu chứng sau thủ thuật

Sau thủ thuật nếu thấy lỗ rách đã được bít

hoàn toàn trên hình chụp DSA kiểm tra thì

triệu chứng âm thổi ở mắt sẽ mất ngay sau làm thủ thuật

Các triệu chứng lồi mắt, đỏ mắt sẽ cải thiện

rõ sau 24h và trở về bình thường sau vài ngày hoặc vài tuần tùy theo mức độ nặng nhẹ trước điều trị, trung bình là 1 tuần

Đối với các triệu chứng liệt vận nhãn sự phục hồi sẽ chậm hơn, trong nghiên cứu này có

45 ca có liệt vận nhãn chiếm 56,3% tất cả các trường hợp liệt vận nhãn đều phục hồi hoàn toàn trong thời gian trung bình khoảng 3 tháng Đối với các trường hợp giảm thị lực kể cả sáng tối (+) khoảng 70% bệnh nhân có cải thiện sau thủ thuật trong thời gian trung bình 3-4 tháng Riêng các trường hợp những bệnh nhân mù mắt ngay sau chấn thương do thương tổn thần kinh thị không phân biệt được sáng tối thì khả năng phục hồi rất kém Trường hợp theo dõi lâu nhất

đã được 18 tháng vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện Đối với bệnh nhân bị xuất huyết dưới nhện hôn

mê mặc dù đã can thiệp bít lỗ rách và túi phình được hoàn toàn nhưng bệnh nhân vẫn không cải thiện do tình trạng co thắt mạch máu nặng xảy

ra sau xuất huyết

Tai biến và biến chứng

Trong mẫu nghiên cứu này chúng tôi có 1 trường hợp bị liệt nửa người chiếm 1,25% Triệu chứng xuất sau làm thủ thuật 12h sau đó phục hồi gần hoàn toàn (bệnh nhân có thể tự đi lại được sau

4 tháng) Bệnh nhân này lớn tuổi (55T) tăng huyết

áp nhiều năm, hẹp động mạch não giữa cùng bên động mạch cảnh bị rách, lỗ rách lớn không bảo tồn được động mạch cảnh đoạn rách

Các tai biến khác: tụ máu nơi chọc kim: vùng bẹn: 3 ca, ở cổ 1 ca, chiếm 5% Tai biến này trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi thì nhẹ và tự khỏi

Theo dõi sau thủ thuật

Tất cả các bệnh nhân đều được tái khám đánh giá lại về triệu chứng lâm sàng sau 1 tuần,

1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm Tất cả những trường hợp bít được lỗ rách hoàn toàn, thấy trên hình DSA kiểm tra sau thủ thuật, theo dõi đến

Trang 6

nay ca làm đầu tiên đã được 36 tháng hiện không

có trường hợp nào tái thông lỗ rách Không ghi

nhận trường hợp nào dị ứng với chất gây tắc là

bóng, coil Có một trường hợp chụp DSA kiểm tra

phát hiện giả phình vùng xoang hang sau thủ

thuật đặt bóng do động mạch cảnh bị rách không

lành tốt, bệnh nhân không triệu chứng

BÀN LUẬN

Bệnh rò động mạch cảnh xoang hang được

Traves mô tả đầu tiên vào năm 1809

Năm 1931 Brook điều trị bệnh này bằng cách

thả miếng cơ qua một lỗ mở động mạch cảnh ở

cổ để bít lỗ rách

Năm 1964 Hamby trình bày phương pháp

điều trị kết hợp giữa cột động mạch cản ở cổ và

thả cơ bít lỗ rách

Đến năm 1974 Serbinenko, một phẫu thuật

viên thần kinh người Nga, là người đầu tiên mô

tả và sử dụng một catheter gắn một quả bóng có

thể tách rời (detachable balloon) để bít lỗ rách

mà có thể bảo tồn động mạch cảnh Từ đó đến

nay phương pháp này ngày càng được hoàn

thiện và phát triển, nhất là khi có máy chụp

mạch máu kỹ thuật số xóa nền DSA (Digital

Subtraction Angiography) và ngày càng được áp

dụng rộng rãi

Hiện nay đối với rò động mạch cảnh xoang

hang, can thiệp nội mạch điều trị bằng cách luồn

những ống thông từ động mạch hay tĩnh mạch

đùi sau đó dùng bóng, coil hoặc keo để bít lỗ

rách tùy theo kích thước và đặc điểm của lỗ rò(6)

Về điều trị rò động mạch cảnh xoang hang ở

Việt Nam, năm 1972 Lê Xuân Trung, Tôn Thất

hang theo phương pháp Brook Năm 1989,

Trương Văn Việt(12) đã trình bày một phương

pháp điều trị bít lỗ rò bằng một miếng cơ có thể

điều khiển được bằng một catheter qua một lỗ

mở ở động mạch cảnh chung và báo cáo 56 ca rò

động mạch cảnh xoang hang được điều trị bằng

phương pháp này Năm 1999 Trương Văn Việt,

Nguyễn Đình Tùng(13) đã tổng kết điều trị cho 176

bệnh nhân với tử vong 2, liệt nửa người 4, tái

phát 20 Năm 2003 Nguyễn Đình Tùng báo cáo

điều trị 123 trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang phương pháp gây tắc bằng cơ có điều khiển với kết quả tốt 86,2%, yếu liệt nửa người 5 bệnh nhân (4,065%), tái phát 9 bệnh nhân (7,03%), chảy máu 1 bệnh nhân (0,8%), không gây tắc được 2 bệnh nhân (1,62%)(113)

Trên thế giới, sau khi Serbinenko(11) báo cáo kết quả việc dùng bóng có thể tách rời để điều trị các bệnh lý mạch máu não đến nay, kỹ thuật này ngày

càng được áp dụng rộng rãi Năm 1981 Debrun và

cộng sự báo cáo 54 trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang sau chấn thương được điều trị bằng bóng và kết quả bít được lỗ rách hoàn toàn bằng bóng trong 51 ca (94,4%) và bảo tồn được động mạch cảnh trong 59% trường hợp; 3 ca bị liệt nửa người chiếm 5,5%(2) Năm 1990 Higashida, Halback

và cộng sự tổng kết từ năm 1981-1989 có 87 trường hợp túi phình động mạch cảnh trong xoang hang được điều trị bằng bóng trong đó có 8 ca túi phình

vỡ gây rò động mạch cảnh xoang hang trực tiếp(5)

Năm 1995 Lewis và cộng sự báo cáo 100 trường

hợp rò động mạch cảnh xoang hang trực tiếp được điều trị bằng bóng từ 1979-1992 tỉ lệ bít được lỗ rách bằng bóng là 86% bảo tồn được động mạch cảnh trong 66 trường hợp, tỉ lệ biến chứng là 4% bao gồm nhồi máu não, liệt nửa người, chảy máu não có 1 ca tử vong liên quan đến thủ thuật đặt bóng(9)

Đối với những trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang tái phát sau mổ cột động mạch cảnh, can thiệp nội mạch gặp nhiều khó khăn Các đường đi khác để đến lỗ rách có thể là: đường động mạch thông sau, đường tĩnh mạch

đá dưới đến xoang hang, đường tĩnh mạch mắt trên, nếu các đường trên không thực hiện được thì chọc dò trực tiếp động mạch cảnh trên nơi cột

có thể được đặt ra Năm 1991 Monsein(10) và cộng

sự báo cáo điều trị 4 trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang bằng đường tĩnh mạch mắt trên, kết quả là bít được hoàn toàn lỗ rách, không

biến chứng Năm 1989 Halbach(4) báo cáo 3 trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang bị tắc động mạch cảnh trong được điều trị bằng

Trang 7

cách chọc trực tiếp động mạch cảnh trong sau

nơi bị tắc và dùng bĩng hoặc coil để bít lỗ rách,

khơng biến chứng

0

20

40

60

80

100

Nguyễn Đình Tùng

Thành Công Tái Phát Biến Chứng

Biểu đồ so sánh kết quả điều trị một số tác giả

Về ảnh hưởng lâu dài của việc điều trị rị

động mạch cảnh xoang hang năm 1983 FY Tsai(3)

báo cáo 74 trường hợp được theo dõi trong 6

năm: giả phình sau đặt bĩng cĩ thể tự lành, liệt

các dây vận nhãn thống qua gặp trong 16%,

bĩng xẹp sớm cĩ thể trơi đi làm tắc động mạch

cảnh trong hoặc các nhánh của nĩ

KẾT LUẬN

Qua điều trị nội mạch cho 80 bệnh nhân bị rị

động mạch cảnh xoang hang sau chấn thương

tại BV ĐHYD TPHCM trong khoảng thời gian 3

năm Chúng tơi thu được các kết quả sau:

Về chẩn đốn

Triệu chứng lâm sàng điển hình trên 90%

trường hợp (đỏ mắt, lồi mắt, âm thổi ở mắt, liệt

vận nhãn), nên chỉ bằng các triệu lâm sàng

chúng ta cĩ thể chẩn đốn khá chính xác những

bệnh nhân bị rị động mạch cảnh xoang hang

Siêu âm Doppler thấy tĩnh mạch mắt dãn, cĩ

dấu hiệu thơng động tĩnh mạch hay trên CT scan

sọ não cĩ cản quang thấy xoang hang dãn và bắt

thuốc sớm, tĩnh mạch mắt dãn mắt lồi thì cần

nghĩ đến rị động mạch cảnh xoang hang Chụp

mạch máu não kỹ thuật số xĩa nền xác định

chẩn đốn 100% trường hợp

Về điều trị

Tỷ lệ thành cơng chung, bít được hồn tồn

lỗ rách là 97,5% (78/80 trường hợp), tỷ lệ biến chứng về thần kinh trong nghiên cứu là 1,25% Khơng cĩ trường hợp nào tử vong do tai biến thủ thuật Bằng cách chọc trực tiếp động mạch cảnh trong ở cổ hay phối hợp mổ bộc lộ động mạch động mạch cảnh ở cổ ngay tại phịng DSA, sau đĩ các ống thơng được luồn trực tiếp vào động mạch cảnh, chúng tơi đã điều trị thành cơng nhiều trường hợp rị động mạch cảnh xoang hang tái phát sau thả cơ hoặc cột động mạch cảnh ở cổ Sự cải thiện các triệu chứng sau điều trị là rất tốt: ù tai, âm thổi ở mắt mất ngay sau điều trị, triệu chứng lồi mắt, đỏ mắt giảm sau 1 tuần, liệt vận nhãn, giảm thị lực sẽ phục hồi sau vài tháng ngoại trừ mù mắt theo dõi hơn

18 tháng khơng thấy dấu hiệu phục hồi

Việc nắm rõ các chỉ định khi nào cần can thiệp cấp cứu bệnh nhân dị mạch cảnh xoang hang là điều hết sức cần thiết tránh việc điều trị chậm trể hiệu quả phục hồi sẽ khơng cao nhất là khi bệnh nhân đã diễn tiến mù mắt hoặc xuất huyết

Can thiệp nội mạch trong điều trị rị động mạch cảnh xoang hang với tỷ lệ thành cơng cao,

ít tai biến, là phương pháp nên được lựa chọn

đầu tiên

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Debrun G, Lacour P, Vinuela F, Fox A, Drake CG, Caron

JP.Treatment of 54 traumatic carotid-cavernous fistulas J

Neurosurg 1981 Nov;55(5):678-92

2 Debrun GM, Vinuela F, Fox AJ, Davis KR, Ahn HS

Indications for treatment and classification of 132

carotid-cavernous fistulas Neurosurgery 1988 Feb;22(2):285-9

3 FY Tsai, GB Hieshima, CM Mehringer, V Grinnell and HW

Pribram, Delayed effects in the treatment of carotid-cavernous

fistulas, AJNR 1983 Vol 4, Issue 3 357-361

Direct puncture of the proximally occluded internal carotid

artery for treatment of carotid cavernous fistulas 1989 AJNR

Vol 10, Issue 1 151-154

5 Higashida RT, Halbach VV, Dowd C, Barnwell SL,

Dormandy B, Bell J, Hieshima GB Endovascular detachable

balloon embolization therapy of cavernous carotid artery

aneurysms: results in 87 cases J Neurosurg 1990

Jun;72(6):857-63

6 Kirsch M, Henkes H, Liebig T, Weber W, Esser J, Golik S,

Kuhne D Endovascular management of dural

carotid-cavernous sinus fistulas in 141 patients Neuroradiology

2006 Jul;48(7):486-90 Epub 2006 Apr 26

7 Lê Xuân Trung, Lỗ động mạch cảnh xoang hang, Bệnh lý

ngoại khoa thần kinh, 1988, Trường Đại học Y Dược

Tp.Hồ Chí Minh, 333-340

8 Lê Xuân Trung, Lỗ thông động mạch cảnh với xoang hang,

Tạp chí y học Việt nam 1966, 2, 101-107

9 Lewis AI, Tomsick TA, Tew JM Jr Management of 100

consecutive direct carotid-cavernous fistulas: results of

treatment with detachable balloons Neurosurgery 1995

Aug;37(2):357

10 Monsein LH, Debrun GM, Miller NR, Nauta HJ, ChazalyJR

Treatment of dural carotid-carcernous fistulas via the superior opthalmic

vein AJNR 1991 May-jun; 12(3):435-9

11 Serbinenko FA Balloon catheterization and occlusion of major

cerebral vessels J Neurosurg 1974; 41: 1974

12 Trương Văn Việt; Nguyễn Đình Tùng (1999), Rò động mạch

cảnh xoang hang, Hội nghị Việt- Úc về ngoại thần kinh,

Bệnh viện Chợ Rẫy, 24-25

13 Trương Văn Việt; Nguyễn Đình Tùng (2002), Rò động mạch

cảnh xoang hang, Chuyên đề ngoại thần kinh, , Nhà xuất

bản y học, 403-41

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w