1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số kết quả vi phẫu thuật giải ép thần kinh trong điều trị đau dây V tại Bệnh viện Việt Đức

5 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 275,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả ứng dụng vi phẫu thuật vi phẫu giải ép thần kinh trong điều trị đau dây thần kinh số V (phẫu thuật jannetta). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

MỘT SỐ KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT GIẢI ÉP THẦN KINH

TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU DÂY V TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

Bùi Huy Mạnh*, Đồng Văn Hệ*

TÓM TẮT

Mục đích: Đánh giá kết quả ứng dụng vi phẫu thuật vi phẫu giải ép thần kinh trong điều trị đau dây thần

kinh số V (phẫu thuật Jannetta)

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu trong thời gian 15 tháng (tháng 01-2011 đến hết tháng 03-2012) với

26 bệnh nhân được mổ điều trị đau dây V, đảm bảo bệnh nhân theo dõi ít nhất trong vòng 06 tháng, nhiều nhất được 01 năm Đánh giá chủ yếu dựa vào lâm sàng, cảm nhận đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS và kết quả dựa vào thang điểm VAS và thang điểm BNI

Kết quả: 26 bệnh nhân được mổ theo phương pháp này: 16 nữ (62%) và 10 nam (38%) Tuổi thấp nhất 30

cao nhất 77 Đau dây V bên phải 17 trường hợp (65%), bên trái 9 trường hợp (35%) Thời gian từ khi khởi bệnh đến lúc mổ sau 5 năm là 50% số bệnh nhân Trong mổ tìm thấy động mạch chèn ép dây V ở 19 trường hợp (73%); tĩnh mạch có 6 trường hợp (23%); không thấy nguyên nhân có 1 trường hợp (4%) Kết quả mổ theo VAS rất tốt ngay sau mổ sau mổ là 85%, sau mổ 03 tháng 81%, sau 06 tháng là 77%, sau 01 năm là 75%

Kết luận: Phẫu thuật điều trị đau dây V là một trong những phương pháp điều trị được lựa chọn có hiệu

quả với đau dây V đã thất bại với các phương pháp điều trị khác

Từ khóa: đau dây V, giải ép vi mạch

ABSTRACT

RESULTS OF SURGERY-MICROVASCULAR DECOMPRESSION OF TRIGEMINAL NEURALGIA AT

VIET DUC HOSPITAL

Bui Huy Manh, Dong Van He.* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 104 -

108

Objective: Evaluated the result of treatment of trigeminal neuralgia by Microvascular Decompression

Surgery

Methods: The study was conducted on the 26 patients who were performed MVD in VietDuc Teaching

Hospital from 01/2011 to 03/2012 The result was evaluated on V.A.S Scale, BNI Scale and 03 months or more after surgery

Results: Twenty-six patients: 16 females (62%) and 10 males (38%) Age range from 30 to 77 years

olds The right 5 th nerve was found in 17 cases (65%) and left 5 th nerve in 9 (35%) All the patients have had severe trigeminal neuralgia (9 or 10 point of V.A.S) 50% of patients had pain more than 5 years In our series, the compression between artery and fifth nerve was identified in 20 cases (77%) and between vein and fifth nerve in 5 cases; and no compression with vascular in one case With an average follow up period was one month with excellent result (VAS I, BNI) 85%; after 03 months was 81%; after 06 months was 77%; and after one year was 75%

Conclusion: MVD was effective and safe treatment for Trigeminal Neuralgia

Key words: trigeminal neuralgia, microvascular decompression surgery

*Bệnh viện Việt Đức- Hà Nội

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau dây V là đau ở khu vực chi phối của

một hoặc nhiều nhánh của dây thần kinh số V

Kinh điển là cơn đau đột ngột, ngắn, dữ dội,

đau nhói, dao đâm tái phát từng đợt và thường

một bên(9). Đau dây V đã được mô tả lần đầu tiên

năm 1671 bởi một thầy thuốc đồng thời là bệnh

nhân người Đức Johannes Laurentis Bausch(3).

Sau đó nhiều bác sĩ tiếp tục phát triển nghiên

cứu đau dây V, điển hình là năm 1756, Nicolaus

André đặt tên ‘Tic douloureux"(1). Qua nhiều

thập kỷ, các nguyên nhân đau dây V nguyên

phát còn chưa được rõ ràng, vì thế cho đến ngày

nay còn tồn tại nhiều phương pháp chữa trị: nội

khoa, ngoại khoa, tia xạ… Điều trị phẫu thuật

dựa trên giả thiết cho rằng: mạch máu, thường

là động mạch chèn ép vào dây V nên gây triệu

chứng đau Ngày nay, vẫn còn nhiều ý kiến về

nguyên nhân gây đau dây V nhưng giả thiết về

sự chèn ép của mạch máu não ngày càng được

nhiều người chấp nhận Phương pháp phẫu

thuật giải ép thần kinh với mạch máu vào dây V

là phương pháp được đánh giá hiệu quả nhất

trong các can thiệp điều trị bệnh Tại Bệnh viện

Việt Đức, chúng tôi đã áp dụng thành công

phẫu thuật này từ năm 2000 Trong nghiên cứu

này, chúng tôi đánh giá một số kết quả sớm

điều trị vi phẫu thuật giải phóng chèn ép dây V

tại Bệnh viện HN Việt Đức

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiến cứu trên 26 bệnh nhân

đau dây V được chẩn đoán và điều trị bằng vi

phẫu thuật giải phóng chèn ép tại Bệnh viện

HN Việt Đức trong thời gian 15 tháng (từ

01-01-2011 đến 31-03-2012) Tiêu chuẩn chọn

bệnh nhân: Các bệnh nhân được điều trị nội

khoa (Tegretol) hay các phương pháp khác

trước đó bị thất bại: không hoặc ít tác dụng,

các tác dụng phụ của thuốc… làm ảnh hưởng

đến lao động, sinh hoạt và khả năng không

chịu nổi đau Tất cả bệnh nhân được đánh giá

mức độ đau, những dấu hiệu lâm sàng dựa

trên mẫu bệnh án nghiên cứu Nội dung

nghiên cứu là thời gian đau, mức độ đau, tiền

sử điều trị trước đó (điều trị nội, điều trị phẫu thuật, điều trị tia xạ) Chỉ định mổ dựa trên mức độ đau Mô tả cách thức phẫu thuật: tư thế mổ, vị trí mổ, sự chèn ép giữa động mạch, tĩnh mạch với dây V hoặc màng nhện, hay bất thường ở vùng góc cầu bên đau Biến chứng sau mổ được ghi nhận là: tử vong, liệt, chảy máu, nhiễm trùng, đụng dập tiểu não, thiếu máu não, rò nước não tuỷ, chóng mặt, ù tai, nghe kém… Khi bệnh nhân có tai biến hoặc biến chứng, mô tả các nguyên nhân gây biến chứng Khám lại bằng cách khám trực tiếp bệnh nhân tại Bệnh viện HN Việt Đức Tiêu chuẩn khám lại đánh giá bằng khám lâm sàng dựa trên mức độ đau của bệnh nhân Bệnh nhân khám lâm sàng quan trọng nhất là thang điểm chịu đau VAS và thang điểm BNI Theo bảng điểm đau VAS có 10 bậc chia ra bậc 0: không đau; bậc 1-3:đau nhẹ; bậc 3-4:đau vừa; bậc 5-6 đau nặng; bậc 7-8 đau rất nặng; bậc 9-10: đau ghê gớm không chịu nổi(9).

Sau mổ bệnh nhân được khám lại ngay sau

mổ, sau 03 tháng, sau 06 tháng và sau 01 năm, thăm khám trực tiếp Kết quả khám lại quan trọng nhất là còn đau hay không, có phải dùng thuốc hỗ trợ, các tai biến, di chứng, mức độ ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt của bệnh nhân theo thang điểm VAS và BNI

KẾT QUẢ

Trong thời gian 15 tháng, chúng tôi lựa chọn được 26 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu (Bảng 1) Phần lớn bệnh nhân có thời gian đau dài hơn 3 năm và tất cả đã được điều trị nội khoa những không khỏi bệnh (Bảng 2)

Bảng 1: Liên quan giữa tuổi và giới

Tuổi Giới

Tỷ lệ nữ gặp nhiều hơn nam, trong nghiên cứu chúng tôi là nữ/nam = 1,6/1

Trẻ tuổi nhất là 30 tuổi, cao nhất là 77 tuổi

Bảng 3- Kiểu đau:

Trang 3

Số BN 20 3 3

Kiểu đau điển hình gặp ở 77% số bệnh nhân

mổ, đau không điển hình và đau hỗn hợp có

11,5% mỗi trường hợp

Bảng 4-Vị trí đau:

- Phải 17 (65%)

- Trái 9 (35%) Bên đau

- 2 bên 0 V10 V2 4 (15,4%) V310 (38,4%) V1vàV2 4 (15,4%) V2 và V3 6 (23,1%) Vùng đau

V1+V2+V3 2 (7,7%)

Bên đau ưu thế hay gặp bên phải với 65%,

cũng có nhiều báo cáo nhưng không cho thấy

ưu thế bên đau có sự khác biệt giữa phải và trái

Có một bệnh nhân đã có tiền sử mổ đau dây V

bên trái cách một năm kết quả tốt và lần này mổ

bên đối diện, bên phải Chúng tôi không gặp

trường hợp nào đau hai bên trong số 26 bệnh

nhân

Bảng 4: Xác định chèn ép trong mổ

3 Xơ dính, dày màng

nhện

Đa số gặp nguyên nhân do động mạch chèn

ép 20/26 chiếm 77% Do tĩnh mạch là 5/26

trường hợp, chiếm 19,23% Một trường hợp

không có nguyên nhân chèn ép, do xơ dày dính

màng nhện, được giải phóng gỡ dính, tuy nhiên

mổ xong bệnh nhân kết quả rất tốt sau 06 tháng

theo dõi sau mổ Có một bệnh nhân có hai động

mạch tiếp xúc ở vị trí góc cầu và vị trí gần thân

não; một bệnh nhân có 3 động mạch nhỏ tiếp

xúc vị trí góc cầu phía sau; có một bệnh nhân có

hai tĩnh mạch tiếp xúc

Chúng tôi khám lại tại 26 bệnh nhân, đánh

giá kết quả bằng dựa theo phân loại VAS và BNI

(Barrow Neurological Institude Scoring System)

Kết quả khám lại được phân bố theo bảng 5

Bảng 5: Đánh giá sau mổ theo thang điểm VAS và

BNI (Barrow Neurological Institude Scoring system) (6)

Ngay sau

mổ

Sau mổ

03 tháng

Sau mổ 06 năm

Sau mổ

01 năm

Độ I (Rất tốt) 22 (85%) 21 (81%) 20 (77%) 9 (75%)

Độ II (Tốt) 3 (11,2%) 4 (15,2%) 4 (15,4%) 2 (17%)

Độ III (Kém) 1 (3,8%) 1 (3,8%) 2 (7,6%) 1 (8%)

Phân loại theo BNI Ngay

sau

mổ

Sau mổ

03 tháng

Sau mổ

06 tháng

Sau mổ

01 năm

Độ I: Không

đau,không dùng thuốc

22 (85%)

21 (81%) 20 (77%) 9 (75%)

Độ II: Thỉnh thoảng

đau nhẹ, không dùng thuốc

Độ III:

Độ IIIa: Không đau,

tiếp tục dùng thuốc cần thiết

1 (3,8%)

1 (3,8%) 1 (8,3%)

Độ IIIb: Thỉnh thoảng

đau, kiểm soát đầy đủ bằng thuốc

1 (3,8%)

2 (7,6%) 3

(11,6%)

1 (8,3%)

Độ IV: đau được cải

thiện, nhưng không kiểm soát được bằng thuốc

2 (7,4%)

2 (7,6%) 2 (7,6%) 1 (8,4%)

Độ V: Không giảm

chút nào

1 (3,8%)

Tỷ lệ hết đau ngay sau mổ là 85%, sau 03 tháng là 81%, sau 06 tháng là 77% Sau mổ 01 năm tỷ lệ hết đau là 75% (theo dõi được 12 bệnh nhân)

Biến chứng sau mổ

Không có bệnh nhân tử vong, không có bệnh nhân bị di chứng nặng Có một bệnh nhân liệt mặt độ I bên mổ, một bệnh nhân chảy dịch não tủy qua vết mổ, môt bệnh nhân đau tái lại như cũ sau 06 tháng

BÀN LUẬN

Trong tổng số 26 bệnh nhân có một chút

ưu thế phái nữ: 16 nữ và 10 nam Tuổi thấp nhất là 30 tuổi và cao nhất là 77 tuổi Số bệnh nhân già trên 71 tuổi chỉ có 4 bệnh nhân Cả 4

Trang 4

bệnh nhân giảm đau hoàn toàn sau mổ, sau 6

tháng hai trong số đó giảm đau không hoàn

toàn, phải dùng thuốc khống chế cơn đau

Phần lớn bệnh nhân trên 70 tuổi được chỉ

định điều trị nội, hoặc tiêm huyết thanh nóng,

diệt hạch bằng phương pháp

termocoagulation Bệnh nhân trên 70 tuổi ít

chỉ định phẫu thuật do nguy cơ biến chứng

của phẫu thuật vì thể trạng chung và các bệnh

mắc phải: tim mạch, huyết áp, tiểu đường

Những bệnh nhân trên 70 tuổi được chỉ định

mổ do bệnh nhân đã điều trị tất cả các

phương pháp khác như điều trị nội không

khỏi, tiêm huyết thanh nóng không hiệu quả

Hay bệnh nhân dị ứng với Tergretol Tại Việt

Nam, bệnh nhân cao tuổi nhất được ghi nhận

khi mổ là 82 tuổi(4) Một nghiên cứu của

Raymond F.Sekula và cộng sự nghiên cứu

nhóm 36 bệnh nhân cao tuổi (trung bình

72,0±5,9) và 53 bệnh nhân nhóm trẻ hơn

(52,9±8,8) mổ giải ép dây V cho kết quả tốt

như nhau(8). Tuy nhiên, nên thận trọng khi chỉ

định mổ những bệnh nhân trên 70 tuổi

Thời gian đau trước khi đến mổ: 50% bệnh

nhân đau trên 5 năm Trong thời gian này, bệnh

nhân đau nhiều nhưng giảm đau khi dụng

thuốc Tergretol Thời gian đau dài hay ngắn

trước mổ không ảnh hưởng nhiều tới kết quả

phẫu thuật Nhưng kiểu đau trước khi mổ là

dấu hiệu tiên lượng kết quả phẫu thuật: đau

điển hình theo cơn, đau như điện giật, có điểm

Trigger zone kết quả thường tốt Chúng tôi có

77% bệnh nhân đau điển hình (20/26) thì 18

trong số đó giảm đau hoàn toàn chiếm 90%; có

11,5% (03 bệnh nhân) bệnh nhân đau không

điển hình và 11,5% đau hỗn hợp thì trong số đó

giảm đau hoàn toàn là 01 bệnh nhân chiếm 33%

Nhiều tác giả cho rằng: đau liên tục ít khi khỏi

sau phẫu thuật giải phóng chèn ép Trong

nghiên cứu của Võ Văn Nho và Hitotsumatsu(6)

cũng đã lưu ý đến tình huống này

Vị trí bên đau ưu thế bên phải chiếm 65%,

bên trái 35% Ưu thế này gặp ở nhiều báo cáo,

nhưng không ảnh hưởng đến kết quả sau mổ

Vùng đau ưu thế là V3 chiếm 38,4%, Võ Văn

Nho cũng là V3 chiếm 36,5% (72/197 bệnh nhân), nghiên cứu của Jannetta ở 1.204 bệnh nhân thì vùng ưu thế là V2+V3 với 35%(8)

Tỷ lệ chèn ép xác định được trong mổ là 96,23% (do động mạch 77%, tĩnh mạch là 19,23%), kết quả của của Đồng Văn Hệ là 94,3%(4) và Võ Văn Nho là 78,6% Trên nghiên cứu của P Jannetta có tỷ lệ mạch chèn ép là 85%(7) Chúng tôi gặp 1 trường hợp dày dính màng nhện, không có tiếp xúc mạch máu- thần kinh Tuy nhiên mổ giải phóng màng nhện đơn thuần, kết quả tốt sau mổ thời gian theo dõi 06 tháng Có 2 bệnh nhân có trên hai nguyên nhân chèn ép: một bệnh nhân có 2 tĩnh mạch chèn ép

và một bệnh nhân có 3 động mạch chèn ép, cả hai đều hết đau sau mổ Nhiều tác giả cho kết quả có nhiều bệnh nhân có hơn một nguyên nhân chèn ép, có khi ở các vị trí góc khuất của kính vi phẫu (thân não, hố Meckel), do đó xu hướng ngày nay người ta đưa nội soi vào hỗ trợ trong mổ tìm thêm nguyên nhân

Đa số bệnh nhân hết đau không dùng thuốc: ngay sau mổ là 85%, sau 03 tháng là 81%, sau 06 tháng là 77% Tác giả Đồng Văn Hệ trên 89 bệnh nhân có tỷ lệ hết đau ngay sau mổ là 80,9%(4); Võ Văn Nho cho kết quả rất tốt 85,7% Cũng chung kết quả khỏi bệnh khả quan như vậy, Jannetta là 83,5%(7) và Apfelbaum là trên 90%(2) Sau 01 năm theo dõi được 12 bệnh nhân tỷ lệ hết đau còn 9/12 chiếm 75%, tỷ lệ này P.Jannetta là 80% Chúng tôi sử dụng phân loại VAS dễ hiểu

và đánh giá khái quát kết quả sau mổ, Thang điểm BNI chi tiết hơn để biết tình trạng bệnh nhân đau lại một phần sau mổ sử dụng thuốc, đáp ứng của thuốc, có liên quan đến chất lượng cuộc sống

Không có bệnh nhân tử vong hay di chứng nặng trong lô nghiên cứu Có một bệnh nhân liệt mặt độ I, một bệnh nhân chảy dịch não tủy qua vết mổ sau 1 tuần, chụp CT Scanner không giãn não thất, được khâu lại sau đó ổn định Một bệnh nhân đau lại như cũ sau 6 tháng Nghiên cứu trên của chúng tôi còn hạn chế

về số lượng bệnh nhân cũng như thời gian

Trang 5

nghiên cứu Hơn nữa phẫu thuật Jannetta đưa

vào áp dụng ở nước ta chưa nhiều thời gian, có

nhiều khó khăn trong việc lựa chọn bệnh nhân

và sự đồng thuận về chuyên môn Cần có sự

phối hợp giữa các trung tâm đánh giá tổng

quan, theo dõi lâu dài kết quả từ đó đưa ra các

chi tiết về chỉ định, kỹ thuật áp dụng cho phù

hợp với nước ta

KẾT LUẬN

Phẫu thuật giải áp vi mạch cho đau dây V là

sự lựa chọn đáng tin cậy trong một số trường

hợp bệnh nhân đau dây V điển hình nguyên

phát, điều trị nội khoa hay các phương pháp

khác thất bại, trên phim cộng hưởng từ xác định

được có chèn ép mạch máu thần kinh Mặc dù

còn tồn tại nhiều phương pháp điều trị, nhưng

với sự lựa chọn bệnh nhân chặt chẽ dường như

mổ giải áp dây V là phương pháp an toàn và có

hiệu quả rất cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 André M (1756) Practical observations on urethral diseases, and

factual information on convulsive facial contortions with

principles for cure of associated gangrenous and cancerous

conditions by use of various solvents and caustics College of the

Royal Academy (in French).Paris, De Chir.rue S Jacq A l’Olivier

2 Apfelbaum RI (2002) Comparison of the long-term result of microvascular decompression trigerminal neurolysis for the treatment of trigerminal neuralgia In: Watanabe K Development in Neuroscience Elsevier Science B.V, 629-643

3 Cole CD, Liu JK, Appelbaum RI (2005) Historical perspectives

on the diagnosis and treatment of trigerminal neuralgia Neurosurg Focus 18:E4

4 Đồng Văn Hệ (2009) Điều trị đau dây V bằng phẫu thuật giải phóng chèn ép mạch máu Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, Hà Nội, Y học thực hành

5 Eboli P, James L, Konstantin V (2009) Historical Characterization Of trigerminal neuralgia Neurosurgery 64:1183-1187

6 Hitotsumatsu T, Matsushima T, Inoue T (2003) Microvascular decompression for treatment of trigerminal neuralgia, hemifacial spasmand glossopharyngeal neuralgia: Three surgical approach variations: Technical note Neurosurg 53:1436-1443

7 Jannetta PJ (1996) Microvascular Decompression of the Trigerminal nerve for Tic douloureux In Youmans Neurological Surgery, 4 th edition, volume 5, pp 3404-15 Saunders Company

8 Raymond F, Sekula JR (2011) Microvascular decompression for elderly patients with trigerminal neuralgia: a prospective study and systematic review with meta-analysis, J Neurosurg

114:172-179

9 Report of the Quality Standards Subcommmitte of the American Academy of Neurology and the European Federation of Neurological Societies (2008) Neurology (PubMed)

10 Salama H (2009) Outcome of medical and surgical management

in intractable idiopathic trigeminal neuralgia Annals of Indian Academy Neurol (PubMed) Jul-Sep, 12(3):173-178

Ngày đăng: 23/01/2020, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w