1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bàng quang trực vị (thay thế nối với niệu đạo): Kết quả trên những trường hợp theo dõi trên 3 năm tại BV Bình Dân

9 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 256,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của bàng quang tân tạo trong thời gian tối thiểu trên 3 năm sau mổ trên 2 mặt: Chức năng và chất lượng sống. Nghiên cứu thực hiện trên những trường hợp bàng quang trực vị bằng hồi tràng có thời gian theo dõi tối thiểu là trên 3 năm và làm đủ các xét nghiệm cần thiết theo tiêu chuẩn đặt ra.

Trang 1

BÀNG QUANG TRỰC VỊ (THAY THẾ NỐI VỚI NIỆU ĐẠO):

KẾT QUẢ TRÊN NHỮNG TRƯỜNG HỢP THEO DÕI TRÊN 3 NĂM

TẠI BV BÌNH DÂN

Đào Quang Oánh* và CS

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bàng quang trực vị cần được theo dõi trong thời gian dài hơn những kết quả đã được báo

cáo trước đây

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của bàng quang tân tạo trong thời gian tối thiểu trên 3 năm sau mổ trên 2

mặt: chức năng và chất lượng sống

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Những trường hợp bàng quang trực vị bằng hồi tràng có

thời gian theo dõi tối thiểu là trên 3 năm và làm đủ các xét nghiệm cần thiết theo tiêu chuẩn đặt ra

Kết quả: 84 bệnh nhân Tỷ lệ tốt cao nhất ở tháng thứ 6 hậu phẫu Sau đó vì vấn đề tồn lưu nước tiểu

nên có giảm đi chút ít trong thời gian sau

Kết luận: Bàng quang trực vị là một lựa chọn tốt giúp bệnh nhân có thể đi tiểu một cách tự nhiên sau

mổ Tuy nhiên cần theo dõi để phát hiện và khắc phục tình trạng thể tích nước tiểu tồn lưu lớn

ABSTRACT

ORTHOTOPIC BLADDER RECONSTRUCTION:

RESULTS OF MORE THAN 3 YEARS OF FOLLOW- UP

Dao Quang Oanh, et al * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 244 – 250

Purpose: Evaluation of long term of orthotopic bladder reconstruction after radical cystectomy, at least

3 years of follow-up, in 2 points: function of the neobladder and quality of life of the patient

Material – method: all cases that satisfy the criteria of follow up: more than 3 years of survey,

performing all requiring tests, full cooperation to reply the questions about quality of life

Results: 84 cases Best ratio occurs at 6 th month of post operation Aftermath, because of the post

voiding volume so the outcome lightly diminishes

Conclusion: orthotopic bladder substitution is the option that gives the postoperative patient a normal

voiding situation Nevertheless, long- term follow -up is needed to unveil and manage the large volume of post-voiding

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật tạo hình thay thế bàng quang

bằng ruột hiện nay đã được thực hiện thường

xuyên tại BV Bình Dân Một số kết quả, trên

những đoạn ruột khác nhau và bằng những kỹ

thuật khác nhau, đã đuợc tập hợp và báo cáo

trước đây(3,4) Tuy vậy, đa số những báo cáo này

chỉ dựa trên những số liệu thu thập trong

khoảng thời gian 6 tháng đến 1 năm sau mổ

Bàng quang thay thế gồm 2 nhóm:

Bàng quang trực vị: bàng quang thay thế nối với niệu đạo, giúp bệnh nhân có thể đi tiểu một cách “tự nhiên” sau mổ

Bàng quang chuyển lưu ra da: có một van chuyển lưu có kiểm soát ngoài da Bệnh nhân không phải đeo ống, mang bọc, nhưng được hướng dẫn phương pháp tự thông cách quãng nhiều lần trong ngày

Trang 2

Bàng quang thay thế là một cơ quan mới, do

đó cần có thời gian để thích ứng với nhiệm vụ

mới Người bệnh cũng cần có thời gian để làm

quen, nhận biết và điều khiển cơ quan mới

Kinh nghiệm trong hơn 10 năm cho chúng

tôi nhận xét: sự thành công của phẫu thuật phụ

thuộc rất nhiều vào việc theo dõi định kỳ sau

mổ Bàng quang thay thế cần ít nhất 6 tháng để

ổn định Có nhiều thay đổi trong 6 tháng đầu

sau mổ, và vẫn còn tiếp tục trong thời gian sau

với tốc độ chậm hơn Do đó thời gian theo dõi

vài năm là rất cần thiết để đánh giá lại bàng

quang tân tạo Để theo dõi những thay đổi trên

bàng quang tân tạo và phát hiện sớm các biến

chứng nếu có, chúng tôi có áp dụng lịch tái

khám định kỳ cho tất cả bệnh nhân sau mổ

Thực tế cho thấy những bệnh nhân nào giữ mối

liên hệ chặt chẽ với BS phẫu thuật thường có

được kết quả khả quan hơn

MỤC TIÊU

Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật và tính

bền vững theo thời gian: những thay đổi quan

trọng cần chú ý và cách điều chỉnh, khắc phục

Sự đánh giá thực hiện trên 2 mặt chính:

-Khả năng bàng quang tân tạo có thể đảm

nhiệm một phần chức năng của bàng quang

bình thường về mặt thể tích chứa đựng, kiểm

soát chủ động, bảo vệ đường niệu trên…

-Đem lại cho bệnh nhân một cuộc sống có

chất lượng tốt hơn, nhất là khi so sánh với các

phương pháp chuyển lưu không kiểm soát như

đem 2 niệu quản ra da

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những trường hợp bàng quang trực vị bằng

hồi tràng do chính tác giả thực hiện

Thời gian theo dõi tối thiểu là trên 3 năm,

chấp nhận làm đủ các xét nghiệm cần thiết khi

yêu cầu, hợp tác và trả lời rõ ràng những câu hỏi

liên quan đến chất lượng sống sau mổ

Các xét nghiệm thực hiện

Ngoài các xét nghiệm thường quy, các xét nghiệm sau đây được làm trước mổ, sau mổ và được lập lại nhiều lần trong các kỳ tái khám: -Xét nghiệm sinh hóa chức năng thận, nước

và điện giải -Niệu ký nội tĩnh mạch (UIV) và âm vang ký (siêu âm) để biết hình ảnh thận, bàng quang và bàng quang tân tạo

-Soi bàng quang để xác định tình trạng niệu đạo, cổ bàng quang và bàng quang

-Xạ ký (X Quang) bàng quang tân tạo bằng thuốc cản quang để đánh giá hình dạng bàng quang, thể tích nước tiểu tồn lưu, tìm hiện tượng ngược dòng lên niệu quản

-Áp lực đồ bàng quang đánh giá chức năng của bàng quang tân tạo dựa trên: thể tích, áp lực,

độ mạnh của vòi nước tiểu, thể tích tồn lưu

Đặc biệt sau mổ khảo sát kỹ

Chú ý đến chỗ cắm 2 niệu quản, chỗ nối bàng quang tân tạo vào niệu đạo, những đặc điểm của bàng quang mới như: dung tích, sức co bóp, chức năng đi tiểu, tình trạng nước tiểu tồn lưu… Theo dõi sự thay đổi của bàng quang mới theo thời gian: bàng quang tân tạo có to dần ra không? hiện tượng nước tiểu tồn lưu diễn tiến thế nào? ảnh hưởng lâu dài đến thận?

Riêng về áp lực đồ bàng quang, nhận xét thêm về

Áp lực bàng quang tối đa: cần phân biệt áp lực của tự thân bàng quang tân tạo tương ứng với dung tích tối đa và không rặn tiểu, và áp lực lúc rặn tiểu chủ động (có thêm áp lực của cơ hoành và các cơ thành bụng)

Quan sát và đánh giá dòng tiểu

Đo thể tích nước tiểu tồn lưu

Trang 3

Tiêu chuẩn đánh giá

Chức năng bàng quang

Bàng quang có 2 chức năng: chứa đựng và

tống xuất nước tiểu

Đây là chức năng chính của bàng quang, có

thể đánh giá qua phép đo áp lực đồ bàng quang

và qua quan sát vòi nước tiểu khi bệnh nhân đi

tiểu: độ mạnh của vòi nước tiểu, đi tiểu làm một

đợt hay nhiều đợt trong một lần đi tiểu và có

phải rặn nhiều không?

Chức năng chứa đựng của bàng quang dựa

trên dung tích tối đa và thời gian giữa 2 lần đi

tiểu

Khả năng kiểm soát nước tiểu dựa vào dấu

hiệu són tiểu: thời điểm (ngày, đêm) và số lần

trong ngày Đây là yếu tố mang tính chất xã hội

và có giá trị quan trọng đối với bệnh nhân

Thể tích tồn lưu

1/ Dung tích > 300 ml 150-300 ml <150 ml

2/ Th ờ i gian gi ữ a 2 l ầ n

đ i ti ể u

> 2gi ờ 1-2 gi ờ < 1 gi ờ

3/ Th ể tích t ồ n l ư u < 50 ml 50-100 ml >100 ml

4/ Vòi n ướ c ti ể u >20

ml/giây

5-20 ml/giây < 5ml/giây

5/ Kh ả n ă ng ki ể m soát hoàn toàn

ban ngày,

th ỉ nh tho ả ng không

đượ c ban

đ êm

ban ngày có lúc không

đượ c, ban

đ êm không

đượ c

không

đượ c c ả

ngày l ẫ n

đ êm

Chức năng bảo vệ đường niệu trên

Thận là một trong những cơ quan sinh tồn

của cơ thể Bảo vệ thận cũng là một mục đích

quan trọng giúp cải thiện dự hậu cho người

bệnh Sự đánh giá dựa vào:

-Các kết quả xét nghiệm sinh hoá

-Có hiện tượng ngược dòng lên niệu quản không?

-So sánh với tình trạng của thận-niệu quản trước mổ: vì có một số đơn vị thận-niệu quản đã

có dãn nở trước Tốt: nếu giảm độ chướng nước; trung bình: nếu giữ nguyên độ chướng nước; xấu: nếu chướng nước thêm

1/ UIV bài ti ế t t ố bài ti ế t t ố bài ti ế t kém

2/ Ng ượ c dòng

không có ch ỉ có v ớ i th ể

tích l ớ n và áp

l ự c cao

th ườ ng xuyên

3/ Siêu âm không

ch ướ ng

n ướ c ho ặ c

có c ả i thi ệ n

độ ch ướ ng

n ướ c

ch ướ ng n ướ c

nh ẹ độ I ho ặ c

độ ch ướ ng

n ướ c ổ n đị nh, không t ă ng

ch ướ ng n ướ c

độ II, III ho ặ c

t ă ng thêm

Sự hài lòng của bệnh nhân

Tiêu chuẩn này mang tính chủ quan, khác 2 tiêu chuẩn trên có tính khách quan hơn Bệnh nhân được hỏi 2 câu:

Câu 1: ông có hài lòng với kết quả phẫu

thuật không? chọn một trong 4 câu trả lời: hài lòng, tạm được, không hài lòng, rất buồn

Câu 2: so sánh với lúc bình thường, khi còn

trẻ và chưa bị bệnh, ông đánh giá sự đi tiểu bây giờ được bao nhiêu phần trăm?

r ấ t bu ồ n

KẾT QUẢ

Có 84 bệnh nhân, tất cả là phái nam Trường hợp đầu tiên thực hiện tháng 3/1993 Trường hợp cuối thực hiện tháng 11/2004

1 bệnh nhân tử vong

83 trường hợp được theo dõi tối thiểu 3 năm

Trang 4

Thời gian mổ trung bình = 5g 52 phút ± 34 phút

Biểu đồ phân phối theo tuổi

Biểu đồ phân phối theo thời gian mổ

Tai biến – biến chứng

Tử vong

1 trường hợp vì viêm phúc mạc hậu phẫu vì

dò ruột Bệnh nhân được mổ lại 2 lần, lần sau cắt

bỏ bàng quang tân tạo và đem 2 niệu quản ra da

nhưng không phục hồi được sau mổ

Tai biến trong lúc mổ

1 trường hợp rách trực tràng trong thì cắt bỏ

bàng quang Trường hợp này được xử trí bằng

mở đại tràng sigma ra da Ống tiêu hóa được

khâu phục hồi lại 3 tháng sau, khi bàng quang

Biến chứng phải mổ lại

3 trường hợp (3/84 = 3,57%) Một bệnh nhân do penrose dẫn lưu khoang chậu trái sau phúc mạc hoạt động không tốt, gây tụ dịch Bệnh nhân sốt, đau, có phản ứng phúc mạc và được mổ lại thám sát vào ngày hậu phẫu 9 Khoang sau phúc mạc trái được rửa sạch bằng bétadine pha loãng và dẫn lưu bằng 2 penrose lớn đặt qua 1 đường rạch bên thành bụng Sau đó diễn tiến ổn định, các thông được rút dần nhưng bệnh nhân bị biến chứng hẹp niệu đạo do đặt thông kéo dài Bệnh nhân này có thời gian nằm viện lâu nhất (36 ngày) Hai bệnh nhân còn lại sau khi cắt chỉ ngoài da thì thành bụng bị hở, phải khâu lại

Biến chứng gần

Liệt ruột kéo dài

10 trường hợp (11,9%) phải đặt thông

mũi-dạ dày quá 5 ngày

Xuất huyết tiêu hoá

1 trường hợp xuất huyết do loét dạ dày đã được xử trí bằng nội soi chích thuốc cầm máu

Dò dỉ nước tiểu

5 trường hợp (5,95%) dò dỉ nước tiểu qua dẫn lưu kéo dài, trên 10 ngày mới rút được hết các dẫn lưu 2 bên hố chậu 1 trường hợp dò dỉ trên mu tại

vị trí đặt thông bàng quang cũ, mặc dù đi tiểu khá tốt Bệnh nhân này được hướng dẫn tự đặt thông niệu đạo để lấy hết nước tiểu tồn lưu sau mỗi lần

đi tiểu Khoảng 1 tháng sau, khi bệnh nhân tái khám thì nơi dò dỉ đã lành hẳn

Biến chứng xa

1 trường hợp (1/84 = 1,19%) tiểu không kiểm soát ngày và đêm, trên cơ địa đái tháo đường Những cố gắng điều trị nội khoa không hiệu quả, sau cùng phải chuyển qua tạo hình van chuyển lưu ra da

3 trường hợp (3/84 = 3,57%) hẹp niệu đạo trước do đặt thông Một bệnh nhân được xử trí bằng nong niệu đạo định kỳ, hai bệnh nhân còn lại được xẻ rộng niệu đạo qua nội soi Sau 4-6

Trang 5

tháng, cả 3 bệnh nhân đi tiểu khá dễ và vòi nước

tiểu chấp nhận được

9 trường hợp (10,71%) hẹp cổ bàng quang

tân tạo (chỗ nối bàng quang vào niệu đạo) được

cắt rộng chỗ hẹp qua nội soi 2-3 tháng sau

Đánh giá hiệu quả theo thời gian

Chức năng bàng quang

3 tháng

(%)

6 tháng

(%)

Trên 6 tháng

(%)

t ố 48 (57,83) 71 (85,54) 68 (81,93)

Trung bình 33 (39,76) 11 (13,25) 14 (16,87)

x ấ u 2 (2,41) 1 (1,20) 1 (1,20)

Tiêu chuẩn để đánh giá là 5 yếu tố: dung

tích, thời gian giữa 2 lần đi tiểu, thể tích tồn lưu,

vòi nước tiểu, khả năng kiểm soát

Có sự cải thiện rõ theo thời gian Tỷ lệ quanh

6 tháng là khả quan nhất, tỷ lệ tốt là 85,54% Sau

6 tháng, bàng quang tân tạo có khuynh hướng

dãn rộng và thể tích tồn lưu có khuynh hướng

tăng lên, ảnh hưởng đến tiêu chí đánh giá Tỷ lệ

tốt giảm còn 81,93%

Chỉ có 1 trường hợp (1,20%) được đánh giá

là xấu: tiểu không kiểm soát cả ngày lẫn đêm

trên bệnh nhân đái tháo đường

Chức năng bảo vệ đường niệu trên

83 bệnh nhân = 166 đơn vị thận – niệu quản

đ ị th ậ

đ ị th ậ

Trên 6 tháng:

s đ ị th ậ

t ố 65 (39,16) 117 (70,48) 133 (80,12)

trung bình 91 (54,82) 41 (24,69) 25 (15,06)

x ấ u 10 (6,02) 8 (4,82) 8 (4,82)

Có sự cải thiện dần theo thời gian, số trường

hợp được đánh giá là trung bình (3 tháng sau mổ)

thay đổi về hướng tốt (6 tháng và trên 6 tháng sau

mổ) Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi của

bàng quang tân tạo, bớt những cơn co thắt và áp

lực thấp hơn trong kỳ chứa đựng, nhờ vậy ít ảnh

hưởng trên khúc nối niệu quản - bàng quang

Sau hơn nửa năm, tỷ lệ tốt (thận bài tiết tốt,

không ứ nước hoặc có cải thiện độ ứ nước, niệu

nở) là 15,06% Tỷ lệ này thường ổn định từ sau 6 tháng, nếu tồn lưu nước tiểu ít và bàng quang không dãn lớn

Sự hài lòng của bệnh nhân

Với câu hỏi 1: sự hài lòng của bệnh nhân sau mổ

1 - 3 tháng:

s ố b ệ nh nhân (%)

3 - 6 tháng:

số bệnh nhân (%)

6 tháng-1n ăm: s ố bệnh nhân (%)

1-3 n ă m:

số bệnh nhân (%)

t ố t 57 (68,67) 61 (73,49) 77 (92,77) 72 (86,75)

trung bình

19 (22,89) 17 (20,48) 3 (3,61) 10 (12,05)

x u 7 (8,43) 5 (6,02) 3 (3,61) 1 (1,20)

Với câu hỏi 2: so sánh động tác đi tiểu trước

và sau mổ

1 - 3 tháng:

số bệnh nhân (%)

3 - 6 tháng:

số bệnh nhân (%)

6 tháng-1n ăm: s ố bệnh nhân (%)

1-3 n ă m:

số bệnh nhân (%)

t ố t 47 (56,63) 60 (72,29) 68 (81,93) 59 (71,08)

trung bình

26 (31,33) 15 (18,07) 12 (14,46) 21 (25,30)

x u 10 (12,05) 8 (9,61) 3 (3,61) 3 (3,61)

Bệnh nhân tự đánh giá kết quả đạt được sau mổ

Theo thời gian tỷ lệ bệnh nhân hài lòng với cuộc mổ tăng lên, từ khoảng 50% khi mới rút thông, tăng dần đến trên 60% lúc 3 tháng sau

mổ Tỷ lệ lên cao nhất trong thời gian 6 tháng – 1 năm sau mổ, với khoảng 90% hài lòng sau đó hạ xuống chút ít vì có một số bệnh nhân phải tự thông kết hợp với những lúc đi tiểu qua niệu đạo (để tránh hiện tượng dãn nở của bàng quang)

BÀN LUẬN

Có sự thay đổi rõ của bàng quang tân tạo theo thời gian

Ở giai đoạn sớm ngay sau rút thông, bàng quang tân tạo bị kích thích bởi rất nhiều yếu tố: quá trình viêm hậu phẫu, sự cọ sát của ống thông, nhiễm trùng niệu ngược dòng, sự ứ đọng nhiều dịch ruột dẫn đến sự gia tăng co bóp của thành bàng quang Kết quả là dung tích còn

Trang 6

3 tháng sau dung tích bàng quang tân tạo

tăng và áp lực giảm dần

Sau 6 tháng, thể tích bàng quang tân tạo ổn

định dần, thay đổi chậm lại Khuynh hướng

chung là những cơn co bóp tự phát giảm dần

Phần lớn các trường hợp đạt được kết quả tốt về

khả năng chứa đựng và tống xuất nước tiểu

Trên 1 năm trở đi, đa số là ổn định, ít thay

đổi Vấn đề quan trọng nhất là cần theo dõi

lượng nước tiểu tồn lưu, vì đây là nguyên nhân

cơ bản sẽ gây dãn nở dần bàng quang

Tỷ lệ tai biến – biến chứng chấp nhận

được

Nếu so sánh với một số tác giả như

Melchior(5), Wenderoth(9), Stein(7), Studer(8),

Skinner(6) là những tác giả cũng sử dụng hồi

tràng để tạo hình thay thế bàng quang thì chúng

tôi có tỷ lệ tai biến – biến chứng chấp nhận được

Những công bố của các tác giả trên cho thấy tỷ lệ

tử vong là 1 – 1,6%, tỷ lệ biến chứng sớm là 7,5 –

42%, tỷ lệ biến chứng muộn là 2,4 – 17,2%

Thể tích tồn lưu nước tiểu cần được

đánh giá và theo dõi kỹ

Hầu hết các kết quả đều cho thấy có sự dãn

nở dần dần của bàng quang tân tạo Sự dãn nở

này được giải thích bằng định luật Laplace mà

trong giai đoạn đầu được xem như là một đáp

ứng tốt (vì làm tăng thể tích, giảm áp suất nhờ

đó sẽ tăng tỷ lệ kiểm soát nước tiểu, tránh tiểu

són) và thường sẽ ổn định sau nửa năm trở đi

Tuy vậy vẫn có những báo cáo về nhiều bàng

quang thể tích rất lớn Điều này đã được giải

thích do một lượng thể tích tồn lưu nước tiểu

tăng dần rồi trở nên quá lớn

Nếu thể tích tồn lưu ổn định từ 50 ml trở

xuống thì bàng quang tân tạo ổn định rất lâu

Nếu thể tích tồn lưu trên 100 ml thì phải tìm ra

nguyên nhân để phòng tránh Các nguyên nhân

có thể là:

(1) thoát vị thành bụng sau cuộc đại phẫu (vì

tuổi cao, thể trạng kém, suy dinh dưỡng ) đưa

đến sức rặn kém

(2) hiện tượng ngược dòng nhiều lên niệu quản (3) hẹp chỗ nối niệu đạo vào bàng quang Hẹp chỗ nối niệu đạo vào bàng quang tân tạo là nguyên nhân thường gặp nhất Chúng tôi gặp biến chứng này với tỷ lệ 10,71% (9TH) Cách giải quyết cũng khá đơn giản, có thể dễ dàng xẻ rộng chỗ hẹp qua nội soi Chú ý vị trí xẻ là ở nửa trên của vòng tròn nhìn qua thị kính: 12 giờ nếu chỉ cần xẻ tại một vị trí, hoặc 10 giờ và 2 giờ nếu cần xẻ tại hai vị trí Không nên xẻ quá rộng ngay

ở thì đầu để tránh hiện tượng tiểu són Nếu cần thiết sẽ xẻ thêm lần nữa, qua việc theo dõi mức

độ cải thiện của động tác đi tiểu và thay đổi thể tích nước tiểu tồn lưu

Dù có tìm và giải quyết những nguyên nhân gây tiểu khó, có thể vẫn còn một số ít bệnh nhân chưa tự tiểu được ngay, kể cả sự hỗ trợ bằng áp dụng thủ thuật Vasalva Vì vậy tất cả phải được báo trước về khả năng tự thông tiểu khi cần thiết Nguyên tắc “tự thông tiểu sạch và cách quãng” phải được giải thích và hướng dẫn cho mọi bệnh nhân tạo hình bàng quang bằng ruột,

mở rộng lẫn thay thế Thực tế cho thấy, đối với bàng quang trực vị, “tự thông tiểu sạch và cách quãng” là phương pháp tốt để giải quyết vấn đề tồn lưu nước tiểu Cần theo dõi thường xuyên thể tích nước tiểu tồn lưu Có thể đánh giá thể tích này bằng siêu âm hay bằng thông tiểu sau khi đi tiểu Cách thức sau chính xác và đơn giản hơn Để phát hiện sớm tình trạng này, nên thông mỗi tháng ít nhất một lần để đánh giá lượng nước tiểu tồn lưu

KẾT LUẬN

Bàng quang thay thế nối với niệu đạo (bàng quang trực vị) là một lựa chọn tốt và cần thiết cho những bệnh nhân khi phải cắt bỏ bàng quang Phương pháp này giúp cho bệnh nhân có thể đi tiểu một cách tự nhiên, tránh mặc cảm tật nguyền và hội nhập đời sống xã hội sau mổ Tuy

là một phẫu thuật khá lớn nhưng tỷ lệ tai biến – biến chứng chấp nhận được

Bàng quang tân tạo có những kết quả khá tốt

từ tháng thứ 6 sau mổ Để bàng quang có thể ổn

Trang 7

định lâu dài theo thời gian, phải giữ thể tích

nước tiểu tồn lưu ở mức thấp nhất

Tuy vậy, bàng quang trực vị chỉ có thể thay

thế tốt bàng quang thiên nhiên về mặt chức năng

chứa đựng Về mặt chức năng tống xuất, bệnh

nhân cần phải tập để vận động tốt cơ bụng

nhằm hỗ trợ động tác đi tiểu Bệnh nhân cũng

cần phải được giải thích sự cần thiết theo dõi và

phát hiện thể tích tồn lưu lớn, đồng thời khuyến

cáo trước phương pháp tự thông cách quãng có

thể được áp dụng để tránh hiện tượng dãn nở

quá mức của bàng quang tân tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

on the Camey II procedure”, World J Urol (14), pp 27-28

replacement using detubularized ileum “, Bladder

Reconstruction and Continent Urinary Diversion - 2nd

edit - Chicago - Mosby Year Book Inc., pp 374-382

văn Ân (2004), “Phẫu thuật không chuyển lưu trong niệu

khoa”, Y Học TP Hồ Chí Minh (8), (1), tr 289 – 295

văn Ân (2005), “Tạo hình bàng quang nằng ruột”, Tạp chí

Y Học VN (313), tr 755 – 763

Juernermann K P (1988), “Continent ileal bladder for

urinary tract reconstruction after cystectomy: survey of 44

patients”, J.Uro (139), pp 714-718

Hopwood B (1991), “Lower urinary tract reconstruction

following cystectomy: experience and results in 126

patients using the Kock ileal reservoir with bilateral

ureteroileal urethrostomy”, J.Uro (146), pp 756-760

(2004), ”The orthotopic T pouch ileal neobladder:

experiences with 209 patients”, J.Uro (172), pp 584 – 587

(1995), “Experience in 100 patients with an ileal low

pressure bladder substitute combined with an afferent

tubular isoperistaltic segment”, J.Uro (154), pp 49-56

Miller K, Hautmann R E (1990), “The ileal neobladder:

experience and results of more than 100 consecutive

cases”, J.Uro (143), pp 492-497

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm