1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả ngoại kiểm chuẩn xét nghiệm đột biến gen EGFR năm 2014 và 2015 tại Bệnh viện Bạch Mai

11 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 295,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm chuẩn hóa kỹ thuật và xác định tính chính xác của xét nghiệm đột biến gen EGFR bằng kỹ thuật Strip Assay đang thực hiện tại Đơn vị Gen Trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai. Phương pháp: 29 mẫu bệnh phẩm do Mạng lưới Kiểm soát Chất lượng Di truyền học Phân tử châu Âu.

Trang 1

KẾT QUẢ NGOẠI KIỂM CHUẨN XÉT NGHIỆM ĐỘT BIẾN GEN EGFR

NĂM 2014 VÀ 2015 TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Ph m C m Ph ơng*; Mai Tr ng Khoa*; Nguy n Ti n Lung*

TÓM TẮT

Mục tiêu: chu ẩn hóa kỹ thuật và xác định tính chính xác của xét nghiệm đột biến gen EGFR bằng kỹ thuật Strip Assay đang thực hiện tại Đơn vị Gen Trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai Phương pháp: 29 mẫu bệnh phẩm do Mạng lưới Kiểm soát Chất lượng Di truyền học Phân tử châu Âu (The European Molecular Genetics Quality Network - EMQN) và Hệ thống Ngoại kiểm Chất lượng Vương quốc Anh (UK National External Quality Assessment Schemes - UK NEQAS)

cung cấp năm 2014, 2015 để xác định đột biến gen EGFR bằng kít EGFR StripAssay®

(ViennaLab) Các kết quả này sẽ được gửi trả trực tuyến và các tổ chức này đánh giá, công bố

kết quả Kết quả: cả 29 mẫu kiểm chuẩn thực hiện đều cho kết quả chính xác với công bố của EMQN và UK NEQAS (đạt 100%) Kết luận: kỹ thuật xét nghiệm sử dụng kít EGFR StripAssay®

và thiết bị hiện có tại Đơn vị Gen Trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai đảm bảo tiêu chuẩn để phát hiện

đột biến gen EGFR Các xét nghiệm này có độ chính xác cao, ổn định, từ đó cung cấp thông tin

chính xác cho bác sỹ lâm sàng chẩn đoán và lập điều trị cho bệnh nhân (BN) ung thư phổi (UTP) không tế bào nhỏ

* Từ khóa: Ung thư phổi không tế bào nhỏ; Đột biến gen EGFR; Ngoại kiểm kiểm tra chất lượng xét nghiệm

The Results of External Quality Assessment of EGFR Mutations Testing at Bachmai Hospital

Summary

Objectives: To standardize the technique and assess the realibility of EGFR mutations tests

by Strip Assay technique at the Gene Therapy Unit, Bachmai Hospital Methods: 29 samples for external quality assessment which obtained from the European Molecular Genetics Quality Network (EMQN) and UK National External Quality Assessment Schemes (UK NEQAS) from

2014 to 2015 were detected EGFR mutations by EGFR StripAssay® (ViennaLab), these results were submited online and compared with validated results Results: All of samples had same results with publication of EMQN and UK NEQAS (100% efficiency) Conclusion: EGFR mutations tests with EGFR StripAssay® kit and equipment available at the Gene Therapy Unit, Bachmai Hospital ensure the quality to detect EGFR mutations These tests have high accuracy, providing more details for clinicians in diagnosis and treatment of non-small lung cancer management

* Key words: Non-small cell lung cancer; EGFR mutation; External quality assessment

* Bệnh viện Bạch Mai

Ngày nh n bài: 04/07/2016; Ngày ph n bi n đánh giá bài báo: 13/12/2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư phổi là bệnh ung thư phổ biến

trên thế giới và ở Việt Nam Hiện nay, có

nhiều tiến bộ trong chẩn đoán (sinh học

phân tử, tế bào…) và điều trị bệnh UTP

(phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị đích…),

do đó đã nâng cao hiệu quả điều trị và cải

thiện chất lượng sống cho người bệnh

Một trong những tiến bộ trong chẩn

đoán là xét nghiệm đột biến gen EGFR

(Epidermal Growth Factor Receptor: thụ

thể yếu tố phát triển biểu mô) Gen EGFR

này đóng vai trò quan trọng trong hoạt

động chức năng phát triển và biệt hóa

của tế bào Đột biến EGFR dẫn đến tăng

biểu hiện hoặc tăng cường hoạt động của

EGFR được phát hiện trong nhiều loại

bệnh ung thư trong đó có UTP

Hiện nay, đã có nhiều bước tiến quan

trọng trong điều trị, như sự ra đời của các

thuốc điều trị đích (kháng thể đơn dòng,

thuốc phân tử nhỏ, ức chế vùng tyrosine

kinase [tyrosine kinase inhibitor - TKI] của

thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô) đã

được sử dụng để điều trị cho BN UTP

không tế bào nhỏ Các nghiên cứu trên

thế giới và tại Việt Nam đã cho thấy BN

có đột biến EGFR có thời gian sống thêm

không bệnh tiến triển (progression-free

survival - PFS) và thời gian sống thêm

toàn bộ (overall survival - OS) cao hơn

BN không có đột biến EGFR khi được

điều trị bằng các thuốc TKI [1, 2] Vì vậy,

xét nghiệm đột biến gen EGFR cho BN

UTP không tế bào nhỏ thực sự cần thiết

để các bác sỹ lâm sàng lựa chọn phương

án điều trị tối ưu nhất cho người bệnh

Hiện nay, có nhiều phương pháp khác

nhau để xét nghiệm đột biến gen EGFR

như giải trình tự gen (giải trình tự Sanger hoặc pyrosequencing), real time PCR (ví dụ kít therascreen - Qiagen), lai đầu dò (Strip Assay - ViennaLab)… Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng: các kít therascreen, Strip Assay có độ nhạy cao, nhưng chỉ phát hiện được số lượng đột biến giới hạn theo thiết kế kít; trong khi các phương pháp giải trình tự có khả năng phát hiện đột biến mới, hiếm gặp, nhưng đòi hỏi số lượng tế bào mang đột biến trong mẫu phân tích lớn [3] Do vậy, các phương pháp xét nghiệm này có thể cho kết quả khác nhau trên cùng một mẫu phân tích Vì vậy, việc ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đánh giá khả năng phát

hiện đột biến gen EGFR

Nhằm chuẩn hóa kỹ thuật, đồng thời xác định tính chính xác và tính ổn định

của xét nghiệm đột biến gen EGFR, Đơn

vị Gen Trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai đã tham gia các đợt ngoại kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm của Mạng lưới EMQN

và Hệ thống UK NEQAS, đều có trụ sở tại Thành phố Manchester, Anh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

29 mẫu bệnh phẩm UTP không tế bào nhỏ nhận được từ EMQN (10 mẫu năm

2014, 10 mẫu năm 2015) và UK NEQAS (9 mẫu năm 2015) Các mẫu này đều được cố định bằng formalin và đúc paraffin (formalin-fixed, paraffin-embedded - FFPE)

Trang 3

để làm tiêu bản HE và phân tích đột biến

gen EGFR Đây là các mẫu mù, gửi cho

tất cả các phòng thí nghiệm đăng ký tham

gia ngoại kiểm, trong đó tình trạng đột

biến gen EGFR xác định trước đó từ một

phòng thí nghiệm chuẩn

2 Phương pháp nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu: Đơn vị Gen Trị

liệu, Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung

bướu - Bệnh viện Bạch Mai

* Thời gian nghiên cứu: năm 2014 -

2015

* Phương pháp nghiên cứu: đối chiếu

kết quả phân tích đột biến EGFR tại Bệnh

viện Bạch Mai với kết quả của các tổ

chức ngoại kiểm

* Thiết bị, vật tư, hóa chất:

- Thiết bị: thiết bị cơ bản của phòng thí

nghiệm sinh học phân tử như bộ pipet

kèm giá đỡ (Eppendorf Research Plus),

máy ly tâm lạnh (Eppendorf 5424R),

máy ủ nhiệt kèm lắc rung (Eppendorf

Thermomixer comfort), máy định lượng

ADN theo nguyên tắc huỳnh quang

(Qubit® 2.0 Fluorometer), máy PCR

(Eppendorf Mastercycler pro S)…

- Hóa chất: kít tách ADN từ mô FFPE

(PureLink® Genomic DNA Mini Kit,

Invitrogen), kít định lượng ADN theo

nguyên tắc huỳnh quang (Qubit™ dsDNA

HS, Molecular Probes), kít xác định đột

biến gen EGFR (EGFR StripAssay®,

ViennaLab)…

- Vật tư tiêu hao: vật tư cần thiết được

các hãng uy tín cung cấp: ống PCR; ống

ly tâm 1,7 ml; đầu tip 10, 20, 200, 1.000 µl

(Corning); ống Qubit assay (Invitrogen)…

* Các bước tiến hành: 29 mẫu bệnh phẩm được thực hiện xét nghiệm đột biến

EGFR theo quy trình như sau: tách ADN

từ mô FFPE (sử dụng kít PureLink®

Genomic DNA Mini Kit, Hãng Invitrogen), định lượng ADN (Qubit™ dsDNA HS, Molecular Probes), khuếch đại đoạn gen quan tâm bằng phản ứng PCR và lai sản phẩm khuếch đại với đầu dò đặc hiệu (EGFR StripAssay®, ViennaLab), phân tích kết quả (sử dụng phần mềm StripAssay®

Evaluator, ViennaLab)

* Đối chiếu kết quả: kết quả phân tích được gửi trực tuyến cho EMQN và UK NEQAS Sau đó, các tổ chức này sẽ so sánh kết quả của Bệnh viện Bạch Mai với kết quả xét nghiệm đã biết trước, từ đó sẽ phân tích, đánh giá về chất lượng xét

nghiệm EGFR tại Đơn vị Gen Trị liệu,

Bệnh viện Bạch Mai

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Kết quả ngoại kiểm của EMQN năm 2014

Việc ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đánh giá khả năng phát hiện đột

biến gen EGFR Nhằm chuẩn hóa kỹ

thuật, đồng thời xác định tính chính xác

và tính ổn định của xét nghiệm đột biến

gen EGFR, Đơn vị Gen Trị liệu, Bệnh viện

Bạch Mai đã tham gia các đợt ngoại kiểm của hai tổ chức kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm uy tin trên thế giới: EMQN (từ năm 2014) và UK NEQAS (từ năm 2015)

Trang 4

Bảng 1: K ết quả phân tích đột biến gen EGFR trên các mẫu kiểm chuẩn EMQN 2014

Mã bệnh

Kết quả phân tích tại Đơn vị Gen Trị liệu

đột biến

đột biến

đột biến

đột biến

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Gen EGFR nằm ở nhiễm sắc thể 7p11.2,

dài khoảng 200 kb, chứa 28 exon Các đột

biến liên quan đến đáp ứng với TKI nằm

trên các exon từ 18 - 21, trong đó các đột

biến thay thế ở exon 18 và 21, mất đoạn

ở exon 19 (chiếm chủ yếu) làm tăng độ

nhạy với thuốc, đột biến thay thế T790M

và một số đột biến thêm đoạn trên exon

20 (chiếm tỷ lệ nhỏ) liên quan đến kháng

thuốc Tỷ lệ đột biến EGFR phụ thuộc vào

chủng tộc, tình trạng hút thuốc lá, giới…,

tỷ lệ đột biến EGFR ở người chủng tộc

châu Á cao hơn chủng tộc châu Âu, châu

Mỹ [2, 4]

Chúng tôi sử dụng kít EGFR StripAssay® (ViennaLab) để phân tích đột biến gen

EGFR Đây là kít được thiết kế theo nguyên tắc PCR kết hợp lai đầu dò đặc hiệu: giai đoạn PCR sử dụng mồi (primer) đặc hiệu giúp khuếch đại chính xác với các trình tự gen quan tâm Phân tử biotin được gắn trên mồi nhờ đó cũng đưa vào sản phẩm khuếch đại Ở giai đoạn lai, những đoạn ADN được khuếch đại kết hợp chính xác với đầu dò (probe) tương ứng trên teststrip, phân tử biotin gắn trên những đoạn này được hoạt hoá bởi streptavidin thành dạng phát màu

Trang 5

Nhờ đó, dễ dàng phát hiện kết quả bằng

cách so màu trên teststrip, đối chiếu với

thang chuẩn bằng mắt thường hoặc

phần mềm StripAssay® Evaluator Bộ kít

có độ nhạy cao, có khả năng phát hiện

khi số lượng tế bào mang đột biến < 1%,

đồng thời được cấp chứng chỉ tiêu

chuẩn xét nghiệm châu Âu áp dụng cho

chẩn đoán bệnh (European Conformity -

In Vitro Diagnostics, CE-IVD) Kít EGFR

StripAssay® có khả năng phát hiện

16 đột biến, chiếm tỷ lệ cao nhất trên exon 18 - 21 và có vai trò trong đáp ứng điều trị với TKI Hiện nay, chúng tôi

đã chuyển sang sử dụng kít EGFR XL StripAssay® được cải tiến từ kít EGFR StripAssay®, trong đó số lượng đột biến phát hiện cao hơn (30 đột biến trên các exon 18 - 21) để nâng cao hơn chất lượng xét nghiệm

Kết quả phân tích đột biến gen EGFR trên 10 mẫu kiểm chuẩn tại Đơn vị Gen Trị

liệu đều cho kết quả chính xác theo công bố của EMQN 2014, đạt tỷ lệ 100%

Hình 1: Phân tích kết quả trên thanh teststrip

(Trên mỗi thanh teststrip có sẵn vạch control cho phản ứng lai, PCR negative control cho từng exon [vạch 17 - 20] và PCR positive control (vạch 21) làm đối chứng Các vạch

1 - 16 tương ứng với 16 đột biến trên 4 exon 18 - 21 Mẫu 01.6127774 [trái] không phát hiện đột biến, mẫu 02.6130768 [giữa] phát hiện đột biến L858R trên exon 21,

mẫu 03.6153218 [phải] phát hiện đột biến G719S trên exon 18)

Trang 6

2 Kết quả ngoại kiểm của EMQN năm 2015

Bảng 2: So sánh k ết quả phân tích đột biến gen EGFR trên các mẫu kiểm chuẩn

EMQN 2015

Vị trí/phương

Kết quả phân tích tại Đơn vị Gen Trị liệu

(biểu mô tuyến)

Phế quản (sinh thiết)

Không phát hiện đột biến

Không phát hiện đột biến

(biểu mô tuyến)

U thùy trên phổi phải (phẫu thuật)

Đột biến L861Q (exon 21)

Đột biến L861Q (exon 21)

(biểu mô tuyến)

U thùy trên phổi phải (phẫu thuật)

Đột biến T790M (exon 20)

Đột biến T790M (exon 20)

cung cấp

EMQN không cung cấp

Không phát hiện đột biến

Không phát hiện đột biến

cung cấp

EMQN không cung cấp

Đột biến L858R (exon 21)

Đột biến L858R (exon 21)

cung cấp

EMQN không cung cấp

Không phát hiện đột biến

Không phát hiện đột biến

cung cấp

EMQN không cung cấp

Đột biến L858R (exon 21)

và T790M (exon 20)

Đột biến L858R (exon 21)

và T790M (exon 20)

cung cấp

EMQN không cung cấp

Không phát hiện đột biến

Không phát hiện đột biến

cung cấp

EMQN không cung cấp

Đột biến E746_S752del-insV (exon 19)

Đột biến E746_S752del-insV (exon 19)

cung cấp

EMQN không cung cấp

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Đột biến E746_A750del (exon 19)

Tương tự EMQN 2014, kết quả phân tích đột biến gen EGFR trên 10 mẫu kiểm

chuẩn EMQN 2015 tại Đơn vị Gen Trị liệu đều cho kết quả chính xác theo công bố,

đạt tỷ lệ 100%

Trang 7

3 Kết quả ngoại kiểm của UK NEQAS năm 2015

2015

Mã bệnh

Kết quả phân tích tại Đơn vị Gen Trị liệu

tuyến)

U phổi (phẫu thuật)

Không phát hiện

đột biến

Đột biến L747_P753delinsS (exon

19)

Đột biến L747_P753delinsS (exon 19)

Đột biến G746_P753delinsVS (exon 19) và T790M (exon 20)

Đột biến T790M (exon 20)

đột biến

đột biến

đột biến

Kết quả phân tích đột biến gen EGFR

trên 9 mẫu kiểm chuẩn UK NEQAS 2015

tại Đơn vị Gen Trị liệu cho kết quả chính

xác 7/9 mẫu Đối với 2 trường hợp mẫu

192L15D và 233L15C, UK NEQAS xác

nhận kết quả phân tích tại Đơn vị Gen Trị

liệu không phát hiện được các đột biến

hiếm gặp do hạn chế của kít xét nghiệm,

do đó vẫn đánh giá độ chính xác 100% về

chất lượng labo

Kết quả ngoại kiểm theo EMQN trong

năm 2014 và 2015 cho thấy Đơn vị Gen

Trị liệu cho kết quả chính xác 100% theo công bố của EMQN Đây là kết quả rất đáng khích lệ khi so sánh với kết quả tổng hợp của EMQN, tỷ lệ xét nghiệm lỗi của các phòng thí nghiệm tham gia ngoại kiểm năm 2014 là 3,8%, năm 2015 là 4,2%, nhưng tỷ lệ này ở Đơn vị Gen Trị liệu là 0% trong cả 2 năm Những vấn đề sai sót xảy ra ở các labo có thể do trường hợp đột biến hiếm gặp như G719S trên exon

18, E746_S752delinsV trên exon 19 hay L861Q trên exon 21 (được khuyến cáo không phát hiện bằng kít cobas); hoặc mẫu

Trang 8

có tỷ lệ tế bào mang đột biến thấp (như mẫu

2, 3 và 7 của EMQN 2014 có tỷ lệ này

< 15%), gây nên âm tính giả khi sử dụng

các phương pháp hoặc kít xét nghiệm có

độ nhạy không cao, đặc biệt là phương pháp giải trình tự gen [5, 6]

Bảng 4: Tổng hợp xét nghiệm lỗi của các labo tham gia kiểm chuẩn EMQN năm

2014 và 2015

(%)

(Năm 2014 có 277 labo ở 39 quốc gia đang ký tham gia, trong đó 258 labo hoàn thành và báo cáo kết quả Năm 2015 có 290 labo báo cáo kết quả trong tổng số

321 labo [ở 47 quốc gia] đăng ký tham gia)

Đối với kết quả ngoại kiểm theo UK

NEQAS 2015, Đơn vị Gen Trị liệu thực

hiện trên 9 mẫu bệnh phẩm, cho kết quả

chính xác 7/9 mẫu Đối với mẫu 192, khi

sử dụng kít EGFR StripAssay®, chúng tôi

chỉ phát hiện đột biến T790M trên exon 20,

thực tế mẫu này có thêm đột biến

G746_P753delinsVS trên exon 19 (đây là

đột biến rất hiếm gặp, theo cơ sở dữ liệu

COSMIC phân tích trên 141.465 bệnh

nhân, đột biến này chỉ chiếm 0,02% tổng

số đột biến) Đột biến này có thể phát

hiện được bằng kít EGFR XL StripAssay®

mà chúng tôi đang sử dụng hiện nay Trong khi đó, mẫu 233 mang đồng thời 2 đột biến hiếm gặp trên exon 20: đột biến thêm đoạn S768_D770 (0,02%) và đột biến thay thế P772A (< 0,01%), đều là những dạng không phát hiện được bằng kít EGFR StripAssay® Trong cả 2 trường hợp này, UK NEQAS đều xác nhận do hạn chế của kít xét nghiệm và vẫn đánh giá độ chính xác 100% về chất lượng labo [7, 8]

Trang 9

Bảng 5: Tổng hợp xét nghiệm lỗi của các labo tham gia kiểm chuẩn UK NEQAS năm 2015

(Có 100 labo báo cáo kết quả trong tổng số 105 labo đăng ký tham gia)

Hiện nay, có nhiều phương pháp khác

nhau để xét nghiệm đột biến gen EGFR

như giải trình tự gen (giải trình tự Sanger

hoặc pyrosequencing), real time PCR

(ví dụ như kít therascreen - Qiagen, cobas -

Roche), lai đầu dò (Strip Assay -

ViennaLab)… Mỗi phương pháp đều có

những ưu nhược điểm riêng: kít therascreen,

cobas, Strip Assay có độ nhạy cao, có

chứng chỉ IVD, nhưng chỉ phát hiện được

số lượng đột biến giới hạn theo thiết kế

kít (thường là các dạng đột biến phổ biến,

với tổng tỷ lệ xuất hiện chiếm > 95%);

trong khi các phương pháp giải trình tự có

khả năng phát hiện được đột biến mới,

hiếm gặp, nhưng đòi hỏi số lượng tế bào

mang đột biến trong mẫu phân tích lớn, đồng thời kết quả xét nghiệm phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật viên (thiết kế mồi, thao tác thực hiện, nhận định kết quả) [3] Thực tế qua kết quả tổng kết của 3 đợt ngoại kiểm cho thấy: một số dạng đột biến hiếm gặp không phát hiện được bằng các kít thương mại như L861Q trên exon 21 (không phát hiện được bằng kít cobas - Roche), thêm đoạn exon 20 (đối với kít therascreen - Qiagen, Strip Assay - ViennaLab); các phương pháp giải trình

tự gen cho kết quả âm tính giả đối với mẫu có tỷ lệ tế bào mang đột biến thấp, ngoài ra chất lượng xét nghiệm không

ổn định [5, 6, 7, 8]

Trang 10

Bảng 6: Ưu, nhược điểm của một số phương pháp phát hiện đột biến gen EGFR [3]

Số xét nghiệm tối thiểu

Khả năng phát hiện đột

Thiết bị chuyên dụng

cần thiết

Hệ thống giải trình tự Sanger

Hệ thống pyrosequencing

Hệ thống real

PCR

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 29 mẫu bệnh phẩm

UTP không tế bào nhỏ thực hiện ngoại

kiểm xét nghiệm EGFR tại Đơn vị Gen Trị

liệu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2014 -

2015 cho thấy:

- Kỹ thuật xét nghiệm sử dụng kít

EGFR StripAssay® và các thiết bị hiện có

tại Đơn vị Gen Trị liệu, Bệnh viện Bạch

Mai đảm bảo tiêu chuẩn để phát hiện đột

biến gen EGFR

- 27/29 mẫu ngoại kiểm cho kết quả

chính xác, 2 mẫu còn lại mang các đột

biến rất hiếm gặp và không có trong thiết

kế của bộ kít, do đó vẫn được các tổ

chức ngoại kiểm đánh giá labo Đơn vị

Gen Trị liệu cho kết quả chính xác 100%

Như vậy, xét nghiệm đột biến gen

EGFR thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai

có độ chính xác và ổn định cao Từ đó,

cung cấp thêm thông tin đáng tin cậy cho

bác sỹ lâm sàng trong điều trị UTP không

tế bào nhỏ

L i c m ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Công ty Roche và AstraZeneca đã hỗ trợ đăng ký tham gia kiểm chuẩn xét nghiệm đột biến gen

EGFR

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tạ Thành Văn Nghiên cứu xác định đột biến gen quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị ung thư đại trực tràng và UTP Đề tài Khoa học cấp Nhà nước KC.04.06/11-15 Bộ Khoa học và Công nghệ 2014

2 Shi Y, Au J.S, Thongprasert S, Srinivasan S, Tsai CM, Khoa M T et al A

prospective, molecular epidemiology study of EGFR mutations in Asian patients with advanced non-small-cell lung cancer of adenocarcinoma histology (PIONEER) J Thorac Oncol 2014,

9 (2), pp.154-162

3 Jancik S, Drabek J et al A comparison

of direct sequencing, pyrosequencing, high resolution melting analysis, TheraScreen DxS, and the K-ras Strip Assay for detecting KRAS

mutations in non small cell lung carcinomas

Journal of Experimental & Clinical Cancer Research 2012, 31, pp.79-91

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w