1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng phương pháp kích thích thần kinh cơ trong phẫu thuật thoát vị tủy màng tủy

6 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 838,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành nhằm xác định triệu chứng lâm sàng của nhóm bệnh lý thoát vị tủy màng tủy và kết quả điều trị. Nghiên cứu tiến hành trên 32 bệnh nhân TVTMT được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật cắt vá thoát vị dưới kính vi phẫu kết hợp với phương pháp kích thích thần kinh cơ, trong khoảng thời gian từ tháng 04/2009 đến tháng 07/2010 tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Trang 1

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH THẦN KINH CƠ

TRONG PHẪU THUẬT THOÁT VỊ TỦY MÀNG TỦY

Trần Quang Vinh*

TÓM TẮT

Bệnh lý thoát vị tủy màng tủy (TVTMT) là một dị tật bẩm sinh phức tạp, nếu được điều trị phẫu thuật kịp thời sẽ tránh được những hậu quả nặng nề cho bệnh nhân, gia đình và xã hội Việc ứng dụng phương pháp kích thích điện thần kinh cơ tại khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy đã tạo nhiều thuận lợi trong phẫu thuật bóc tách khối thoát vị và hạn chế tối đa tổn thương rễ thần kinh cho bệnh nhân

Mục tiêu: Xác định triệu chứng lâm sàng của nhóm bệnh lý thoát vị tủy màng tủy và kết quả điều trị Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tổng cộng có 32 bệnh nhân TVTMT được điều trị bằng

phương pháp phẫu thuật cắt vá thoát vị dưới kính vi phẫu kết hợp với phương pháp kích thích thần kinh cơ, trong khoảng thời gian từ tháng 04/2009 đến tháng 07/2010 tại bệnh viện Chợ Rẫy

Kết quả: Trong 32 bệnh nhân nghiên cứu, đa số vị trí thoát vị là đoạn cùng cụt Các biểu hiện ở da chủ yếu

là dát sắc tố, rối loạn cảm giác và vận động phân bố phần lớn theo rễ L4L5(37.5–50%), triệu chứng cơ vòng chiếm 34.4%.Triệu chứng cảm giác và vận động sau phẫu thuật 6 tháng cho kết quả không thay đổi 81,3%, tốt hơn 15,6%, xấu hơn 3,1% Triệu chứng cơ vòng sau phẫu thuật 6 tháng cho kết quả không thay đổi 78,1%, tốt hơn 8,8%, xấu hơn 3,1% Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật giúp cải thiện chức năng cho trẻ có triệu chứng lâm sàng theo thang điểm Necker, và không làm xấu đi đối với trẻ không có triệu chứng

Kết luận: Vi phẫu thuật kết hợp phương pháp kích thích điện thần kinh cơ tạo điều kiện dễ dàng để bóc tách

khối thoát vị và hạn chế tổn thương rễ thần kinh

Từ khóa: Thoát vị màng tủy, thoát vị tủy màng tủy

ABSTRACT

APPLICATION OF NEUROMUSCULAR STIMULATION IN MYELOMENINGOCELE SURGERY

Tran Quang Vinh* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 247 - 252

Background: Myelomeningocele is a complicated congenital defect, if it is intervened in time by surgery,

many severe consequences for the patients, their families and society can be avoided The application of neuromuscular stimulation in Neurosurgical deparment at Cho Ray hospital has created more favorable results in surgical dissection and minimized nerve root injury

Objective: Identification the clinical symptoms of myelomeningocele and treatment outcomes

Methods: Descriptive, cross sectional study of 32 myelomeningocele patients treated surgically using

surgical microscope and neuromuscular stimulation, at Cho Ray hospital, from April 2009 to July 2010

Results: 32 patients with myelomeningocele, most of the meningoceles located at the sacral and the coccygeal

area The pigmentation stigmata were commonly seen, sensory and motor disturbances distributed at L4, L5 roots

in majority of cases (37.5-50%), sphincter symptoms accounted for 34.4% At 6 month post-op follow up, for sensory and motor disturbances:unchanged 81.3%, better 15.6%, worse 3.1%; for sphinter problems: unchanged 78.1%, better 8.8%, worse 3.1% This research showed improvement of functions in children with clinical

* Khoa Hồi Sức Ngoại Thần Kinh BV Chợ Rẫy,

Tác giả liên lạc: TS.BS.Trần Quang Vinh ĐT: 0903712998, Email: vinhcrhospital@gmail.com

Trang 2

symptoms (Necker scale), and showed no worsening in children without symptoms

Conclusion: The combination of microsurgery and neuromuscular stimulation had a great benefit in doing

dissecting the herniated sac - elements and minimizing the nerve root injury

Key words: myelomeningocele, meningoceles

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lý thoát vị tủy màng tủy được biết đến

rất lâu từ những năm đầu thế kỷ 16 Cho đến

ngày nay, với những tiến bộ của ngành y học,

nhóm bệnh lý này được hiểu biết rõ ràng hơn về

cơ chế bệnh sinh liên quan đến quá trình phát

triển của phôi thai, với những phương tiện cận

lâm sàng chẩn đoán xác định và phương pháp

điều trị tối ưu(3)

TVTMT là nhóm bệnh phức tạp liên quan

đến nhiều chuyên khoa khác nhau, nếu không

phẫu thuật thì hơn 70% trẻ bị rối loạn cơ vòng,

khiếm khuyết thần kinh, các dị tật về cột sống…

để lại di chứng nặng nề cho bệnh nhân và ảnh

hưởng to lớn đến gia đình và xã hội

Việc áp dụng điện thế gợi cảm giác, vận

động góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh

lý này Trong điều kiện thực tế của nước ta hiện

nay chưa có điện thế gợi trong phẫu thuật,

chúng tôi ứng dụng phương pháp kích thích

thần kinh cơ để xác định rễ vận động ngoại biên

thông qua sự đáp ứng co cơ do thần kinh chi

phối tương ứng Chúng tôi thực hiện nghiên

cứu đánh giá phương pháp này với các mục tiêu

sau:

- Mô tả triệu chứng lâm sàng của nhóm bệnh

lý TVTMT

- Đánh giá kết quả phẫu thuật TVTMT có

ứng dụng phương pháp kích thích điện thần

kinh cơ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân ở lứa tuổi nhũ nhi và

trẻ em dưới 15 tuổi được chẩn đoán thoát vị tủy

màng tủy nhập viện Chợ Rẫy từ tháng 04/2009

đến tháng 07/2010

chẩn đoán TVTMT Tuổi dưới 15 tuổi

Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán TVTMT khi còn trong bụng mẹ Bệnh nhân trên

15 tuổi

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu cắt ngang mô tả hàng

loạt ca có can thiệp phẫu thuật

Phương pháp thu thập số liệu

Tất cả bệnh nhân đều được khám và mô tả các triệu chứng ở giai đoạn phát hiện bệnh theo một phương pháp khám thống nhất, theo một biểu mẫu thống nhất

Xử lý số liệu bằng SPSS 11.5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Trong quá trình nghiên cứu từ tháng 04/2009 đến 07/2010, chúng tôi đã thu thập tổng cộng 32 trường hợp TVTMT được chẩn đoán và điều trị bằng phương pháp phẫu thuật cắt vá thoát vị dưới kính vi phẫu kết hợp với phương pháp

kích thích thần kinh cơ

Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu

Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu Bảng 1 Phân bố theo giới tính

Trong dân số nghiên cứu của chúng tôi, tuổi nhỏ nhất là 1 ngày tuổi, lớn nhất là 112 tháng tuổi, phổ biến nhất là nhóm tuổi 12-24 tháng chiếm 31,2%, tỉ lệ nam/nữ là 12/20 Kết quả này tương tự với nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Huân 2007(4), CDC 1992(1), Vivek JO 2008(6)

Lý do nhập viện

Trang 3

Hầu hết gia đình đều tự đưa bệnh nhi đến

viện khám vì u ở cùng thắt lưng cùng, có 3

trường hợp khối thoát vị vỡ người nhà mới

đưa bé vào viện Số còn lại là những u mỡ

không triệu chứng sau đó khối này lớn dần

theo sự phát triển của bé và có những trường

hợp bắt đầu biểu hiện rối loạn tiêu tiểu, yếu

liệt 2 chân nên cho bé di khám bệnh và được

chuyển đến khoa Ngoại thần kinh, một vấn đề

cần nêu là một số nhân viên y tế không hiểu

rõ về bệnh lý TVTMT này giải thích không

đúng cho người nhà, từ đó người nhà vẫn

nghĩ đơn giản rằng đó là khối u mỡ, phẫu

thuật cũng đơn giản => gia đình đưa bé đến

viện trễ và lúc này triệu chứng cũng biểu hiện

nặng Do đó việc giải thích với người nhà

hiểu về bệnh lý TVTMT là hết sức quan trọng

Chỉ một trường hợp nhập viện vì khối thoát

vị ở đoạn cột sống ngực, tuy nhiên bệnh nhi

này có rối loạn cơ vòng và triệu chứng về cảm

giác, vận động Phần còn lại là các bệnh nhi

đều nhập viện vì yếu chân và rối loạn cơ

vòng

Bảng 2 Lý do nhập viện

Vị trí khối thoát vị

Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận

được những vị trí thoát vị sau:

Bảng 3 Vị trí khối thoát vị

Kết quả này cũng phù hợp với công trình

nghiên cứu 74 bệnh nhân bị dị tật cột sống chẻ

đôi từ 01/1980 - 12/1996 thuộc đại học y khoa

Izmir Thổ Nhĩ Kỳ(2), họ đã ghi nhận như sau:

không có trường hợp nào xảy ra ở vị trí cổ, mức tổn thương cao nhất là ngực T3, và thấp nhất là S2, và vị trí thường gặp nhất là vùng cột sống lưng

Theo công trình nghiên cứu của chúng tôi thì thấy có sự tương đồng, chỉ một trường hợp khối thoát vị có vị trí ở ngực T8, không có ca nào khối thoát vị ở cổ, nhiều nhất lại thuộc vị trí xương cùng chiếm đến 28/32 ca Thoát vị tại vị trí cột sống cổ rất hiếm, hầu hết thai nhi đều chết trong bụng mẹ hoặc bị chấm dứt thai kỳ Điều này giải thích được phần nào về việc khối thoát vị không hiện ở đoạn cột sống cổ trong lô nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu tham khảo, cũng như chỉ ra được hai vị trí của khối

thoát vị thường gặp là đoạn lưng và cùng cụt

Các biểu hiện ở da

Bệnh lý TVTMT có biểu hiện lâm sàng đa dạng, và một trong những yếu tố góp phần cho

sự đa dạng đó là những biểu hiện ở da

Bảng 4 Các biểu hiện ở da

Những biểu hiện ở da rất quan trọng và đặc hiệu, trong nghiên cứu của chúng tôi thì tất cả

32 trường hợp bệnh nhi đều có biểu hiện ở da,

từ đơn giản là một khối u mỡ dưới da đến những trường hợp có nhiếu dấu hiệu phối hợp Dát sắc tố lại là dấu hiệu thường gặp nhất chiếm 40,6% tổng số ca, phối hợp nhiều dấu hiệu da chiếm đến 31,3%

Qua đây chúng tôi nhận thấy nhờ các dấu hiệu đơn giản ở da mà việc thăm khám cũng không phải là khó, đã giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong việc phát hiện những dị tật gai sống chẻ đôi ẩn, và tỉ lệ này chúng tôi thống kê được là 5/32 trường hợp nghiên cứu

Trang 4

Hình 1 Các biểu hiện ở da trong TVTMT

Triệu chứng cảm giác và vận động trước phẫu

thuật

Sau khi khám lâm sàng chúng tôi thu thập

những số liệu như sau:

- Có triệu chứng cảm giác: 6 ca

- Không có triệu chứng cảm giác: 26 ca

- Có triệu chứng vận động: 8 ca

- Không triệu chứng vận động: 24 ca

Vị trí tổn thương rễ vận động L1, L2, L3

chiếm 25%, và nhiều nhất lại là rễ L4 L5 chiếm

đến 37,5% Vị trí vùng rễ cảm giác bị ảnh hưởng

cũng nhiều nhất ở L4, L5 chiếm đến 50%, và L1,

L2, L3 là 16,7% Từ những số liệu nghiên cứu

tham khảo và số liệu của đề tài này, chúng tôi

ghi nhận như sau: không phải vị trí thoát vị

thuộc đoạn cột sống nào là rễ tương ứng bị ảnh

hưởng và không phải tổn thương rễ vận động

nào thì rễ cảm giác cũng bị ảnh hưởng mà nó

độc lập nhau => cần phải khám lâm sàng thật

cẩn thận và kỹ lưỡng cả vận động và cảm giác

Trong lô nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận

được những bệnh nhi chỉ đơn thuần biểu hiện

triệu chứng cảm giác mà không hề yếu chi

Chúng tôi có ghi nhận như vậy một phần vì sự

khác biệt khách quan về số liệu nghiên cứu giữa

rễ vận động và cảm giác Mặt khác quan trọng

hơn, theo cơ chế bệnh sinh thì trong ống sống

hai rễ vận động và cảm giác còn tách rời nhau,

vì vậy nếu giả sử khối mỡ thoát vị dính với rễ

thần kinh nào thì rễ ấy bị ảnh hưởng

Triệu chứng cơ vòng trước phẫu thuật

Trong đa số các bệnh nhi TVTMT có biểu

rối loạn chức năng bàng quang ở trẻ mới sanh, chỉ có thể dựa vào sự quan sát bài tiết nước tiểu

tự nhiên và không phải là dấu hiệu đáng tin cậy, trương lực cơ và sự co thắt cơ hậu môn cũng không phải là dấu hiệu tin cậy của cảm giác vùng đáy chậu

Như vậy việc đánh giá rối loạn cơ vòng nên được theo dõi theo từng cụm thời gian khi trẻ phát triển Và điều đáng chú ý ở đây là phần lớn trẻ nhập viện tập trung ở lứa tuổi trung bình là

21 tháng => việc đánh giá rối loạn cơ vòng là tương đối dễ dàng

Qua thăm khám lâm sàng và lý do nhập viện của trẻ chúng tôi ghi nhận được những số liệu như sau:

- Có rối loạn cơ vòng: 11ca

- Không rối loạn cơ vòng: 21 ca

Trong những ca rối loạn cơ vòng, thì chỉ 2 bệnh nhi chỉ đơn thuần là rối loạn đi tiểu (18,2%) còn lại 9 bé bị rối loạn tiêu tiểu (81,8%) Theo tài liệu nghiên cứu trong nước của tác giả Phạm Hồng Huân (4), trên 51 trường hợp TVTMT thì có đến 49 ca là có rối loạn cơ vòng, điều này minh chứng rằng triệu chứng cơ vòng

là thường gặp trong loại bệnh lý này

Tóm lại rối loạn cơ vòng là một triệu chứng thường gặp trong bệnh lý TVTMT, gây ảnh hưởng rất nhiều cho bản thân của bệnh nhi và gia đình, mặc khác những di chứng về sau cũng thật sự nặng nề => cần đánh giá lâm sàng thật cẩn thận, can thiệp phẫu thuật kịp thời ngay khi

có chẩn đoán

Trang 5

Kết quả điều trị TVTMT

Thời gian phẫu thuật

Ngắn nhất: 45 phút Dài nhất: 180 phút Thời

gian phẫu thuật ngắn nhất gặp trong phẫu thuật

thoát vị màng tủy đơn thuần và nhỏ, chỉ cần bộc

lộ cổ thoát vị, bóc tách và may cổ túi lại, kích

thước cổ túi là chỉ 3 mm, chỉ cần hai đường

khâu

Thời gian phẫu thuật dài nhất gặp trong

phẫu thuật lipomyelomeningocele, u mỡ phức

tạp từ ngoài chui vào lòng ống sống, dính quá

nhiều dây thần kinh, việc bóc tách và kích thích

các rễ vận động phải được tiến hành nhiều lần,

tiêu hao khá nhiều thời gian

Thời gian hậu phẫu

Ngắn nhất: 6 ngày Dài nhất: 24 ngày Thời

gian hậu phẫu ngắn nhất trong phẫu thuật thoát

vị màng tủy đơn thuần và nhỏ Bé không có

biến chứng sau phẫu thuật, vết phẫu thuật lành

tốt

Thời gian hậu phẫu dài nhất gặp trong

những trường hợp nhiễm trùng vết phẫu thuật,

lý do là do bé bị rỉ nước tiểu và phân vào vết

phẫu thuật, những ca theo dõi ban đầu hay có

nhiễm trùng do chưa hướng dẫn người nhà kỹ

càng về chăm sóc cho bé

Tai biến trong lúc phẫu thuật và biến chứng

Trong nghiên cứu này không có trường

hợp nào mất máu nhiều trong lúc phẫu thuật,

phẫu thuật viên bóc tách và bộc lộ từng rễ

thần kinh rất tỉ mỉ dưới kính hiển vi kết hợp

kích thích từng rễ vận động bằng phương

pháp kích thích điện thần kinh, trong lúc đó

thì phẫu thuật viên phụ cầm máu bằng

bipolar, hạn chế mất máu tối đa

Chưa gặp tai biến đáng kể nào trong lúc

phẫu thuật Không có trường hợp nào tử vong

trong phẫu thuật

Qua điều trị phẫu thuật và theo dõi hậu

phẫu, chúng tôi ghi nhận những biến chứng

như sau:

Nhiễm trùng vết phẫu thuật: 1 ca

Đây là trường hợp đã nêu trên, do vết phẫu thuật bị nước tiểu và phân thấm vào làm bung vết phẫu thuật Sau đó được xử lý đắp gạc betadine, vài ngày sau may lại vết phẫu thuật => tiến triển tốt và lành, không dò dịch não tủy và không viêm màng não

Dò dịch não tủy: 2 ca

Đây là hai trường hợp dò dịch não tủy ngay ngày hôm sau phẫu thuật được băng ép nhưng không thành công, và phải phẫu thuật lại 2 ngày sau

Trong lúc phẫu thuật lại chúng tôi ghi nhân được có lỗ dò từ chỗ may màng cứng => cho thấy việc đóng vết phẫu thuật kỹ từng lớp là hết sức cần thiết

Tổn thương rễ L4:1 ca Bảng 5 Biến chứng

Triệu chứng cảm giác sau phẫu thuật 6 tháng

Chúng tôi đã theo dõi những bệnh nhi trên theo kế hoạch là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng sau phẫu thuật Đánh giá hiệu quả phẫu thuật thông qua việc khám lâm sàng và chụp lại MRI lúc 6 tháng sau phẫu thuật

Qua quá trình theo dõi 32 bệnh nhi trên, chúng tôi ghi nhận được những dữ kiện về cảm giác như sau:

- Không thay đổi: 26 ca

- Tốt hơn: 5 ca

- Xấu hơn: 1 ca

Bảng 6 Cảm giác sau phẫu thuật 6 tháng

Theo dõi vận động sau phẫu thuật 6 tháng

Tương tự như cảm giác, chúng tôi cũng đánh giá lâm sàng cho từng bệnh nhi sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng

Trang 6

Sau 6 tháng chúng tôi thu thập được những

dữ kiện sau:

- Không thay đổi: 26 ca

- Tốt hơn: 5 ca

- Xấu hơn: 1 ca (tổn thương rễ L4)

Bảng 7 Vận động sau phẫu thuật 6 tháng

Theo dõi triệu chứng cơ vòng sau phẫu thuật 6

tháng

Việc theo dõi lâm sàng đã được chúng tôi

tiến hành tương tự và kết quả như sau: Không

thay đổi: 25 ca, tốt hơn: 6 ca, xấu hơn:1ca

Bảng 8 Triệu chứng cơ vòng sau phẫu thuật 6 tháng

Triệu chứng cơ vòng sau phẫu

thuật 6 tháng

Bàn luận về phương pháp kích thích điện thần

kinh cơ phối hợp vi phẫu thuật

Như chúng ta đã biết bệnh lý TVTMT là một

bệnh lý phức tạp và việc điều trị phẫu thuật là

muôn vàn khó khăn Vì các rễ TK trong chùm

đuôi ngựa ở trẻ em là rất nhỏ, rất khó nhìn thấy

và khó phân biệt với các dải sợi xơ => phẫu

thuật bằng mắt thường có thể làm tổn thương

thần kinh và hậu quả là làm nặng thêm các

khiếm khuyết thần kinh, và vi phẫu thuật thần

kinh đã phát triển vượt bậc =>việc áp dụng kính

hiển vi trong bệnh lý TVTMT đã trở nên phổ

biến

Song song với những tiến bộ đó, các phẫu

thuật viên còn áp dụng điện thế gợi cảm giác và

vận động trong mổ để nhận ra các cấu trúc rễ

thần kinh, từ đó ghi lại những biến đổi liên tục

từ những thay đổi điện thế cơ thần kinh trên

màn hình theo dõi (monitor)

Chúng tôi đã tìm hiểu và nhận thấy có thể

áp dụng phương pháp kích thích điện thần kinh

cơ trong vi phẫu thuật TVTMT để tìm rễ thần kinh vận động ngoại biên thông qua sự đáp ứng

co cơ tương ứng, phương pháp này có nguyên

lý hoạt động tương tự điện thế gợi vận động Như vậy tuy không thể toàn vẹn dò được các rễ cảm giác, nhưng việc áp dụng phương pháp kích thích điện thần kinh cơ để tìm dò rễ vận động thông qua việc đáp ứng co cơ cũng là một thành công ban đầu đáng kể

Theo số liệu nghiên cứu của Sabine H (2001)(5) trên 54 bệnh nhi TVTMT từ 6-12 tháng tuổi, thì tỉ lệ tổn thương rễ thần kinh sau phẫu thuật là 2%

Chúng tôi nhận thấy việc tổn thương rễ thần kinh vận động trong mổ trong lô nghiên cứu của chúng tôi là 1/32 trường hợp chiếm tỉ lệ 3,1%, cũng là một tỉ lệ không cao, tỉ lệ này gần tương xứng với các nghiên cứu có sử dụng điện thế gợi trong mổ Như vậy việc áp dụng phương pháp kích thích điện thần kinh cơ trong

vi phẫu thuật là thật sự cần thiết

KẾT LUẬN

Sau 2 năm thực hiện đề tài: “Ứng dụng phương pháp kích thích điện thần kinh cơ trong

vi phẫu thuật thoát vị tủy màng tủy” tại bệnh viện Chợ Rẫy Vi phẫu thuật kết hợp phương pháp kích thích điện thần kinh cơ tạo điều kiện

để bóc tách khối thoát vị và hạn chế tổn thương

rễ thần kinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MMWR 41: 497

2 Ersashin Y, Mutler S (1998) Split spinal cord malformations in children J Neurosurg: 57-65

NewYork

vùng thắt lưng cùng ở trẻ em Luận văn chuyên khoa 2, Đại học Y Dược TPHCM

of 54 cases Journal of neurosurgery vol 95: 173-178

factors The spina bifida: management and outcome: 59-67

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w