1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng và chất lượng sống ở bệnh nhân đau đầu mạn tính hàng ngày

7 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 309,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định các thể, các đặc điểm lâm sàng và đánh giá ảnh hưởng của đau đầu mạn tính hàng ngày đến chất lượng sống của người bệnh tại phòng khám thần kinh bệnh viện Đại Học Y Dược.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG SỐNG Ở BỆNH NHÂN

ĐAU ĐẦU MẠN TÍNH HÀNG NGÀY

Vũ Anh Nhị * , Nguyễn Anh Diễm Thúy **

TÓM TẮT

Mục tiêu: xác định các thể, các đặc điểm lâm sàng và đánh giá ảnh hưởng của đau đầu mạn tính hàng ngày

đến chất lượng sống của người bệnh tại phòng khám Thần Kinh bệnh viện Đại Học Y Dược

Phương pháp nghiên cứu: mô tả loạt ca

Kết quả: nữ chiếm 72,1% và nam chiếm 27,9%; tuổi khởi phát trung bình là 38,5 tập trung ở lứa tuổi

31-40; 76,7% bị đau cả hai bên; 51,2% đau ở mức độ vừa; đa số không có triệu chứng nào đi kèm với cơn đau đầu

Có 4 thể là migraine mạn tính (16,3%), đau đầu dạng căng thẳng mạn tính (58,1%), thể có cả hai đặc điểm trên (7%) và thể đau đầu mạn tính hàng ngày khác (18,6%) Ngoại trừ ở mức PF, đa số bệnh nhân đều bị suy giảm ở các mức điểm còn lại của thang SF-36

Kết luận: có hai thể chính là migraine mạn tính và đau đầu dạng căng thẳng mạn tính Chất lượng sống

của bệnh nhân đau đầu mạn tính hàng ngày bị ảnh hưởng một cách rõ rệt trên hầu hết các mức điểm của thang SF-36

Từ khóa: Đau đầu, đau đầu mạn tính hàng ngày, chất lượng sống

ABSTRACT

CLINICAL FEATURES AND QUALITY OF LIFE OF CHRONIC DAILY HEADACHE PATIENTS

Vu Anh Nhi, Nguyen Anh Diem Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 306 - 312

Objectives: determine the chronic daily headache entities and its clinical features and assess its impact to the

quality of life of patients in University Medical Center Ho Chi Minh city

Methods: case series

Results: women make up 72.1%, men 27.9%; average age of onset is 38.5 concentrated in 31-40 years old;

76.7% had pain on bilateral; 51.2% had moderate pain; most of them have not symptoms associated with headaches There are 4 entities: chronic migraine (16.3%), chronic tension type headache (58.1%), entity which have both characteristics (7%) and the other chronic daily headaches (18.6%) Except PF, almost patients were impaired on most scales of the SF-36

Conclusions: there are two majority entities - chronic migraine and chronic tension type headache Quality

of life of chronic daily headache patients were affected significantly on most scales of the SF-36

Keywords: headache, chronic daily headache, quality of life

* Bộ Môn Thần Kinh – Khoa Y Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

** Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Anh Diễm Thúy, ĐT: 0909250417, Email: doc_thuy@yahoo.com

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau đầu là cảm giác khó chịu ở vùng đầu

mặt, không đặc hiệu cho một bệnh lý nào và là

một than phiền thường gặp đứng hàng thứ tư ở các phòng cấp cứu(13) Theo Davenport (2008), đau đầu là một triệu chứng ảnh hưởng đến 95% dân số xét trong cả cuộc đời và ảnh hưởng đến

Trang 2

75% dân số ở bất kỳ tuổi nào(6) Theo Nguyễn

Văn Chương và cộng sự (2008), tỉ lệ mắc bệnh

đau đầu là 82,8% qua điều tra ngẫu nhiên 2000

người tình nguyện(16) Mặc dù chưa chính thức

được xếp riêng trong phân loại quốc tế về đau

đầu lần 2 (ICHD-II), đau đầu mạn tính hàng

ngày (ĐĐMTHN) thường được các thầy thuốc

lâm sàng dùng để ám chỉ đến một nhóm các hội

chứng đau đầu khác nhau với diễn tiến mạn

tính và có bằng chứng loại trừ các nguyên nhân

thứ phát Có ít nhất 90% các bệnh nhân đau đầu

ở các phòng khám thần kinh ngoại trú bị đau

đầu migraine, đau đầu dạng căng thẳng hay

một hội chứng đau đầu mạn(6)

Mặc dù nhân loại đã có những hiểu biết sâu

sắc và cách nhìn toàn diện về các mặt của

ĐĐMTHN từ bản chất sinh lý bệnh, các thay đổi

ở mức độ phân tử cho đến cách thức điều trị

nhưng vẫn còn tồn tại một số khó khăn và bàn

cãi trong vấn đề chẩn đoán các thể của nó

Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu

và báo cáo trên thế giới cho thấy ĐĐMTHN làm

suy giảm chất lượng sống của bệnh nhân một

cách có ý nghĩa cả về sức khỏe tâm thần cũng

như trên khía cạnh hoạt động thể chất, xã hội và

nghề nghiệp(4,5,9,14,23) Nghiên cứu này nhằm tìm

hiểu các thể, các đặc điểm lâm sàng và đánh giá

ảnh hưởng của ĐĐMTHN đến chất lượng sống

của người bệnh tại phòng khám Thần Kinh bệnh

viện ĐHYD

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân từ 14 tuổi trở lên đến khám lần

đầu vì ĐĐMTHN tại phòng khám Thần Kinh

bệnh viện ĐHYD

Tiêu chuẩn loại trừ

Có bằng chứng về lâm sàng, CT hay MRI sọ

não và các xét nghiệm khác cho thấy đau đầu là

hậu quả thứ phát; đang mang thai hay có bệnh

mạn tính khác kèm theo có thể ảnh hưởng đến

chất lượng sống cũng như tiền sử trầm cảm hay

bệnh tâm thần khác trước khi khởi phát đau

đầu

Thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi, thăm khám và tham khảo các xét nghiệm hình ảnh học

Công cụ thu thâp số liệu

Bộ câu hỏi khảo sát chất lượng sống SF-36v2 mẫu chuẩn của John E Ware

Xử lý số liệu

Số liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 17

Các yếu tố khảo sát

Giới, tuổi, nơi cư ngụ, học vấn, nghề nghiệp, mức sống, yếu tố gia đình, các thay đổi hay biến

cố lớn gây căng thẳng trong cuộc sống trước khi khởi phát bệnh, tuổi khởi phát, đặc điểm-tính chất của cơn đau đầu và các triệu chứng kèm theo, các yếu tố khởi phát hay thay đổi độ nặng cơn đau, yếu tố lạm dụng thuốc, thể đau đầu, chất lượng sống dựa trên các mức điểm theo thang SF-36: PF (chức năng thể chất), RP (những hạn chế vì lý do thể chất), BP (đau thân thể), GH (nhận thức về sức khỏe tổng quát), PCS (phức

bộ điểm về thể chất), VT (sinh lực), SF (chức năng xã hội), RE (những hạn chế vì lý do cảm xúc), MH (sức khỏe tinh thần), MCS (phức bộ

điểm về tinh thần)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Số bệnh nhân dược khảo sát là 86 với 62 nữ (72,1%) và 24 nam (27,9%) Tuổi khởi phát ĐĐMTHN trung bình là 38,5 tập trung ở lứa tuổi 31-40 (27,9%) 81% bệnh nhân không có yếu

tố gia đình; 94,2% không có các thay đổi hay biến cố lớn gây căng thẳng trong cuộc sống trước khi khởi phát bệnh; 68,6% có thời gian bệnh dưới 1 năm; 51% có cơn đau đầu kéo dài trên 4 giờ; 57% có tần suất 1 cơn/ngày và 69,8%

có thời gian cơn thường xảy ra không cố định trong ngày 76,7% bệnh nhân bị đau cả hai bên trong các cơn đau đầu khác nhau; 40,7% bị đau

cả đầu; 51,2% có cường độ đau ở mức độ vừa với đau kiểu mạch đập chiếm 20,9% và đau kiểu cảm giác nặng chiếm 24,4% Đa số các bệnh nhân không có triệu chứng nào đi kèm với cơn

Trang 3

đau đầu; 64% không có yếu tố tăng đau; 62,8%

ghi nhận giảm đau khi nằm nghỉ 58,1% có lạm

dụng thuốc

Bảng 1 Phân bố các thể đau đầu mạn tính hàng ngày

trong mẫu nghiên cứu theo giới và tuổi khởi phát

Thể Tần

số

Tỉ lệ Tỉ lệ

nữ

Tuổi khởi phát trung bình

Migraine mạn tính 14 16,3 78,6 31,9 (tập trung

31-40) Đau đầu dạng căng

thẳng mạn tính

50 58,1 70 39 (tập trung

31-40 và 51-60)

Có cả 2 đặc điểm 6 7 66,7 28,7 (tập trung

21-30) Đau đầu mạn tính

hàng ngày khác

16 18,6 75 46,7 (tập trung

31-40)

Ở nhóm migraine mạn tính (MMT): 57,1%

bệnh nhân bị đau hai bên; cường độ đau ở mức

vừa và nặng đều chiếm 42,9%; đau kiểu mạch

đập phổ biến nhất chiếm 42,9%; các trường hợp

có kèm theo buồn nôn nhẹ và nôn đều chiếm

42,9%; 57,1% các trường hợp sợ ánh sáng và

78,6% sợ tiếng động; 92,9% có yếu tố tăng đau

chính là hoạt động thân thể hàng ngày; yếu tố

giảm đau chính là nằm nghỉ trong tất cả các

trường hợp; số trường hợp có và không kèm

theo lạm dụng thuốc là ngang nhau

Ở nhóm đau đầu dạng căng thẳng mạn tính

(ĐĐCTMT): 86% bệnh nhân bị đau hai bên; 62%

có cường độ đau ở mức vừa; đau kiểu cảm giác

nặng là phổ biến chiếm 40%; 82% bệnh nhân

không kèm nhạy ấn đau quanh sọ; đa số không

có triệu chứng đi kèm; 76% không có yếu tố

giảm đau nào; nằm nghỉ vẫn là yếu tố giảm đau

chính chiếm 64%; 62% không kèm theo lạm

dụng thuốc

Bảng 2 So sánh giá trị trung bình các mức của

thang điểm SF-36 ở bệnh nhân trong mẫu nghiên

cứu với người bình thường

Thể Mức Trung

bình

người Mỹ bình thường ()

tỉ lệ dưới mức bình thường

Thể Mức Trung

bình

người Mỹ bình thường ()

tỉ lệ dưới mức bình thường

Có cả hai đặc điểm

ĐĐMTHN khác

() Ware J.E (2004) "SF-36 Health Survey Update"

The Use of Physiological Testing for Treatment

Trang 4

Planning and Outcomes Assessment Lawrence

Erlbaum Associates 3 rd 3 pp 693-718

Ở nhóm có cả đặc điểm của MMT và

ĐĐCTMT: 50% bệnh nhân bị đau hai bên; 50%

có cường độ đau ở mức vừa và 50% đau kiểu

mạch đập; 83,3% kèm theo buồn nôn nhẹ và tất

cả các trường hợp đều không kèm theo nôn; đa

số không có triệu chứng khác đi kèm; 50% các

trường hợp không có yếu tố tăng đau và 66,7%

không có yếu tố giảm đau rõ rệt; 66,7% không

kèm theo lạm dụng thuốc

Ở nhóm ĐĐMTHN khác: 75% bệnh nhân bị

đau hai bên; 50% có cường độ đau ở mức vừa,

đau nhói và đau kiểu mạch đập đều chiếm

31,3%; 56,3% kèm theo buồn nôn; đa số không

có triệu chứng khác đi kèm cơn đau đầu; 81,3%

không có yếu tố tăng đau và 50% không có yếu

tố giảm đau rõ rệt; số trường hợp có và không

kèm theo lạm dụng thuốc là ngang nhau

BÀN LUẬN

Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều cho

thấy tỉ lệ nữ cao hơn nam ở các bệnh nhân

ĐĐMTHN(2,3,15,17) Trong nghiên cứu của chúng

tôi, số bệnh nhân nữ cũng cao hơn nam một

cách có ý nghĩa (72,1% so với 27,9%)

Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tôi sống ở ngoại thành (87,2%) Theo tác

giả Nguyễn Thị Thúy Lan, số bệnh nhân sống ở

nông thôn cũng chiếm ưu thế (63%)(15)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh

nhân nghèo, thất nghiệp hoặc nghỉ hưu, tình

trạng hôn nhân là ly thân hay ly dị chiếm thiểu

số (7%; 16,3% và 4,7%) Theo tác giả Nguyễn Thị

Thúy Lan, cũng chỉ có 17,3% số bệnh nhân được

gọi là có tình trạng kinh tế kém, 11% già-hưu trí

và 13,6% có tình trạng hôn nhân là ly thân hay

ly dị(15) Như vậy, cả hai nghiên cứu đều cho kết

quả khác với các nghiên cứu trên thế giới được

thực hiện trong cộng đồng (cho thấy tỉ lệ lưu

hành của ĐĐMTHN dường như tỉ lệ nghịch với

tình trạng kinh tế xã hội(10,12,17,22) bởi vì cả hai

nghiên cứu đều thực hiện tại phòng khám nên

không phản ánh được tương quan giữa tỉ lệ lưu

hành của ĐĐMTHN và tình trạng kinh tế xã hội

của cộng đồng Ngoài ra, sự khác biệt có thể còn

do tiêu chuẩn chọn bệnh cũng như liên quan đến đặc điểm kinh tế và bảo hiểm y tế của người

dân Việt Nam

Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy số bệnh nhân có trình độ văn hóa thấp (từ cấp II trở xuống) chiếm đa số (68,6%) Theo kết quả từ công trình nghiên cứu của Scher và cộng

sự, tỉ lệ lưu hành của các thể đau đầu thường xuyên cao nhất ở nhóm có trình độ học vấn thấp nhất(17) Nhưng trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan, chỉ có 49% bệnh nhân có trình độ học vấn từ cấp II trở xuống(15) Sự khác biệt này giữa nghiên cứu của chúng tôi và của Nguyễn Thị Thúy Lan có thể do sự khác biệt về

cỡ mẫu

Về mặt tiền căn, kết quả thu được qua nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 14% số bệnh nhân có yếu tố gia đình Trong khi đó, theo tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan, có đến 63,1% số bệnh nhân có người thân bị đau đầu(15) Sự khác biệt giữa hai kết quả có thể liên quan đến cỡ mẫu và các tiêu chuẩn chọn mẫu Ngoài ra, nếu như những thay đổi trong cuộc sống được xem như một yếu tố thúc đẩy ĐĐMTHN trên các mẫu lâm sàng hay các mẫu được chọn lọc khác trong các nghiên cứu trên thế giới(1,7,8) thì trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 5,8% số bệnh nhân có các thay đổi hay biến cố lớn gây căng thẳng trong cuộc sống trước khi khởi phát ĐĐMTHN

vì nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại một phòng khám với cỡ mẫu nhỏ nên khó phản ánh được chính xác tương quan giữa tỉ lệ lưu hành của ĐĐMTHN với các biến cố gây căng thẳng

trong cuộc sống

Nếu như Silberstein và Lipton xếp MMT và ĐĐCTMT vào nhóm ĐĐMTHN có độ dài cơn trên 4 giờ(19) thì tiêu chuẩn chẩn đoán của

ICHD-II lại không đưa ra mốc thời gian tối thiểu cụ thể

về độ dài cơn của các thể này(11) Ngoài ra, hầu hết các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều không có thói quen cũng như chưa được khuyến khích ghi lại một nhật ký theo dõi đau đầu trong khi các thể ĐĐMTHN đều có một quá

Trang 5

trình diễn tiến kéo dài (ít nhất là 3 tháng) chưa

kể quãng thời gian đau đầu trước khi chuyển

sang ĐĐMTHN đã có từ rất lâu và cảm giác đau

(cường độ, kiểu đau) lại phụ thuộc rất nhiều vào

cảm nhận chủ quan của người bệnh Tất cả

những yếu tố này đều ảnh hưởng đến kết quả

nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của bệnh

nhân ĐĐMTHN trong nghiên cứu của chúng

tôi

Tuổi khởi phát ĐĐMTHN trong nghiên cứu

của chúng tôi trung bình là 38,5 Trong nghiên

cứu của Bigal và cộng sự tại một trung tâm đau

đầu, tuổi khởi phát ĐĐMTHN trung bình ở

nhóm thanh thiếu niên là 15,5 và ở người lớn là

25,4(2) Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về

cỡ mẫu, các tiêu chuẩn chọn mẫu và cách phân

tầng mẫu giữa hai nghiên cứu Tuy nhiên,

nghiên cứu của Colas và cộng sự lại cho thấy

tuổi khởi phát ĐĐMTHN trung bình gần giống

với chúng tôi là 38(4) Trong nghiên cứu của

chúng tôi, nhóm tuổi khởi phát ĐĐMTHN cao

nhất là từ 31-40 tuổi (27,9%) Theo tác giả

Nguyễn Thị Thúy Lan nhóm tuổi này là 40-50(15)

Sự khác biệt này có thể do cách chọn mẫu của

chúng tôi để loại trừ các bệnh lý đi kèm có thể

ảnh hưởng đến chất lượng sống, mà các bệnh

nhân cao tuổi thường hay có các bệnh nội khoa

đi kèm hơn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số các

bệnh nhân bị ĐĐMTHN ngay từ lúc bắt đầu

cũng có thể là do cách chọn mẫu Có 68,6% số

bệnh nhân ghi nhận thời gian bị ĐĐMTHN cho

đến ngày đến khám tại phòng khám Thần Kinh

ĐHYD dưới 1 năm do chúng tôi muốn khảo sát

đặc điểm lâm sàng chính xác hơn ở các bệnh

nhân đến điều trị lần đầu vì bệnh này Theo tác

giả Bigal và cộng sư, thời gian đau đầu mạn tính

trung bình là 2,5 năm ở thanh thiếu niên và 16,1

năm ở người lớn(2) Đa số các bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận cơn đau đầu

kéo dài trên 4 giờ (88,4%) Điều này phù hợp với

thực tế là tỉ lệ lưu hành của nhóm ĐĐMTHN có

độ dài cơn dưới 4 giờ (gồm đau đầu cụm, đau

nửa đầu kịch phát, đau đầu lúc ngủ, đau nhói

đầu vô căn và SUNCT) trong dân số là rất hiếm

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số các bệnh nhân có tần suất cơn đau đầu là 1 cơn/ngày với thời gian cơn thường xảy ra không xác định trong ngày Điều này cũng phù hợp với thực tế

là tỉ lệ lưu hành của đau đầu lúc ngủ trong dân

số là rất hiếm cũng như tỉ lệ lưu hành của ĐĐHNTM và đau nửa sọ liên tục không phổ

biến như ĐĐCTMT và MMT

Theo kết quả nghiên cứu chúng tôi về tính chất của cơn đau đầu nói chung ở bệnh nhân ĐĐMTHN: có 76,7% bệnh nhân bị đau cả hai bên trong các cơn đau đầu khác nhau; 51,2% bệnh nhân có cường độ đau ở mức độ vừa với đau kiểu mạch đập chiếm 20,9% và đau kiểu cảm giác nặng chiếm 24,4% các trường hợp; 64% không có yếu tố tăng đau Theo kết quả của Nguyễn Thị Thúy Lan: có 57,1% số bệnh nhân bị đau hai bên; 60% đau ở mức độ vừa; 68,5% đau theo kiểu mạch đập; 59,5% đau kiểu thắt chặt; 61,7% kèm buồn nôn; 22,6% tăng đau khi hoạt động(15) Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả khác với kết quả của Nguyễn Thị Thúy Lan trong hầu hết các đặc điểm về tính chất của cơn đau đầu nói chung ở bệnh nhân ĐĐMTHN

và sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về cỡ mẫu, các tiêu chuẩn chọn mẫu và cách phân

tầng mẫu giữa hai nghiên cứu

Kết quả từ các nghiên cứu dịch tễ học trong

Y văn cũng cho thấy sự dao động về tỉ lệ lưu

nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân ĐĐCTMT chiếm tỉ lệ cao nhất (58,1%) kế đến là MMT (16,3%) Kết quả này cũng giống kết quả của tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan: ĐĐCTMT cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (44,6%) kế đến là MMT (36,5%)(15) Tong khi đó, theo kết quả của Bigal

và cộng sự, tỉ lệ của MCD và ĐĐCTMT ở nhóm thanh thiếu niên lần lượt là 68,8% và 10,1% trong khi ở người lớn tỉ lệ này lần lượt là 87,4%

và 0,9%(2) Ngoài ra, trong nghiên cứu của chúng tôi còn có 7% số bệnh nhân có các đặc điểm của cơn đau đầu thỏa cả hai tiêu chuẩn chẩn đoán của MMT và ĐĐCTMT theo ICHD-II và một nhóm mà chúng tôi tạm xếp là “ĐĐMTHN khác” chiếm 18,6% Điều này cũng phù hợp với

Trang 6

những lưu ý của một số tác giả về việc có thể

nhiều hơn một thể đau đầu cùng tồn tại ở một

bệnh nhân(20) cũng như gợi ý rằng tỉ lệ của đau

nửa sọ liên tục, đau đầu dai dẳng hàng này thể

mới và các loại ĐĐMTHN cơn ngắn dưới 4 giờ

mặc dù là rất ít trong dân số nhưng không phải

là không có

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, sự

khác biệt về tỉ lệ nam và nữ là có ý nghĩa thống

kê ở nhóm MMT và ĐĐCTMT, tương tự với kết

quả của các tác giả Colas và cộng sự(4) cũng như

của Nguyễn Thị Thúy Lan(15)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi

khởi phát MMT cao nhất là 31-40, khởi phát

ĐĐCTMT cao nhất là ở 31-40 và 51-60 tuổi,

trong khi nhóm tuổi khởi phát các ĐĐMTHN

khác cao nhất là 31-40 tuổi Hiện chúng tôi chưa

có dữ liệu để so sánh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm

MMT có 57,1% bệnh nhân bị đau hai bên; cường

độ đau ở mức vừa và nặng đều chiếm 42,9%;

kiểu đau phổ biến nhất là đau kiểu mạch đập

chiếm 42,9%; các trường hợp có kèm theo buồn

nôn nhẹ và nôn đều chiếm 42,9%; 57,1% các

trường hợp sợ ánh sáng và 78,6% sợ tiếng động;

yếu tố tăng đau chính là hoạt động thân thể

hàng ngày chiếm 92,9% Theo tác giả Nguyễn

Thị Thúy Lan ở nhóm MMT chỉ có 38,1% số

bệnh nhân bị đau hai bên; 39% đau ở mức độ

vừa và 42,8% đau dữ dội; 60,3% đau kiểu mạch

đập; 25,4% sợ ánh sáng và tiếng động; 65,8%

kèm buồn nôn và 52,2% tăng đau khi hoạt

nhân MMT trong nghiên cứu của chúng tôi khác

nhiều với của tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan và

sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về cỡ

mẫu, các tiêu chuẩn chọn mẫu và cách phân

tầng mẫu giữa hai nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm

ĐĐCTMT có 86% bệnh nhân bị đau hai bên;

62% có cường độ đau ở mức vừa; đau kiểu cảm

giác nặng là phổ biến chiếm 40% các trường

hợp; 6% sợ ánh sáng và 14% sợ tiếng động Theo

tác giả Nguyễn Thị Thúy Lan ở nhóm ĐĐCTMT

có 91,6% số bênh nhân bị đau hai bên; 81,8% đau ở mức độ vừa; 66,2% đau kiểu thắt chặt; 90% không buồn nôn hoặc nôn chỉ ở mức nhẹ, 11% sợ ánh sáng và tiếng động(15) Như vậy, đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ĐĐCTMT trong nghiên cứu của chúng tôi gần giống với của

Nguyễn Thị Thúy Lan ở nhiều điểm

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt về tỉ lệ có hoặc không lạm dụng thuốc giữa các nhóm ĐĐMTHN là không có ý nghĩa thống

Khi đánh giá chất lượng sống ở bệnh nhân ĐĐMTHN với SF-36 phiên bản 2.0, do các từ ngữ trong bộ câu hỏi chưa được chuẩn hóa sang tiếng Việt và khá trừu tượng trong khi việc trả lời đòi hỏi mức độ tập trung cao và mang tính chủ quan, cũng như chưa có những dữ liệu chuẩn của SF-36 ở người Việt Nam đã khiến cho kết quả của chúng tôi có những giới hạn nhất định Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 12,8% số bệnh nhân có giá trị PF dưới giá trị trung bình của người Mỹ bình thường Tuy nhiên CLS bị suy giảm rõ rệt ở các mức còn lại của thang SF-36: có đến 83,7% số bệnh nhân có CLS bị suy giảm ở mức RP, 96,5% bị suy giảm ở mức BP, 98,8% bị suy giảm ở mức GH, 46,5% bị suy giảm ở mức PCS, 94,2% bị suy giảm ở mức

SF, 67,4% bị suy giảm ở mức VT, 89,5% bị suy giảm ở mức RE, 67,4% bị suy giảm ở mức MH

và 51,2% bị suy giảm ở mức MCS Sự khác biệt

về tỉ lệ bệnh nhân có giá trị MCS dưới mức trung bình bình thường giữa các nhóm ĐĐMTHN là có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với tỉ

lệ này cao nhất ở nhóm ĐĐMTHN khác và thấp nhất ở nhóm ĐĐCTMT Trong khi đó, sự khác biệt này về tỉ lệ bệnh nhân có giá trị các mức còn lại của thang SF-36 dưới mức trung bình bình thường giữa các nhóm ĐĐMTHN là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Hiện chúng tôi chưa có

dữ liệu để so sánh với các kết quả này Ngoại trừ ở mức PF, điểm trung bình các mức còn lại của thang SF-36 ở bệnh nhân ĐĐMTHN trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn dữ liệu chuẩn của người Mỹ bình thường một cách có ý nghĩa, đặc biệt giảm rõ ở mức BP, SF và giảm

Trang 7

nặng ở mức GH Như vậy, kết quả nghiên cứu

của chúng tôi cũng giống kết quả từ các nghiên

cứu khác trên nhiều khía cạnh của chất lượng

nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt về giá trị

trung bình ở từng mức cụ thể của thang SF-36

giữa các nhóm ĐĐMTHN là không có ý nghĩa

thống kê Theo Guitera và cộng sự: không có sự

khác biệt có ý nghĩa về điểm số SF-36 ở các đối

tượng bị ĐĐCTMT so với các đối tượng bị

MCD(9) Trong khi đó, theo tác giả Wang và

cộng sự thì điểm SF-36 giảm dần từ migraine

sang ĐĐCTMT rồi đến MCD(23) Sự khác biệt

này có thể do sự khác biệt lớn về cỡ mẫu giữa

các nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barton-Donovan L.K., Blanchard E.B (2005) "Psychosocial

aspects of chronic daily headache." The Journal of Headache and

Pain 6(1) pp 30-39

2 Bigal M.E., Lipton R.B., Tepper S.J., Rapoport A.M., Sheftell F.D

(2004) "Primary chronic daily headache and its subtypes in

adolescents and adults" Neurology.63: pp.843-847

3 Castillo J., Munoz P., Guitera V., Pascual J (1999)

“Epidemiology of Chronic Daily Headache in the General

Population” Headache: The Journal of Head and Face Pain 39 pp

190-196

4 Colas R., Munoz P., Temprano R., Gomez C., Pascual J (2004)

"Chronic daily headache with analgesic overuse: Epidemiology

and impact on quality of life" Neurology 62 pp 1338-1342

5 D’Amico D., Usai S., Grazzi L., Rigamonti A., Solari A., Leone

M., Bussone G (2003) “Quality of life and disability in primary

chronic daily headaches” Neurological Sciences 24 (0) pp

s97-s100

6 Davenport R (2008) “The Bare Essentials Headache” Neurology

in Practice 8 pp 335-343

7 De Benedittis G., Lorenzetti A (1992) "The role of stressful life

events in the persistence of primary headache: major events vs

daily hassles." Pain 51(1) pp 35-42

8 De Benedittis G., Lorenzetti A., Pieri A (1990) "The role of

stressful life events in the onset of chronic primary headache."

Pain 40(1) pp 65-75

9 Guitera V., Munoz P., Castillo J., Pascual J (2002) "Quality of life

in chronic daily headache: a study in a general population"

Neurology 58(7) pp 1062-1065

10 Hagen K., Einarsen C., Zwart J.A., Svebak S., Bovim G (2002)

“The co-occurrence of headache and musculoskeletal symptoms

amongst 51050 adults in Norway” European Journal of Neurology 9(5) pp 527-533

11 Headache Classification Subcommittee of the International Headache Society (2004) “The International Classification Of Headache Disorders 2 nd Edition” Cephalalgia 24(Suppl 1) pp 1–

160

12 Lu S.R., Fuh J.L., Chen W.T., Juang K.D., Wang S.J (2001)

“Chronic daily headache in Taipei, Taiwan: Prevalence,

follow-up and outcome predictors” Cephalalgia 21(10) pp

980-986

13 McCaig L.F., Burt C.W (2001) “National hospital ambulatory medical care survey: 1999 emergency department summary”

Advance Data from Vital and Health Statistics 320

14 Monzon M.J., Lainez M.J (1998) “Quality of life in migraine and

chronic daily headache patients” Cephalalgia 18(9) pp 638-643

15 Nguyễn Thị Thúy Lan (2011) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và phân loại đau đầu mạn tính hàng ngày Luận án chuyên khoa II

Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

16 Nguyễn Văn Chương (2010) “Điều trị migraine” Thực hành lâm sàng thần kinh học Nhà xuất bản Y học Hà Nội Tr 369-391

17 Scher A.I., Stewart W.F., Liberman J., Lipton R.B (1998)

“Prevalence of Frequent Headache in a Population Sample”

Headache: The Journal of Head and Face Pain 38 pp 497-506

18 Scher A.I., Stewart W.F., Ricci J.A., Lipton R.B (2003) “Factors associated with the onset and remission of chronic daily

headache in a population-based study” Pain 106(1-2) pp 81-89

19 Silberstein S.D., Lipton R.B., Dalessio D.J (2001) Wolff’s Headache and Other Head Pain Oxford University Press 7th

Edition pp 247-282

20 Unger J (2000) “Chronic Daily Headache” The Female Patient

25 pp 14-26

21 Vũ Anh Nhị (2010) “Đau đầu thứ phát” Chẩn đoán và điều trị đau đầu Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tr 192-203

22 Wang S.J., Fuh J.L., Lu S.R (2000) "Chronic daily headache in Chinese elderly: prevalence, risk factors and biannual follow-up."

Neurology 54(2) pp 314

23 Wang S.J., Fuh J.L., Lu S.R., Juang K.D (2001) "Quality of life differs among headache diagnoses: analysis of SF-36 survey in

901 headache patients" Pain 89 pp 285-292

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm