Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.
Trang 1VÀ XỬ TRÍ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HÒA THÀNH, TÂY NINH 2012
Bửu Hạnh*, Nguyễn Thị Thanh Tuyền,* Nguyễn Tuấn Khiêm**, Phạm Thị Hạnh*, Mai Chí Cường*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ
em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca
Kết quả: Qua khảo sát có 215 bà mẹ có con bị tiêu chảy, ghi nhận: Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%)
nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là công nhân Các bà mẹ tiếp nhận thông tin chủ yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp phích (93,85%) Thông tin tiếp nhận từ nhân viên y tế còn thấp (33,02%) Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm
tỉ lệ (92,23%) Có kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao Bà mẹ có kiến thức
xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy
Kết luận: Tăng cường phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y tế, ban
ngành đoàn thể địa phương kiến thức cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, tiêu chảy
ABSTRACT
ASSESSING KNOWLEDGE, ATTITUDES AND MANAGEMENT STYLE DIARRHEA MOTHERS
WITH UNDER AGE 5 IN HOA THANH HEALTH CENTER IN 2012
Buu Hanh, Nguyen Thi Thanh Tuyen, Nguyen Tuan Khiem, Pham Thi Hanh, Mai Chi Cuong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 66 ‐ 70
Objectives: Assess knowledge, attitudes and factors involved in disease targets and management style flow
levels in children of mothers with children under age 5 in the examination and treatment Hoa Thanh district health centers
Method: Case series
Results: The survey has 215 mothers of children with diarrhea noted: Group of mothers with children
accounted for 01 (58.23%) but not necessarily the mothers with sufficient knowledge and better conditions for child care when diarrhea due mostly workers The mothers receive information primarily through radio journalism, pictures, posters (93.85%) Information received from the medical staff was low (33.02%) Percentage of mothers who correctly identify the cause of the diarrhea percentage (92.23%) General knowledge about prevention of diarrhea correct proportion (66.04%) higher Mother knowledge proper disposal is not high (56.27%) not interested in distributed processing, distribution is not aware of the source
of infection and diarrheal disease
* Bệnh viện Đa khoa Hòa Thành, Tây Ninh. ** Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch.
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Tuấn Khiêm ĐT: 066.3824645 Email: nguyentuankhiem71@yahoo.com.vn
Trang 2Conclusion: Strengthening the dissemination of knowledge through the media the media, health
professionals, local mass organizations is for mothers to understand the causes, prevention and management of diarrhea at home, help for mothers of prevention and better management of the child with diarrhea
Key words: Knowledge, attitudes, factors, diarrhea
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy cấp là nguyên nhân hàng đầu
gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em và là một
bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Theo
WHO, hàng năm trên thế giới có khoảng 750
triệu trẻ mắc bệnh tiêu chảy, trong số đó có 5
triệu trẻ chết, hầu hết số mắc tập trung ở các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Theo giám sát của UNICEF tại Việt Nam, hiện
58% người dân thiếu tiếp cận nguồn nước sạch,
40% người thiếu tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn,
88% không rửa tay với xà phòng trước khi ăn và
84% không rửa tay sau khi đại tiện.
Tuy nhiên, một biện pháp phòng bệnh rất
hữu ích chính là rửa tay với xà phòng. Biện pháp
được coi là “Vaccin tự thân” này có thể làm
giảm 47% các bệnh liên quan đến tiêu chảy và
giảm 34% các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp. Tại
Tây Ninh, chương trình phòng chống tiêu chảy
đã được thực hiện tại các trạm y tế xã nhưng sự
hiểu biết về kiến thức phòng chống tiêu chảy
vẫn là ẩn số. Tại Hòa Thành chương trình phòng
chống tiêu chảy đã triển khai nhiều năm nay,
nhưng thời gian qua tình hình mắc tiêu chảy trẻ
em dưới 5 tuổi còn phổ biến, trong cộng đồng
do có nhiều nguyên nhân nên việc thực hiện
biện pháp phòng bệnh chưa thật kỹ lưỡng, do
tập quán thói quen, sự hiểu biết, môi trường, các
yếu tố khách quan.
Thực tế cho thấy nhiều trường hợp tử vong
vì bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ là do sự thiếu kiến
thức của bà mẹ trong việc phòng cũng như xử lý
khi trẻ bị bệnh, vì vậy việc đánh giá kiến thức,
thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy
của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên
quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám
và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa
Thành, Tỉnh Tây Ninh.
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đúng về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có thái độ đúng về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Nhận định các yếu tố có liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca.
Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều
trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.
Tiêu chí chọn mẫu.
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều
trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chí loại ra.
Bà mẹ không đồng ý hợp tác trả lời phỏng vấn.
Bà mẹ không trực tiếp nuôi con.
Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn (câm, điếc, tâm thần, say rượu).
Xử lý số liệu Theo phương pháp thông kê y học.
Trang 3Đặc điễm chung.
Bảng 1. Đặc tính chung.
Tuổi
< 25
> 25
37
178
17,21 82,79 Nghề nghiệp
Làm ruộng
Công nhân
Buôn bán
Công bộ viên chức
Nội trợ
16
109
42
17
31
7,44 50,69 19,53 7,90 14,41 Trình độ văn hóa
</= Cấp I
Cấp II
Cấp III
Cao đẳng, đại học
79
56
58
22
36,74 26,04 26,97 10,23 Hoàn cảnh kinh tế gia đình
Thu nhập < 1,050,000/ người /tháng
Thu nhập > 1,050,000/ người /tháng
49
166
22,79 77,21
Số con hiện có
1 con
2 con
> 3con
125
78
12
58,23 36,27 5,58
Bảng 2 Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy.
Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n %
Tivi, báo chí, radio, áp phích
Nhân viên y tế
Người thân, hàng xóm
202
71
47
93,95
33 21,86
Bảng 3. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh
tiêu chảy
Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n %
Nguyên nhân gây ra tiêu chảy:
Do ăn uống không hợp vệ sinh
Do tay bẩn
Cách phòng bệnh tiêu chảy:
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu
Rửa tay trước khi ăn, sau khi vs
Ăn uống hợp vệ sinh
Xử lý phân đúng cách
12
215
192
181
210
192
121
75,65
100 89,30 84,18 97,67 89,30 56,27
Bảng 4. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về phòng bệnh
tiêu chảy
Thái độ về tính chất nguy hiểm:
Đồng ý
Không đồng ý
Không ý kiến
Thái độ về việc rửa tay thường xuyên
161
43
11
74,88
20 5,11
cho trẻ:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ về việc cho trẻ uống nước đun
sôi để nguội:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung
trên:
201
06
08
189
21
05
157
93,48 2,79 3,72
87,90 9,76 2,32 73,02
Bảng 5. Tỷ lệ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà mẹ.
Ăn kiêng khi tiêu chảy:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Cho trẻ ăn nhiều lần với thức ăn dễ tiêu
khi tiêu chảy:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung
trên:
123
85
47
156
20
72
87
57,20 39,53 21,86
72,55 9,30 33,48 40,47
Bảng 6. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về xử trí bệnh
tiêu chảy.
Sử dụng ORS điều trị tiêu chảy:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng kháng sinh điều trị tiêu chảy:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng thuốc cầm tiêu chảy:
Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến
151
62
03
129
28
58
83
85
47
69,76 28,83 1,39
60 13,02 26,97 38,60 39,53 21,86
BÀN LUẬN Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu
Bà mẹ ở nhóm tuổi >= 25 chiếm tỉ lệ cáo nhất (82,79%), phần lớn là công nhân (50,69%) tương đương với tác giả Trần Thị Thúy Hằng (50,48%).
Trình độ học vấn khá đồng đều ở 3 cấp bậc học.
Chiếm ít nhất là nhóm cao đẳng và đại học (10,23%). Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%) nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và
Trang 4đa số là công nhân.
Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy
Thông tin người mẹ tiếp nhận chủ yếu qua
đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp phích
(93,85%) cao hơn nghiên cứu của tác giả Trần
Thị Thúy Hằng (76,14%). Thông tin tiếp nhận từ
nhân viên y tế còn thấp (33,02%), cho thấy vai
trò chủ đạo trong truyền thông rộng rãi về mặt
sức khỏe cho người dân chưa đi vào chiều rộng
lẫn chiều sâu, do đó cần phải phát huy hơn nữa
vai trò của cán bộ y tế trong tuyên truyền giáo
dục sức khỏe người dân.
Kiến thức đúng của các bà mẹ về phòng
bệnh tiêu chảy
Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng, nguyên nhân
gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%). Có tỉ lệ
(95,34%) bà mẹ biết nguyên nhân gây tiêu chảy
là do ăn uống không hợp vệ sinh theo nghiên
cứu của Trần Thị Thúy Hằng chiếm tỉ lệ
(64,41%) và tỉ lệ (29%) của tác giả Nguyễn
Quang Vinh khảo sát tại Kon Tum. Như vậy
chúng ta nhận thấy được nhận thức của bà mẹ
tại Hòa Thành thời điểm khảo sát là rất tốt. Có
kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy
chiếm tỉ lệ (66,04%) cao hơn so với tỉ lệ nghiên
cứu của Trần Thị Thúy Hằng chiếm tỉ lệ (37,2%).
Bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu
chiếm tỉ lệ (84,18%) so với nghiên cứu của Tạ
Văn Trần chiếm tỉ lệ (36,92%). Các bà mẹ đã có
hiểu biết kiến thức cơ bản chung về phòng bệnh
tiêu chảy cũng như được tư vấn trước, trong, và
sau khi sanh con về cho trẻ bú mẹ hoàn toàn
trong 6 tháng đầu và đã thực hiện rất tốt theo
kết quả khảo sát. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức xử lý
phân đúng cách còn chưa cao (56,27%) thấp hơn
so với tỉ lệ mẹ có nhận thức là phải ăn uống hợp
vệ sinh bằng cách rữa tay sạch trước khi ăn và
sau khi đi vệ sinh có tỉ lệ (89,30%). Chứng tỏ mẹ
chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận
thức được phân là nguồn lây, và truyền bệnh
tiêu chảy quan trọng như thế nào. Tương đương
với nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Trầm tại Tiền
Giang chiếm tỉ lệ (46,43%) bà mẹ cho con đi tiêu
trên nền đất.
Về việc xử lý phân trẻ đi tiêu, một số bà mẹ nghĩ rằng phân trẻ ít nguy hại và “Sạch” hơn phân người lớn. Đây là một quan niệm sai lầm nguy hiểm của người dân, vì xử lý phân trẻ không đúng cách, không hợp lý, không hợp vệ sinh sạch sẽ dễ dàng làm lây lan bệnh tiêu chảy cộng đồng dân cư sống xung quanh.
Thái độ chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy (76,27%), xử lý phân đúng cách sau khi trẻ
đi tiêu đạt tỉ lệ thấp 56,27% so với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy Hằng. Do đó tuyên truyền giáo dục cho bà mẹ có nuôi trẻ hiểu biết
về cách xử lý phân đúng cách (nhà tiêu tự hoại, cách xa nguồn phân với nguồn sinh hoat, cho trẻ
đi tiêu đúng chỗ) là một biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh tiêu chảy cho từng cá nhân
và cộng đồng dân cư.
Thái độ đúng của các bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy
Tỉ lệ bà mẹ có thái độ chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy là chiếm tỉ lệ (73,02%) tương ứng với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy Hằng
tỉ lệ (77,03%). Tỉ lệ bà mẹ có thái độ xem bệnh
tiêu chảy cấp là nguy hiễm chiếm tỉ lệ (74,88%), thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Lâm Bỉnh Yên tỉ lệ (91,96%). Thái độ rữa tay thường xuyên cho trẻ có tỉ lệ cao chiếm (93,48%) lớn hơn so với
tỉ lệ của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (86,6%). Thái độ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà
mẹ
Bà mẹ hiểu biết nguyên nhân tiêu chảy là do
ăn uống không hợp vệ sinh, tay bẩn chiếm tỉ lệ (89,32%) nhưng chỉ có tỉ lệ (56,27%) bà mẹ có thái độ hiểu biết xử lý phân đúng cách, đạt tỉ lệ thấp so với kết quả của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (99,04%). Cần nâng cao thái độ phòng bệnh tiêu chảy bằng cách hướng dẫn cách, rửa tay sạch xử lý phân đúng cách để hạn chế lây
lan mầm bệnh
Trang 5tiêu chảy
Tỉ lệ xử trí bệnh tiêu chảy cấp của nhóm
nghiên cứu đạt tỉ lệ (40,77%), cao hơn so với tỉ lệ
(10,53%) của tác giả Trần Thị Thúy Hằng. Đây là
một yếu tố quan trọng, khi xử trí đúng về bệnh
tiêu chảy cấp tại nhà sẽ góp phần giãm tải tại
bệnh viện. Tỉ lệ (69,76%) các bà mẹ cho con uống
ORS khi trẻ bị tiêu chảy, tương đương với tỉ lệ
của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (71,29%). Số
bà mẹ cho con ăn kiêng khi tiêu chảy đạt tỉ lệ
(57,20%) thấp hơn so với tỉ lệ của tác giả Trần
Thị Thúy Hằng tỉ lệ (77,51%). Nhưng đây cũng
là điều đáng lưu ý vì ăn kiêng ở trẻ đang bệnh
tiêu chảy là một yếu tố nguy cơ gây suy dinh
dưỡng cho trẻ. Thái độ đúng trong xử trí bệnh
tiêu chảy còn thấp của nhóm nghiên cứu tỉ lệ
(40,77%), dùng kháng sinh khi bị tiêu chảy
chiếm tỉ lệ (60%), cao hơn tác giả Trần Thị Thúy
Hằng tỉ lệ (33,97%), chỉ có (13,02%) bà mẹ không
đồng ý dùng kháng sinh trong điều trị bệnh tiêu
chảy xử trí đúng tiêu chảy tại nhà sẽ giúp cho
cán bộ cơ sở y tế giảm tải trong xử trí và điều trị
bệnh tiêu chảy.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát các bà mẹ có con nhỏ hơn 5
tuổi bị tiêu chảy tại TTY Tế Hòa Thành chúng tôi
ghi nhận.
Nhóm bà mẹ có 1 con chiếm (58,23%) nhưng
chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện
chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là
công nhân. Các bà mẹ tiếp nhận thông tin chủ
yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp
phích (93,85%). Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng
nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%).
Có kiến thức chung đúng về phòng bệnh
tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao. Bà mẹ có kiến
thức xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy.
Thái độ cho trẻ ăn kiêng khi trẻ bệnh tiêu chảy chiếm tỉ lệ (57,20%).
KIẾN NGHỊ
Tăng cường phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y
tế, ban ngành đoàn thể địa phương kiến thức cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y Tế (1992) ‐ Công trình phòng chống bệnh tiêu chảy quốc gia. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy. Tài liệu dành cho sinh viên Đại học Y khoa.
2 Lâm Bỉnh Yên (2007). Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ
có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tiêu chảy ho trẻ tại cụm dân cư quanh bãi rác Gò Cát, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, TPHCM năm 2007. Khóa tiểu luận tốt nghiệp cử nhân
y tế công cộng năm 2007.
3 Lê Hoàng Ninh (1994). K.A.P của các bà mẹ trong việc xử lý bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại TPHCM. Tạp chí y học Đại
học Y Dược TPHCM; 2 (2), tr. 124‐126.
4 Lê Hoàng Phong (2006). Kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy
trẻ em dưới 5 tuổi của phụ nữ từ 15 ‐ 49 tuổi tại xã Nhơn Mỹ,
Kế Sách, Sóc Trăng. Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp I chuyên ngành y tế công cộng năm 2006.
5 Lê Hồng Phúc, Lý Văn Xuân (2014). Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý bệnh tiêu chảy cấp trẻ em tại nhà ở xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm
2004. Tạp chí Y Học TPHCM; phụ bản của số 1, tr. 181‐184.
6 Lê Nguyễn Bảo Châu (2005). Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khu phố 3, phường 8, quận 8 năm 2005. Khóa luận tốt nghiệp
cử nhân y tế công cộng năm 2005.
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08‐11‐2013