1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Trung tâm Y tế Hòa Thành, Tây Ninh 2012

5 228 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 387 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.

Trang 1

VÀ XỬ TRÍ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI  

TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HÒA THÀNH, TÂY NINH 2012 

Bửu Hạnh*, Nguyễn Thị Thanh Tuyền,* Nguyễn Tuấn Khiêm**, Phạm Thị Hạnh*, Mai Chí Cường* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ

em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca

Kết quả: Qua khảo sát có 215 bà mẹ có con bị tiêu chảy, ghi nhận: Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%)

nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là công nhân Các bà mẹ tiếp nhận thông tin chủ yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp phích (93,85%) Thông tin tiếp nhận từ nhân viên y tế còn thấp (33,02%) Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm

tỉ lệ (92,23%) Có kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao Bà mẹ có kiến thức

xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy

Kết luận: Tăng cường phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y tế, ban

ngành đoàn thể địa phương kiến thức cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy

Từ khóa: Kiến thức, thái độ, tiêu chảy

ABSTRACT 

ASSESSING KNOWLEDGE, ATTITUDES AND MANAGEMENT STYLE DIARRHEA MOTHERS

WITH UNDER AGE 5 IN HOA THANH HEALTH CENTER IN 2012

Buu Hanh, Nguyen Thi Thanh Tuyen, Nguyen Tuan Khiem, Pham Thi Hanh, Mai Chi Cuong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 66 ‐ 70

Objectives: Assess knowledge, attitudes and factors involved in disease targets and management style flow

levels in children of mothers with children under age 5 in the examination and treatment Hoa Thanh district health centers

Method: Case series

Results: The survey has 215 mothers of children with diarrhea noted: Group of mothers with children

accounted for 01 (58.23%) but not necessarily the mothers with sufficient knowledge and better conditions for child care when diarrhea due mostly workers The mothers receive information primarily through radio journalism, pictures, posters (93.85%) Information received from the medical staff was low (33.02%) Percentage of mothers who correctly identify the cause of the diarrhea percentage (92.23%) General knowledge about prevention of diarrhea correct proportion (66.04%) higher Mother knowledge proper disposal is not high (56.27%) not interested in distributed processing, distribution is not aware of the source

of infection and diarrheal disease

* Bệnh viện Đa khoa Hòa Thành, Tây Ninh.   ** Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch. 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Tuấn Khiêm   ĐT: 066.3824645   Email: nguyentuankhiem71@yahoo.com.vn  

Trang 2

Conclusion: Strengthening the dissemination of knowledge through the media the media, health

professionals, local mass organizations is for mothers to understand the causes, prevention and management of diarrhea at home, help for mothers of prevention and better management of the child with diarrhea

Key words: Knowledge, attitudes, factors, diarrhea

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Tiêu chảy cấp là nguyên nhân hàng đầu 

gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em và là một 

bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Theo 

WHO,  hàng  năm  trên  thế  giới  có  khoảng  750 

triệu  trẻ  mắc  bệnh  tiêu  chảy,  trong  số  đó  có  5 

triệu  trẻ  chết,  hầu  hết  số  mắc  tập  trung  ở  các 

nước  đang  phát  triển  trong  đó  có  Việt  Nam. 

Theo  giám  sát  của  UNICEF  tại  Việt  Nam,  hiện 

58% người dân thiếu tiếp cận nguồn nước sạch, 

40% người thiếu tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn, 

88% không rửa tay với xà phòng trước khi ăn và 

84% không rửa tay sau khi đại tiện. 

Tuy  nhiên,  một  biện  pháp  phòng  bệnh  rất 

hữu ích chính là rửa tay với xà phòng. Biện pháp 

được  coi  là  “Vaccin  tự  thân”  này  có  thể  làm 

giảm  47%  các  bệnh  liên  quan  đến  tiêu  chảy  và 

giảm 34% các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp. Tại 

Tây Ninh, chương trình phòng chống tiêu chảy 

đã được thực hiện tại các trạm y tế xã nhưng sự 

hiểu  biết  về  kiến  thức  phòng  chống  tiêu  chảy 

vẫn là ẩn số. Tại Hòa Thành chương trình phòng 

chống  tiêu  chảy  đã  triển  khai  nhiều  năm  nay, 

nhưng thời gian qua tình hình mắc tiêu chảy trẻ 

em  dưới  5  tuổi  còn  phổ  biến,  trong  cộng  đồng 

do  có  nhiều  nguyên  nhân  nên  việc  thực  hiện 

biện  pháp  phòng  bệnh  chưa  thật  kỹ  lưỡng,  do 

tập quán thói quen, sự hiểu biết, môi trường, các 

yếu tố khách quan.  

Thực tế cho thấy nhiều trường hợp tử vong 

vì  bệnh  tiêu  chảy  cấp  ở  trẻ  là  do  sự  thiếu  kiến 

thức của bà mẹ trong việc phòng cũng như xử lý 

khi trẻ bị bệnh, vì vậy việc đánh giá kiến thức, 

thái  độ  về  phòng  và  xử  trí  bệnh  tiêu  chảy 

của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là cần thiết. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên 

quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở  trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám 

và  điều  trị  tại  Trung  Tâm  Y  Tế  huyện  Hòa 

Thành, Tỉnh Tây Ninh. 

Mục tiêu cụ thể 

Xác  định  tỷ  lệ  bà  mẹ  có  con  dưới  5  tuổi  có  kiến  thức  đúng  về  phòng  và  xử  trí  bệnh  tiêu  chảy cấp. 

Xác  định  tỷ  lệ  bà  mẹ  có  con  dưới  5  tuổi  có  thái độ đúng về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy  cấp. 

Nhận định các yếu tố có liên quan đến kiến  thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy  cấp. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả hàng loạt ca.  

Đối tượng nghiên cứu 

Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều 

trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.  

Tiêu chí chọn mẫu. 

Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều 

trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.  

Đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chí loại ra. 

Bà  mẹ  không  đồng  ý  hợp  tác  trả  lời  phỏng  vấn.  

Bà mẹ không trực tiếp nuôi con. 

Bà  mẹ  không  thể  trả  lời  phỏng  vấn  (câm,  điếc, tâm thần, say rượu). 

Xử lý số liệu  Theo phương pháp thông kê y học. 

Trang 3

Đặc điễm chung. 

Bảng 1. Đặc tính chung. 

Tuổi

< 25

> 25

37

178

17,21 82,79 Nghề nghiệp

Làm ruộng

Công nhân

Buôn bán

Công bộ viên chức

Nội trợ

16

109

42

17

31

7,44 50,69 19,53 7,90 14,41 Trình độ văn hóa

</= Cấp I

Cấp II

Cấp III

Cao đẳng, đại học

79

56

58

22

36,74 26,04 26,97 10,23 Hoàn cảnh kinh tế gia đình

Thu nhập < 1,050,000/ người /tháng

Thu nhập > 1,050,000/ người /tháng

49

166

22,79 77,21

Số con hiện có

1 con

2 con

> 3con

125

78

12

58,23 36,27 5,58

Bảng 2 Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy. 

Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n %

Tivi, báo chí, radio, áp phích

Nhân viên y tế

Người thân, hàng xóm

202

71

47

93,95

33 21,86

Bảng 3. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh

tiêu chảy

Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n %

Nguyên nhân gây ra tiêu chảy:

Do ăn uống không hợp vệ sinh

Do tay bẩn

Cách phòng bệnh tiêu chảy:

Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu

Rửa tay trước khi ăn, sau khi vs

Ăn uống hợp vệ sinh

Xử lý phân đúng cách

12

215

192

181

210

192

121

75,65

100 89,30 84,18 97,67 89,30 56,27

Bảng 4. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về phòng bệnh

tiêu chảy

Thái độ về tính chất nguy hiểm:

Đồng ý

Không đồng ý

Không ý kiến

Thái độ về việc rửa tay thường xuyên

161

43

11

74,88

20 5,11

cho trẻ:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ về việc cho trẻ uống nước đun

sôi để nguội:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung

trên:

201

06

08

189

21

05

157

93,48 2,79 3,72

87,90 9,76 2,32 73,02

Bảng 5. Tỷ lệ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà mẹ. 

Ăn kiêng khi tiêu chảy:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Cho trẻ ăn nhiều lần với thức ăn dễ tiêu

khi tiêu chảy:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung

trên:

123

85

47

156

20

72

87

57,20 39,53 21,86

72,55 9,30 33,48 40,47

Bảng 6. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về xử trí bệnh

tiêu chảy.  

Sử dụng ORS điều trị tiêu chảy:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng kháng sinh điều trị tiêu chảy:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng thuốc cầm tiêu chảy:

Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến

151

62

03

129

28

58

83

85

47

69,76 28,83 1,39

60 13,02 26,97 38,60 39,53 21,86

BÀN LUẬN   Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu 

Bà mẹ ở nhóm tuổi >= 25 chiếm tỉ lệ cáo nhất  (82,79%), phần lớn là công nhân (50,69%) tương  đương với tác giả Trần Thị Thúy Hằng (50,48%). 

Trình độ học vấn khá đồng đều ở 3 cấp bậc học. 

Chiếm  ít  nhất  là  nhóm  cao  đẳng  và  đại  học  (10,23%). Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%)  nhưng  chưa  hẳn  các  bà  mẹ  có  đủ  kiến  thức  và 

Trang 4

đa số là công nhân. 

Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy 

Thông tin người mẹ tiếp  nhận  chủ  yếu  qua 

đài  truyền  thanh  báo  chí,  tranh  ảnh,  áp  phích 

(93,85%)  cao  hơn  nghiên  cứu  của  tác  giả  Trần 

Thị Thúy Hằng (76,14%). Thông tin tiếp nhận từ 

nhân  viên  y  tế  còn  thấp  (33,02%),  cho  thấy  vai 

trò chủ đạo trong truyền thông rộng rãi về mặt 

sức khỏe cho người dân chưa đi vào chiều rộng 

lẫn chiều sâu, do đó cần phải phát huy hơn nữa 

vai trò  của  cán  bộ  y  tế  trong  tuyên  truyền  giáo 

dục sức khỏe người dân.  

Kiến  thức  đúng  của  các  bà  mẹ  về  phòng 

bệnh tiêu chảy 

Tỉ  lệ  bà  mẹ  nhận  biết  đúng,  nguyên  nhân 

gây  tiêu  chảy  chiếm  tỉ  lệ  (92,23%).  Có  tỉ  lệ 

(95,34%) bà mẹ biết nguyên nhân gây tiêu chảy 

là  do  ăn  uống  không  hợp  vệ  sinh  theo  nghiên 

cứu  của  Trần  Thị  Thúy  Hằng  chiếm  tỉ  lệ 

(64,41%)  và  tỉ  lệ  (29%)  của  tác  giả  Nguyễn 

Quang  Vinh  khảo  sát  tại  Kon  Tum.  Như  vậy 

chúng ta nhận thấy được nhận thức của bà mẹ 

tại Hòa Thành thời điểm khảo sát là rất tốt. Có 

kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy 

chiếm  tỉ  lệ  (66,04%)  cao  hơn  so  với  tỉ  lệ  nghiên 

cứu của Trần Thị Thúy Hằng chiếm tỉ lệ (37,2%). 

Bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu 

chiếm  tỉ  lệ  (84,18%)  so  với  nghiên  cứu  của  Tạ 

Văn Trần chiếm tỉ lệ (36,92%). Các bà mẹ đã có 

hiểu biết kiến thức cơ bản chung về phòng bệnh 

tiêu chảy cũng như được tư vấn trước, trong, và 

sau  khi  sanh  con  về  cho  trẻ  bú  mẹ  hoàn  toàn 

trong  6  tháng  đầu  và  đã  thực  hiện  rất  tốt  theo 

kết quả khảo sát. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức xử lý 

phân đúng cách còn chưa cao (56,27%) thấp hơn 

so với tỉ lệ mẹ có nhận thức là phải ăn uống hợp 

vệ  sinh  bằng  cách  rữa  tay  sạch  trước  khi  ăn  và 

sau khi đi vệ sinh có tỉ lệ (89,30%). Chứng tỏ mẹ 

chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận 

thức  được  phân  là  nguồn  lây,  và  truyền  bệnh 

tiêu chảy quan trọng như thế nào. Tương đương 

với nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Trầm tại Tiền 

Giang chiếm tỉ lệ (46,43%) bà mẹ cho con đi tiêu 

trên nền đất.  

Về việc xử lý phân trẻ đi tiêu, một số bà mẹ  nghĩ  rằng  phân  trẻ  ít  nguy  hại  và  “Sạch”  hơn  phân người lớn. Đây là một quan niệm sai lầm  nguy  hiểm  của  người  dân,  vì  xử  lý  phân  trẻ  không đúng cách, không hợp lý, không hợp vệ  sinh sạch sẽ dễ dàng làm lây lan bệnh tiêu chảy  cộng đồng dân cư sống xung quanh. 

Thái  độ  chung  đúng  về  phòng  bệnh  tiêu  chảy (76,27%), xử lý phân đúng cách sau khi trẻ 

đi  tiêu  đạt  tỉ  lệ  thấp  56,27%  so  với  nghiên  cứu  của  tác  giả  Trần  Thị  Thúy  Hằng.  Do  đó  tuyên  truyền giáo dục cho bà mẹ có nuôi trẻ hiểu biết 

về cách xử lý phân đúng cách (nhà tiêu tự hoại,  cách xa nguồn phân với nguồn sinh hoat, cho trẻ 

đi tiêu đúng chỗ) là một biện pháp hữu hiệu để  phòng  chống  bệnh  tiêu  chảy  cho  từng  cá  nhân 

và cộng đồng dân cư. 

Thái độ đúng của các bà mẹ về phòng bệnh  tiêu chảy 

Tỉ lệ bà mẹ có thái độ chung đúng về phòng  bệnh tiêu chảy là chiếm tỉ lệ (73,02%) tương ứng  với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy Hằng 

tỉ  lệ  (77,03%).  Tỉ  lệ  bà  mẹ  có  thái  độ  xem  bệnh 

tiêu chảy cấp là nguy hiễm chiếm tỉ lệ (74,88%),  thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Lâm Bỉnh  Yên tỉ lệ (91,96%). Thái độ rữa tay thường xuyên  cho trẻ có tỉ lệ cao chiếm (93,48%) lớn hơn so với 

tỉ lệ của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (86,6%).   Thái độ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà 

mẹ 

Bà mẹ hiểu biết nguyên nhân tiêu chảy là do 

ăn uống không hợp vệ sinh, tay bẩn chiếm tỉ lệ  (89,32%)  nhưng  chỉ  có  tỉ  lệ  (56,27%)  bà  mẹ  có  thái độ hiểu biết xử lý phân đúng cách, đạt tỉ lệ  thấp  so  với  kết  quả  của  tác  giả  Trần  Thị  Thúy  Hằng tỉ lệ (99,04%). Cần nâng cao thái độ phòng  bệnh  tiêu  chảy  bằng  cách  hướng  dẫn  cách,  rửa  tay  sạch  xử  lý  phân  đúng  cách  để  hạn  chế  lây 

lan mầm bệnh

Trang 5

tiêu chảy 

Tỉ  lệ  xử  trí  bệnh  tiêu  chảy  cấp  của  nhóm 

nghiên cứu đạt tỉ lệ (40,77%), cao hơn so với tỉ lệ 

(10,53%) của tác giả Trần Thị Thúy Hằng. Đây là 

một yếu tố quan trọng, khi xử trí đúng về bệnh 

tiêu  chảy  cấp  tại  nhà  sẽ  góp  phần  giãm  tải  tại 

bệnh viện. Tỉ lệ (69,76%) các bà mẹ cho con uống 

ORS  khi  trẻ  bị  tiêu  chảy,  tương  đương  với  tỉ  lệ 

của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (71,29%). Số 

bà  mẹ  cho  con  ăn  kiêng  khi  tiêu  chảy  đạt  tỉ  lệ 

(57,20%)  thấp  hơn  so  với  tỉ  lệ  của  tác  giả  Trần 

Thị Thúy Hằng tỉ lệ (77,51%). Nhưng đây cũng 

là điều đáng lưu ý vì ăn kiêng ở trẻ đang bệnh 

tiêu  chảy  là  một  yếu  tố  nguy  cơ  gây  suy  dinh 

dưỡng  cho  trẻ.  Thái  độ  đúng  trong  xử  trí  bệnh 

tiêu  chảy  còn  thấp  của  nhóm  nghiên  cứu  tỉ  lệ 

(40,77%),  dùng  kháng  sinh  khi  bị  tiêu  chảy 

chiếm tỉ lệ (60%), cao hơn tác giả Trần Thị Thúy 

Hằng tỉ lệ (33,97%), chỉ có (13,02%) bà mẹ không 

đồng ý dùng kháng sinh trong điều trị bệnh tiêu 

chảy  xử  trí  đúng  tiêu  chảy  tại  nhà  sẽ  giúp  cho 

cán bộ cơ sở y tế giảm tải trong xử trí và điều trị 

bệnh tiêu chảy. 

KẾT LUẬN 

Qua  khảo  sát  các  bà  mẹ  có  con  nhỏ  hơn  5 

tuổi bị tiêu chảy tại TTY Tế Hòa Thành chúng tôi 

ghi nhận.  

Nhóm bà mẹ có 1 con chiếm (58,23%) nhưng 

chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện 

chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là 

công  nhân.  Các  bà  mẹ  tiếp  nhận  thông  tin  chủ 

yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp 

phích  (93,85%).  Tỉ  lệ  bà  mẹ  nhận  biết  đúng 

nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%).  

Có  kiến  thức  chung  đúng  về  phòng  bệnh 

tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao. Bà mẹ có kiến 

thức  xử  lý  phân  đúng  cách  còn  chưa  cao  (56,27%),  chưa  quan  tâm  đến  việc  xử  lý  phân,  chưa  nhận  thức  được  phân  là  nguồn  lây  và  truyền bệnh tiêu chảy. 

Thái  độ  cho  trẻ  ăn  kiêng  khi  trẻ  bệnh  tiêu  chảy chiếm tỉ lệ (57,20%). 

KIẾN NGHỊ 

Tăng  cường  phổ  biến  kiến  thức  thông  qua  các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y 

tế,  ban  ngành  đoàn  thể  địa  phương  kiến  thức  cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử  trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách  phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Y Tế (1992) ‐ Công trình phòng chống bệnh tiêu chảy quốc  gia. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy. Tài liệu dành cho sinh  viên Đại học Y khoa. 

2 Lâm Bỉnh Yên (2007). Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ 

có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tiêu chảy ho trẻ tại cụm  dân  cư  quanh  bãi  rác  Gò  Cát,  phường  Bình  Hưng  Hòa,  quận  Bình Tân, TPHCM năm 2007. Khóa tiểu luận tốt nghiệp cử nhân 

y tế công cộng năm 2007. 

3 Lê  Hoàng  Ninh  (1994).  K.A.P  của  các  bà  mẹ  trong  việc  xử  lý  bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại TPHCM. Tạp chí y học Đại 

học Y Dược TPHCM; 2 (2), tr. 124‐126. 

4 Lê Hoàng Phong (2006). Kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy 

trẻ em dưới 5 tuổi của phụ nữ từ 15 ‐ 49 tuổi tại xã Nhơn Mỹ, 

Kế  Sách,  Sóc  Trăng.  Luận  văn  tốt  nghiệp  chuyên  khoa  cấp  I  chuyên ngành y tế công cộng năm 2006. 

5 Lê  Hồng  Phúc,  Lý  Văn  Xuân  (2014).  Kiến  thức,  thái  độ,  thực  hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý bệnh tiêu chảy  cấp trẻ em tại nhà ở xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 

2004. Tạp chí Y Học TPHCM; phụ bản của số 1, tr. 181‐184. 

6 Lê Nguyễn Bảo Châu (2005). Kiến thức, thái độ, thực hành về  phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại  khu phố 3, phường 8, quận 8 năm 2005. Khóa luận tốt nghiệp 

cử nhân y tế công cộng năm 2005. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08‐11‐2013

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w