1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số đặc điểm tổn thương dính trong ổ bụng ở bệnh nhân sỏi mật mổ lại

4 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 340,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm nhận xét một số đặc điểm tổn thương dính trong ổ bụng ở BN sỏi mật mổ lại. Đối tượng và phương pháp: ứng dụng phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị sỏi đường mật mổ lại cho 56 bệnh nhân (BN) từ tháng 7 - 2013 đến 1 - 2015.

Trang 1

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG DÍNH TRONG Ổ BỤNG Ở

BỆNH NHÂN SỎI MẬT MỔ LẠI

Nguyễn Quang Nam*; B i Tu n nh*

TÓM TẮT

Đặt v n đề: sỏi đường mật là một bệnh lý phổ biến ở Việt Nam, trong đó sỏi trong gan vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao, tỷ lệ sỏi tái phát cao Đối tượng và phương pháp: ứng dụng phẫu

thuật nội soi (PTNS) điều trị sỏi đường mật mổ lại cho 56 bệnh nhân (BN) từ tháng 7 - 2013

đến 1 - 2015 Kết quả và kết luận: tạng dính chủ yếu qua vết mổ cũ và vùng hạ sườn phải,

do đó trocar thứ nhất có thể đặt được ở hạ sườn trái (26,79%) Tạng dính lên thành bụng: mạc nối (92,86%), tá tràng (64,28%) Trong quá trình gỡ dính vào vùng ống mật chủ, hầu hết

tá tràng dính với ống mật chủ Tận dụng gan dính vào thành bụng, khi bơm hơi trong ổ bụng gan sẽ được nâng lên Phẫu thuật viên nên đi vào vùng màng nhện ở giữa tạng dính PTNS điều trị sỏi mật mổ lại là kỹ thuật khá an toàn Tuy nhiên, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm về phẫu thuật nội soi và giải phẫu

* Từ khóa: Sỏi đường mật mổ lại; Phẫu thuật nội soi

Some Characteristics of Adhesiolysis Injury in Patients with Abdominal Biliary Stone Having Previous Surgery

Summary

Background: Hepatolithiasis is common in Vietnam, the management of residual and recurrent stones is still difficult and complicated Subjects and methods: Application of laparoscopic surgical treatment of biliary stones in 56 patients from July, 2013 to January,

2015 Results and conclusion: Adhesive organ primarily through old wound and right upper quadrant, trocar 1 can thus be placed in the left upper quadrant (26.79%) Abdominal organs stick up: omentum (92.86%), duodenum (64.28%) During debugging stick to the common bile duct, the duodenum stick mostly with bile duct Adhesive remover selective advantage with a belly sticking liver should be inflatable in the abdomen, the liver will be raised The surgeon should go to the area in between visceral sticky cobweb Laparoscopic surgery in treatment of gallstone surgery is relatively safe technique, the removal of organs exposed adhesive duct relatively favorable However, it requires the surgeon must have experience in laparoscopic surgery and anatomy

* Key words: Biliary stones with previous surgery; Laparoscopy

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Quang Nam (nguyenquangnam80@gmail.com) Ngày nhận bài: 17/07/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 30/11/2015

Ngày bài báo được đăng: 04/12/2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi đường mật là một bệnh lý phổ biến

ở Việt Nam Hiện nay, những tiến bộ về

khoa học kỹ thuật trong y khoa đã có

đóng góp không nhỏ trong chẩn đoán và

điều trị Qua đó đạt được những thành

công trong điều trị phẫu thuật sỏi mật

Tuy nhiên, tỷ lệ sỏi tái phát hoặc sót sỏi

sau mổ còn cao (khoảng 30%)

Những năm gần đây, việc áp dụng các

kỹ thuật điều trị sỏi đường mật bằng can

thiệp nhỏ ngày càng phổ biến và mang lại

hiệu quả cao như: lấy sỏi mật tụy ngược

dòng, tán sỏi ngoài cơ thể qua da Tuy

nhiên, phẫu thuật vẫn đóng vai trò chủ

yếu trong điều trị sỏi đường mật

Điều trị ngoại khoa sỏi mật mổ lại là

một thách thức cho phẫu thuật viên, do

dính các tạng và thay đổi giải phẫu PTNS

ngày càng chứng tỏ tính ưu việt với

những chỉ định rộng rãi Chúng tôi tiến

hành đề tài này nhằm: Nhận xét một số

đặc điểm tổn thương dính trong ổ bụng ở

BN sỏi mật mổ lại

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

56 BN sỏi đường mật mổ lại được

PTNS tại Khoa Phẫu thuật Bụng, Bệnh

viện Quân y 103 từ tháng 7 - 2013 đến

1 - 2015

- Tiêu chuẩn chọn BN: BN được chẩn

đoán sỏi đường mật mổ lại, kỹ thuật thực

hiện theo một quy trình thống nhất

- Tiêu chuẩn loại trừ: BN không được

xác định trong mổ là sỏi đường mật, sỏi

mật mổ lần đầu hoặc quy trình kỹ thuật

khác với nghiên cứu này

2 Phương pháp nghiên cứu

* Chỉ định và chống chỉ định:

- Chỉ định:

+ Sỏi đường mật trong và ngoài gan,

sót sỏi hoặc tái phát

+ Tình trạng cho phép phẫu thuật, gây

mê nội khí quản và bơm CO2

- Chống chỉ định: có chống chỉ định

phẫu thuật, chống chỉ định bơm CO2 ổ bụng hoặc không gây mê nội khí quản

được

* Quy trình kỹ thuật:

- Dụng cụ và trang thiết bị phẫu thuật: giàn máy nội soi phẫu thuật và các dụng

cụ PTNS

- Tư thế BN và phẫu thuật viên:

+ BN được nằm ngửa trên bàn mổ, hai

chân dạng, đầu cao

+ Vị trí phẫu thuật viên: phẫu thuật

viên chính đứng giữa 2 chân BN, phụ camera đứng bên trái, phụ 2 đứng bên phải; phụ dụng cụ đứng bên phải phẫu

thuật viên

- Thì đặt trocar: đặt trocar, bơm CO2, thường sử dụng 4 trocar

+ Trocar thứ nhất (10 mm): thông thường, chúng tôi đặt ở đường trắng giữa

- dưới rốn, đặt cách xa vết mổ cũ

+ Trocar thứ 2 (10 mm): ở đường trắng bên bên trái, ngang trên rốn Gỡ dính vùng mạn sườn phải để tạo khoảng trống đặt trocar thứ 3

+ Trocar thứ 3 (5 mm) ở mạn sườn phải: ở khoảng giữa của đường trắng bên

và đường nách trước, trên rốn

+ Trocar thứ 4 (5 mm): dưới bờ sườn trái, mục đích để nâng vén gan, bộc lộ vùng rốn gan

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀ BÀN LUẬN

1 Kết quả chung

- Số lượng BN nghiên cứu: 56

- Tỷ lệ nữ/nam: 32/24 (1,33)

- Tuổi: 28 - 78

2 Tiền sử mổ sỏi mật

Tiền sử mổ sỏi mật 01 lần chiếm chủ

yếu (37 BN = 66,07%); 2 lần: 13 BN

(23,22%); 3 lần: 4 BN (7,14%); 4 lần:

2 BN (3,57%) Bên cạnh đó, lần mổ cuối

cách đây lâu nhất > 20 năm và ngắn nhất

04 tháng

3 Vị tr đặt trocar đầu tiên lên thành

bụng

5 BN (8,92%) đặt trocar đầu trên rốn,

đây là những trường hợp đã mổ nội soi

hoặc mổ mở ở đường trắng giữa trên và

cách xa rốn; dưới rốn: 36 BN (64,29%);

15 BN (26,79%) đặt tại hạ sườn trái vì có

đường mổ trắng giữa dưới rốn kéo dài

Việc đặt trocar đầu vào đường trắng giữa

bao giờ cũng ít tai biến hơn so với các vị

trí khác trong thành bụng Do đó, chúng

tôi chỉ áp dụng đặt trocar đầu tiên vào hạ

sườn trái khi không thực hiện được trên

đường trắng giữa

4 Một số nhận ét đặc điểm tổn

thương d nh trong ổ bụng

Sau khi đặt trocar thứ nhất vào trong ổ

bụng, qua khảo sát tình trạng ổ bụng

thấy, vùng hạ sườn-hố chậu trái hầu như

không có tạng dính, một số ít có mạc nối

dính Đây cũng là cơ sở để có thể đặt

trocar đầu vào hạ sườn trái và thực hiện

cho 15 BN (26,79%) đặt trocar 1 tại hạ

sườn trái

* Đánh giá tạng dính lên thành bụng:

Tạng dính lên thành bụng hầu hết là

mạc nối lớn (52 BN = 92,86%); đại tràng

ngang: 33 BN (58,93%); dạ dày: 34 BN

(60,71%); tá tràng: 36 BN (64,28%); hỗng tràng: 11 BN (19,64%) Trong quá trình

gỡ dính vào vùng ống mật chủ, hầu hết tá tràng dính với ống mật chủ

* Trocar đặt trên thành bụng trong quá trình thực hiện kỹ thuật:

3 trocar: 10 BN (17,86%); 4 trocar: 46

BN (82,14%) 10 BN (17,86%) không đặt trocar thứ 4 dưới hạ sườn trái dùng để vén gan Trong quá trình gỡ dính, chúng tôi gỡ dính có chọn lọc, tận dụng gan dính vào thành bụng, nên khi bơm hơi trong ổ bụng, gan sẽ được nâng lên

5 Một số nhận ét chung

Sau khi đặt 2 trocar đầu tiên (ở đường trắng giữa và vùng hạ sườn trái), tiến hành dùng đơn cực gỡ dính, chúng tôi nhận thấy qua vết mổ cũ từ 1/2 đường trắng giữa trở xuống, tạng dính là mạc nối lớn

và hỗng tràng Do ổ bụng được bơm căng, chúng tôi tận dụng trọng lực của tạng dính làm lực đối trọng để gỡ dính vào khoảng giữa tạng dính với thành bụng

Khoảng giữa của tạng dính với thành bụng thông thường là một lớp màng nhện, đây chính là điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật viên gỡ dính, tránh được tổn thương tạng và hạn chế chảy máu Phẫu thuật viên có thể dùng dụng cụ vén tạng dính hoặc dùng đơn cực (vì lớp màng mỏng nên khi dùng đơn cực cần thận trọng để không gây tổn thương tạng) Chúng tôi cũng nhận thấy, ở vùng dưới gan, tạng dính là mạc nối, đại tràng ngang, tá tràng, dạ dày Do đó, việc gỡ dính để bộc lộ ống mật chủ cần thận trọng và tỉ mỉ, hạn chế tổn thương đại tràng và tá tràng (tá tràng thường dính với ống mật chủ)

Những trường hợp gan dính lên thành bụng, chúng tôi không gỡ dính, vì khi đó gan sẽ được nâng lên và bộc lộ vùng phẫu tích vào ống mật chủ

Trang 4

Hình 1: Vùng màng nhện giữa tạng dính

và thành bụng

6 Tỷ l tai biến trong quá trình gỡ d nh

Không có tai biến nặng trong mổ, trong

quá trình gỡ dính, 2 BN có tổn thương

thanh mạc đại tràng ngang và 02 BN tổn

thương thanh mạc tá tràng Các tổn

thương đều ổn định sau xử trí khâu bằng

chỉ safil 3/0

KẾT LUẬN

Một số nhận xét đặc điểm tổn thương

dính trong ổ bụng ở 56 BN sỏi đường mật

mổ lại:

- Tạng dính chủ yếu qua vết mổ cũ và

vùng hạ sườn phải, do vậy trocar thứ

nhất có thể đặt ở hạ sườn trái (15 BN)

- Mạc nối lớn dính lên thành bụng:

52/56 BN (92,86%); tá tràng: 36/56 BN

(64,28%) Trong quá trình gỡ dính vào

vùng ống mật chủ, hầu hết tá tràng dính

với ống mật chủ Việc xác định ống mật

chủ dựa trên các mốc: động mạch gan,

túi mật, dây chằng tròn kết hợp chọc

thăm dò

- Gỡ dính có chọn lọc, tận dụng gan

dính vào thành bụng, nên khi bơm hơi

trong ổ bụng, gan sẽ được nâng lên

- Phẫu thuật viên nên đi vào vùng màng nhện ở giữa tạng dính với thành bụng, điều này sẽ hạn chế chảy máu và tổn thương tạng

- Phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi mật mổ lại là kỹ thuật khá an toàn Tuy nhiên, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm về PTNS và giải phẫu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Quốc Ái và CS Nghiên cứu PTNS

trong điều trị bệnh lý đường mật Tạp chí

Y học Thực hành 2011, 12 (799)

2 Nguyễn Khắc Đức và CS Đánh giá kết

quả sớm điều trị PTNS sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Việt Đức Tạp chí học TP Hồ Chí Minh 2008, tập 12, số 4

3 Đỗ Trọng Hải Kết quả điều trị sỏi trong

gan với PTNS so với mổ mở có kết hợp kỹ thuật tán sỏi điện thủy lực Tạp chí học TP

Hồ Chí Minh 2005, tập 9, số 1

4 Phạm Minh Hải, Đặng Tâm Kết quả

sớm của PTNS lấy sỏi ống mật chủ qua ống túi mật Tạp chí học TP Hồ Chí Minh

2010, tập 14, số 1

5 Anbok Lee, Seog Ki Min, Jae Jung Park1, Hyeon Kook Lee Laparoscopic

common bile duct exploration for elderly patients: as a first treatment strategy for common bileduct stones J Korean Surg Soc

2011, 81, pp.128-133

Siu Laparoscopic exploration of the

commonbile duct: 10-year experience of

174 patients from a single centre Hong Kong Med J 2006, Vol 12, No 3, June, p.191

7 Hindmarsh A, Bignell M, Rhodes M Laparoscopic stenting of the common bile duct

Ann R Coll Surg Engl 2011, 93, pp.256-257

Ngày đăng: 23/01/2020, 18:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm