1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức, thực hành của học sinh điều dưỡng Trường trung cấp Phương Nam thực hiện rửa tay thường quy khi chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện năm 2013

8 124 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 418,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng của học sinh điều dưỡng Trường trung cấp Phương Nam trong việc thực hiện quy trình rửa tay thường quy khi chăm sóc người bệnh và các yếu tố liên quan. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

TRƯỜNG TRUNG CẤP PHƯƠNG NAM THỰC HIỆN   RỬA TAY THƯỜNG QUY KHI CHĂM SÓC BỆNH NHÂN  

TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2013 

Lý Văn Xuân*, Lê Thị Mỹ Ly** 

TÓM TẮT 

Bối cảnh: Nhiễm khuẩn bệnh viện là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế vì kéo dài thời gian nằm viện, 

tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Việc rửa tay của nhân viên y tế khi chăm sóc bệnh nhân có tác dụng  làm giảm đáng kể nhiễm khuẩn bệnh viện. Tuy nhiên việc làm đơn giản này lại có lúc, có nơi không thực hiện đầy 

đủ, đúng quy trình. Học sinh Điều dưỡng trong quá trình thực hành tại bệnh viện cũng có tác dụng đến quá  trình nhiễm khuẩn bệnh viện. Nghiên cứu này nhằm xác định kiến thức, thực hành rửa tay thường quy của học  sinh Điều dưỡng Trường trung cấp Phương Nam nhầm nâng cao ý thức rửa tay thường quy khi chăm sóc bệnh  nhân, góp phần hạn chế nhiễm khuẩn bệnh viện. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng của học sinh Điều dưỡng Trường trung cấp Phương 

Nam trong việc thực hiện quy trình rửa tay thường quy khi chăm sóc người bệnh và các yếu tố liên quan. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Sử  dụng  thiết  kế  nghiên  cứu  mô  tả  cắt  ngang  ở  252  học  sinh  Điều  dưỡng 

Trường trung cấp Phương Nam năm 2013. Bên cạnh bộ câu hỏi tự điền về kiến thức, còn dựa vào bảng kiểm  trực tiếp đánh giá thao tác rửa tay thường quy của học sinh. 

Kết  quả:  Hầu hết học sinh có kiến thức đúng về mục đích, thời điểm, số bước và số lần chà sát trong các 

bước rửa tay. Tuy nhiên chỉ có 66,67% học sinh biết đúng thứ tự các bước rửa tay và 72,23% học sinh biết đúng  nội dung bước 4 trong quy trình rửa tay thường quy. Đánh giá chung, chỉ có 58,33% học sinh có kiến thức  chung đúng. Học sinh thực hành đúng mỗi bước rửa tay có tỷ lệ từ 50,79% đến 82,54% nhưng chỉ có 23,80%  học sinh thực hành đúng tất cả các bước rửa tay. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và  thực hành đúng rửa tay thường quy. Có mối liên quan giữa kiến thức rửa tay với giới tính, số tiết học lý thuyết  tại Trường và thời gian thực hành tại Bệnh viện. Có mối liên quan giữa thực hành rửa tay với số tiết học lý  thuyết tại Trường, thời gian thực hành tại Bệnh viện. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực  hành rửa tay và phương tiện rửa tay tại các phòng bệnh. 

Kết luận: Tỷ lệ học sinh Điều dưỡng Trường trung cấp Phương Nam có kiến thức đúng về rửa tay thường 

quy là 58,33% và thực hành đúng là 23,80%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và thực  hành đúng rửa tay thường quy. Có mối liên quan giữa kiến thức rửa tay với giới tính, số tiết học lý thuyết tại  Trường và thời gian thực hành tại Bệnh viện. Có mối liên quan giữa thực hành rửa tay với số tiết học lý thuyết  tại Trường, thời gian thực hành tại Bệnh viện. 

Từ khóa: Kiến thức, thực hành, quy trình rửa tay thường quy. 

ABSTRACT  

KNOWLEDGE, PRACTICE OF PHUONG NAM COLLEDGE’S NURSING STUDENTS 

IMPLEMENTING ROUTINE HAND‐WASHING PROCESS WHEN CARING PATIENTS IN 2013 

Ly Van Xuan, Le Thi My Ly * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 153 ‐ 160 

Background: Hospital infections are an important issue in the management quality of care, because hospital 

infections increase prolonged hospital stay, cost of treatment and mortality. Studies show that hand‐washing of 

Trang 2

is not sometimes fully implement. Nursing students, who often reach the patients in the clinical depentment, also  have  a  key  role  in  controlling  the  hospital  infections.  Hence,  this  study  “Knowledge,  practice  of  Phuong  Nam  College’s nursing student’s implenting routine hand‐washing process when caring patients” can contribute the  solution in reducing hospital infections. 

Objectives:  To determine the rate of the correct knowledge, the correct practice of Phuong Nam College’s 

nursing students implenting routine process of hand‐washing when taking care of patients and related factors . 

Methods:  A  cross‐sectional  descriptive  study  was  conducted  on  252  Phuong  Nam  College’s  nursing 

students  in  2013.  Beside  the  questionnaire  included  student’s  knowledge,  the  check‐list  was  used  to  directly  determine the practice of nursing students in implementing routine process of hand‐washing. 

Results: Almost nursing students have correct knowledge about hand – washing: the purpose, the time, the 

number of steps and the number of rub in each hand – washing step. However, only 66.27% of nursing students  has the knowledge of the order of steps and 72.23% of them have the knowledge of the content of hand – washing  steps. The rate of the correct general knowledge of Phuong Nam College’s nursing students in implementing the  routine process of hand‐washing is 58.33% and the rate of the correct general practice is 23.80%. There is the  significant  relation  between  the  correct  knowledge  with  the  correct  practice  of  nursing  students.  There  is  the  significant relation between the knowledge of hand‐washing with gender, the time of learning theory at the school  and the time of practicing at the hospital. There is the significant relation between the practice of hand‐washing  with the time of learning theory at the school and the time of practicing at the hospital. However, the relation  between the practices of hand‐washing with the facility conditions for implementing hand‐washing at the hospital 

is not significant. 

Conclusions:  The  rate  of  the  correct  general  knowledge  of  Phuong  Nam  College’s  nursing  students  in 

implementing  the  routine  process  of  hand‐washing  is  58.33%  and  the  rate  of  the  correct  general  practice  is  23.80%.  There  is  the  significant  relation  between  the  correct  knowledge  with  the  correct  practice  of  nursing  students.  There  is  the  significant  relation  between  the  knowledge  of  hand‐washing  with  gender,  the  time  of  learning theory at the school and the time of practicing at the hospital. There is the significant relation between the  practice of hand‐washing with the time of learning theory at the school and the time of practicing at the hospital.  

Key words: Knowledge, practice, routine process of hand‐washing 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Nhiễm  khuẩn  bệnh  viện  là  mối  quan  tâm 

hàng  đầu  của  ngành  y  tế  vì  làm  tăng  tỷ  lệ  tử 

vong,  tăng  chi  phí  điều  trị  và  kéo  dài  thời  gian 

nằm viện. 

Nghiên  cứu cho thấy  việc  rửa  tay  của nhân 

viên y tế  khi  chăm  sóc người  bệnh  có  tác dụng 

giảm  thiểu  đáng  kể  tỷ  lệ  nhiễm  khuẩn  bệnh 

viện(1,10). Tuy nhiên việc làm đơn giản này có lúc, 

có  nơi  lại  thực  hiện  không  đầy  đủ.  Một  nghiên 

cứu ở bệnh viện Thống Nhất năm 2009 cho thấy 

tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện rửa tay trước khi 

chăm  sóc  bệnh  nhân  là  67%(6).  Một  nghiên  cứu 

khác ở bệnh viên Nhi Đồng 1 năm 2012 ghi nhận 

tỷ lệ rửa tay là 62% trong đó có 46% rửa tay sai.  Học sinh điều dưỡng – những nhân viên y tế  trong  tương  lai,  trong  quá  trình  thực  tập  lâm  sàng  tại  bệnh  viện,  cũng  có  vai  trò  quan  trọng  trong  kiểm  soát  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện(3).  Nghiên cứu cho thấy, chỉ có 55,8% học sinh rửa  tay  trước  khi  thăm  khám  người  bệnh  và  78,3% 

có kiến thức đúng về rửa tay thường quy(5). 

Do đó chúng tôi nghiên cứu “Kiến thức, thực  hành  của  học  sinh  Điều  dưỡng  Trường  trung  cấp  Phương  Nam  thực  hiện  quy  trình  rửa  tay  thường  quy  khi  chăm  sóc  người  bệnh  tại  bệnh 

Trang 3

nâng cao ý thức, thực hành vệ sinh đôi tay cho 

các  điều  dưỡng  tương  lai,  từ  đó  góp  phần  hạn 

chế nhiễm khuẩn bệnh viện. 

Mục tiêu 

Mục tiêu tổng quát 

Xác định tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng của 

học sinh Điều dưỡng Trường trung cấp Phương 

Nam  trong  việc  thực  hiện  quy  trình  rửa  tay 

thường quy khi chăm sóc người bệnh và các yếu 

tố liên quan đến kiến thức và thực hành rửa tay 

thường quy. 

Mục tiêu cụ thể 

Xác  định  tỷ  lệ  kiến  thức  đúng  của  học  sinh 

điều  dưỡng  Trường  trung  cấp  Phương  Nam 

trong  việc  thực  hiện  quy  trình  rửa  tay  thường 

quy khi chăm sóc người bệnh. 

Xác định tỷ lệ thực hành đúng của học sinh 

điều  dưỡng  Trường  trung  cấp  Phương  Nam 

trong  việc  thực  hiện  quy  trình  rửa  tay  thường 

quy khi chăm sóc người bệnh. 

Xác định các mối liên quan đến kiến thức và 

thực  hành  rửa  tay  thường  quy  khi  chăm  sóc 

người  bệnh  của  học  sinh  Điều  dưỡng  Trường 

trung cấp Phương Nam. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu. 

Đối  tượng  nghiên  cứu  là  học  sinh  Điều 

dưỡng năm thứ 2 của Trường trung cấp Phương 

Nam đang thực tập tại bệnh viện vào thời điểm 

nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Công cụ thu thập số liệu 

Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi soạn 

sẵn về kiến thức rửa tay và bảng kiểm quy trình  rửa  tay  thường  quy  khi  chăm  sóc  bệnh  nhân,  gồm 6 bước như sau: 

  Bước  1:  Làm  ướt  hai  lòng  bàn  tay  bằng  nước. Lấy xà phòng và chà hai lòng bàn tay vào  nhau. 

  Bước  2:  Chà  lòng  bàn  tay  này  lên  mu  và 

kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược  lại. 

  Bước  3:  Chà  hai  lòng  bàn  tay  vào  nhau,  miết mạnh các kẽ trong ngón tay. 

  Bước  4:  Chà  mặt  ngoài  các  ngón  tay  của  bàn tay này vào lòng bàn tay kia. 

  Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái  của bàn tay kia và ngược lại. 

  Bước  6:  Xoay  các  đầu  ngón  tay  này  vào  lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa sạch tay dưới  vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay. 

Thời  gian  cho  mỗi  lần  rửa  tay  tối  thiểu  1  phút, mỗi bước 2,3,4,5 lặp lại tối thiểu 5 lần.  

Phương pháp thu thập số liệu 

Quan  sát  trực  tiếp  học  sinh  rửa  tay  và  ghi  nhận bằng bảng kiểm quy trình rửa tay thường  quy. Sau đó khảo sát kiến thức bằng bộ câu hỏi  soạn sẵn để học sinh tự trả lời (tự điền). 

Thời gian thực hiện 

Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2013. 

Phân tích và xử lý số liệu 

‐ Nhập dữ liệu bằng phần mềm Epidata. 

‐ Xử lý số liệu bằng phần mềm Stata. 

‐ Xác định mối liên quan bằng kiểm định chi  bình  phương  với  mức  độ  tương  quan  được  đo  lường  bằng  tỷ  lệ  hiện  mắc  (PR)  và  khoảng  tin 

cậy 95%. 

KẾT QUẢ 

Kết  quả  nghiên  cứu  ở  252  học  sinh  Điều  dưỡng như sau: 

Trang 4

học tập và cơ sở thực hành tại bệnh viện 

Bảng 1‐ Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu, thời 

gian học tập và cơ sở thực hành tại bệnh viện 

Các yếu tố Tần số Tỷ lệ (%)

Thời gian đã

thực tập ở các

bệnh viện

Số tiết học

lý thuyết

tại trường

Số tiết học thực

tập tại trường

Nơi thực tập

đủ nước

rửa tay

Tất cả các phòng bệnh

Một nữa số phòng bệnh

Nơi thực tập

đủ bồn

rửa tay

Tất cả các phòng bệnh

Một nữa số phòng bệnh

Nơi thực tập

đủ xà phòng

Tất cả các phòng bệnh

Một nửa số phòng bệnh

Nơi thực tập

đủ khăn

lau khô tay

Tất cả các phòng bệnh

Một nửa số phòng bệnh

Nhận  xét:  nữ  chiếm  đa  số  với  tỷ  lệ  81,35%. 

Phần lớn học sinh đã thực tập ở bệnh viện từ 3 

tháng trở lên (tỷ lệ 73,41%). Đa số học sinh tham 

gia  học  lý  thuyết  về  quy  trình  rửa  tay  thường 

quy  ở trường trên  2 tiết (tỷ  lệ 63,10%).  Hầu  hết 

các phòng  bệnh  đều  có đủ nước  rửa  tay,  đủ  xà 

phòng  và  bồn  rửa  tay.  Tuy  nhiên  chỉ  có  1  số  ít 

phòng bệnh có đủ khăn lau tay. 

Kiến thức về rửa tay thường quy 

Bảng 2‐ Kiến thức về rửa tay thường quy 

Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)

Mục đích rửa tay

Thời điểm rửa tay

Trước khi thực hiện thao tác vô khuẩn 250 99,21

Sau khi tiếp xúc với máu, dịch tiết 248 98,41 Sau khi tiếp xúc môi trường xung

Số bước trong rửa tay thường quy

Số lần chà sát trong mỗi bước rửa tay

Chọn khăn làm khô tay sau khi rửa tay

Thứ tự các bước rửa tay

Nội dung các bước rửa tay

Nhận  xét:  hầu  hết  học  sinh  có  kiến  thức  về 

mục  đích,  thời  điểm,  số  bước  và  số  lần  chà  sát  trong các bước rửa tay. Tuy nhiên chỉ có 66,27% 

học  sinh  biết  đúng  thứ  tự  các  bước  rửa  tay  và  72,23% học sinh biết đúng nội dung bước 4 trong  quy trình rửa tay thường quy. Chỉ có 58,33% học 

sinh có kiến thức chung đúng. 

Trang 5

Bảng 3 ‐ Mối liên quan giữa kiến thức rửa tay thường quy với đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Đặc tính Kiến thức p PR

(KTC 95%)

Chưa đúng (%) Đúng (%)

Số bệnh nhân được chăm sóc/ ngày

0,099

1

* Kiểm định chính xác Fisher 

Nhận xét: có mối liên quan có ý nghĩa thống 

kê  giữa  kiến  thức  về  quy  trình  rửa  tay  thường 

quy  với  giới  tính,  với  thời  gian  thực  tập  bệnh 

viện, thời gian học lý thuyết tại trường. Ngoài ra 

phòng  bệnh  có  đủ  nước,  đủ  xà  phòng  rửa  tay 

cũng  gợi  cho  học  sinh  nhớ  lại  các  nội  dung  đã 

được học về quy trình rửa tay thường quy. 

Thực hành rửa tay thường quy 

Bảng 4 ‐ Thực hành rửa tay thường quy 

Các bước rửa tay Tần số Tỷ lệ (%)

Các bước rửa tay Tần số Tỷ lệ (%)

Thực hành chung đúng 60 23,8

Nhận  xét:  có  hơn  80%  học  sinh  thực  hành 

đúng  bước  2  và  bước  3  nhưng  chỉ  có  23,80%  học  sinh  thực  hành  chung  đúng  về  rửa  tay 

thường quy. 

Mối liên quan giữa thực hành rửa tay thường quy với đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Bảng 5 ‐ Mối liên quan giữa thực hành rửa tay thường quy với đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Chưa đúng (%) Đúng (%)

Trang 6

Đặc tính Thực hành p PR (KTC 95%)

Chưa đúng (%) Đúng (%)

*Kiểm định chính xác Fisher 

Nhận xét: có mối liên quan có ý nghĩa thống 

kê giữa thực hành đúng với số tiết lý thuyết và 

thực hành được học tại trường trong khi không 

có liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành 

đúng với thời gian thực tập tại bệnh viện. 

Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 

rửa tay thường quy  

Đặc tính TH chưa đúng (%) TH đúng (%) p (KTC 95%) PR

Kiến thức

0,037

1,66 Kiến thức

Nhận xét: có mối liên quan có ý nghĩa thống 

kê giữa thực hành đúng và kiến thức đúng: tỷ lệ 

học  sinh  có  kiến  thức  chung  đúng  thì  có  thực 

hành chung đúng gấp 1,66 lần học sinh khá với 

p = 0,37; PR = 1,01 – 2,72. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu, về thời 

gian học tập và về cơ sở thực hành tại bệnh 

viện 

Khảo sát 252 học sinh cho thấy học sinh nữ 

chiếm tỷ lệ 81,35% là phù hợp với đặc điểm của 

ngành Điều dưỡng. Học sinh trả lời không thống 

nhất nhau về số tiết học lý thuyết và thực tập về 

quy trình rửa tay thường quy vì nhà trường dạy 

lồng  ghép  với  nội  dung  sử  dụng  dụng  cụ  vô  khuẩn.  Kết  quả  thực  hành  đúng  quy  trình  rửa  tay còn thấp (23,8%) có lẽ nên tăng thêm số tiết  giảng  dạy  riêng  nội  dung  rửa  tay  thường  quy  cho học sinh. Khảo sát cũng cho thấy các phòng  bệnh ở bệnh viện không có đầy đủ bồn rửa tay,  nước rửa tay và xà phòng đã góp phần làm cho  học sinh không thực hiện đầy đủ quy trình rửa  tay. Thực tế cho thấy các cơ sở khám chữa bệnh  nói chung và ở các bệnh viện nói riêng, hiện còn  thiếu các điều kiện để nhân viên y tế cũng như  học  sinh  thực  hiện  đầy  đủ  quy  trình  rửa  tay  thường quy(9). 

Kiến thức về rửa tay thường quy 

Hầu hết học sinh đều có kiến thức đúng về  mục  đích,  thời  điểm  rửa  tay,  số  bước,  số  lần  của  mỗi  bước  rửa  tay  thường  quy.  Tuy  nhiên  vẫn còn nhiều học sinh không biết đúng thứ tự  các bước rửa tay cũng như nội dung bước 4 và  bước 6. 

Đánh giá chung cho thấy chỉ có 58,33% học  sinh  có  kiến  thức  chung  đúng.  Kết  quả  này  tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Đức  Hạnh ở bệnh viện 115 năm 2010 với tỷ lệ 61,70%  nhân  viên  y  tế  có  kiến  thức  đúng  về  rửa  tay  thường quy(7)

Trang 7

Mối  liên  quan  giữa  kiến  thức  rửa  tay 

thường  quy  với  đặc  điểm  đối  tượng 

nghiên cứu 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

kiến  thức  về  quy  trình  rửa  tay  thường  quy  với 

giới  tính,  với  thời gian  thực tập  bệnh  viện,  thời 

gian  học  lý  thuyết  tại  trường.  Ngoài  ra,  phòng 

bệnh có đủ nước, đủ xà phòng rửa tay cũng gợi 

cho  học  sinh  nhớ  lại  các  nội  dung  đã  được  học 

về quy trình rửa tay thường quy. Điều này phù 

hợp  với  nghiên  cứu  của  Lưu  Hồng  Nhung  về 

“Kiến  thức,  thái  độ,  thực  hành  rửa  tay  phòng 

bệnh của sinh viên Y6 Bác sĩ đa khoa trường Đại 

học Y Hà Nội 2010”(5)

Thực hành rửa tay thường quy 

Mặc dù có hơn 80% học sinh thực hành đúng 

bước 2 và 3 trong quy trình rửa tay thường quy 

nhưng đánh giá thực hành chung đúng thì chỉ có 

23,80%  học  sinh  thực  hành  đúng.  Theo  nghiên 

cứu  của  Nguyễn  Thị  Thanh  Hà 2010  ở  15 khoa 

lâm sàng tại bệnh viên Nhi Đồng 1, chỉ có 62% 

trường  hợp  thực  hiện  rửa  tay  thường  quy  và 

trong số này có 46% rửa tay sai(8). Đối tượng rửa 

tay sai  nhiều  nhất  là học  sinh  thực tập như  ghi 

nhận của chúng tôi. 

Mối  liên  quan  giữa  thực  hành  rửa  tay 

thường quy với đặc điểm đối tượng nghiên 

cứu 

Kết  quả  nghiên  cứu  cho thấy  không có  mối 

liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  thực  hành 

rửa  tay  thường  quy  với  giới  tính,  dân  tộc,  thời 

gian  thực  hành  tại  bệnh  viện,  số  tiết  học  lý 

thuyết và thực tập tại trường cũng như phương 

tiện  phục  vụ  rửa  tay  tại  bệnh  viện.  Điều  này 

chứng tỏ do ý thức của học sinh, vì vậy cần phải 

thường  xuyên  kiểm  tra,  nhắc  nhở  và  có  biện 

pháp giáo dục học sinh rửa tay thường quy khi 

chăm sóc bệnh nhân 

Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 

rửa tay thường quy 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

kiến thức và thực hành rửa tay thường quy. Học 

sinh có kiến thức đúng thì thực hành đúng gấp  1,66 lần so với học sinh chưa có kiến thức đúng.  Điều  này  cho  thấy  cần  phải  trang  bị  kiến  thức  rửa  tay  thường  quy  cho  học  sinh;  hơn  thế  nữa  cần kiểm tra, nhắc nhở học sinh luôn ý thức rửa  tay  thường  quy  đúng  cách  sẽ  góp  phần  giảm  đến 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh  tiêu chảy, giảm từ 20 – 45% nhiễm khuẩn đường 

hô hấp(8). 

KẾT LUẬN 

Tỷ lệ học sinh Điều dưỡng Trường trung cấp  Phương  Nam  có  kiến  thức  đúng  về  rửa  tay  thường  quy  là  58,33%  và  thực  hành  đúng  là  23,50%. 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  kiến  thức  đúng  và  thực  hành  đúng  rửa  tay  thường quy. 

Có mối liên quan giữa kiến thức rửa tay với  giới tính, số tiết học lý thuyết tại trường và thời  gian thực hành tại Bệnh viện. 

Có mối liên quan giữa thực hành rửa tay với 

số  tiết  học  lý  thuyết  tại  trường,  thời  gian  thực  hành tại Bệnh viện. Không có mối liên quan có ý  nghĩa  thống  kê  giữa  thực  hành  rửa  tay  và  phương tiện rửa tay tại các phòng bệnh. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

attitudes and compliance of hand hygiene among healthcare  workers”.  A  Thesis  submitted  to  the  Graduate  school  of  Meiho  Institute  of  Technology  in  partial  fulfillment  of  the  requirements  for  the  degree  of  Master  of  Science  in  Health  Care 

thường  quy  (  6  bước),  công  văn  số:  7517/BYT‐ĐTr,  ngày  12/10/2007”. 

rửa tay của nhân viên y tế theo năm thời điểm của Tổ chức y 

tế thế giới”, Tạp chí y học Thành Phố Hồ Chí Minh, Tập 14,  trang 423‐426. 

Knowledge  andAttitude  towards  Handwashing  among  Nurses”. Nosocomial Infection Control Journal, 11, 311‐322 

rửa tay phòng bệnh của sinh viên Y6 hệ bác sĩ đa khoa trường  đại  học  Y  Hà  Nội  năm  2010”,  Luận  văn  Bác  sĩ  đa  khoa,  Trường Đại học y Hà Nội. 

tay của nhân viên y tế tại bệnh viện Thống Nhất “Tiểu luận  tốt nghiệp lớp quản lý Điều Dưỡng”. 

Trang 8

7 Nguyễn Thị Bích Hạnh (2011), “Đánh giá tuân thủ rửa tay của 

nhân viên y tế tại bệnh viện nhân dân 115”, luận văn Cử nhân 

y tế y tế công cộng, Thành Phố Hồ Chí Minh. 

chí y học, Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14, tr. 416 ‐ 422 

practice:  a  multidisciplinary  approach”.  EmergencyInfection 

Disease, 7(2), 234‐240 

10 Wang  YH,  Liu  SZ,  Zhong  HY,  Li  JP.  (2006),  “A  Survey  of  Knowledge  of  HandHygiene  among  Nurses”.  Chinese  Journal Evidenced‐Based Medicine, 6(9), 641‐645. 

 

Ngày nhận bài báo:        05/9/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:    29/9/2014  Ngày bài báo được đăng:  20/10/2014  

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w