1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tác dụng của acetazolamide trong chuẩn bị bệnh nhân trước mổ tán nhuyễn thể thủy tinh tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh

8 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 319,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hạ nhãn áp của acetazolamide trên mắt bị đục thể thủy tinh có nhãn áp bình thường và tác dụng trên nguy cơ tai biến trong mổ tán nhuyễn thể thủy tinh.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA ACETAZOLAMIDE TRONG CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ TÁN NHUYỄN THỂ THỦY TINH

TẠI BỆNH VIỆN MẮT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Phương Thu*, Trần Huy Hoàng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Một trong các tai biến nghiêm trọng trong phẫu thuật thể thủy tinh là rách bao sau và thoát

dịch kính Đã có nhiều biện pháp, trong dó có làm mềm nhãn cầu, được nghiên cứu và đề xuất nhằm hạn chế tai biến này Acetazolamide đường uống là một thuốc hạ nhãn áp thuộc nhóm chất ức chế carbonic anhydrase, được

sử dụng phổ biến trong chuẩn bị trước mổ thể thủy tinh bằng phương pháp trong bao và ngoài bao, nhưng chưa được nghiên cứu trong phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng hạ nhãn áp của acetazolamide trên mắt bị đục thể thủy tinh có nhãn áp bình

thường và tác dụng trên nguy cơ tai biến trong mổ tán nhuyễn thể thủy tinh

Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tiến cứu, mù đôi, có đối chứng so sánh mức hạ

nhãn áp, và tỷ lệ tai biến trong mổ giữa nhóm có dùng acetazolamide với nhóm chứng ở 200 mắt mổ tán nhuyễn thể thủy tinh

Kết quả: Ở nhóm bệnh nhân có dùng liều duy nhất 500mg acetazolamide nhãn áp tăng từ 14,9mmHg khi

nhập viện đến mức 15,8mmHg trước khi gây tê nhưng không có ý nghĩa thống kê, nhãn áp ở nhóm chứng dao động từ 15,8mmHg đến 16,2mmHg trong cùng khoảng thời gian Tai biến trong mổ xảy ra ở 18,4% trong nhóm chứng và 14,3% trong nhóm acetazolamide, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Kết luận: Acetazolamide không làm hạ nhãn áp trên các mắt có nhãn áp bình thường, và không có ảnh

hưởng đến nguy cơ bị tai biến trong mổ

Từ khóa: acetazolamide, nhãn áp, phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh, rách bao sau, thoát dịch kính, bỏng giác mạc

ABSTRACT

EFFECTS OF ACETAZOLAMIDE USED AS PREOPERATIVE MEDICATION IN

PHACOEMULSIFICATION SURGERY

Tran Thi Phuong Thu, Tran Huy Hoang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 274 - 280

Background: Posterior capsule breake with or without vitreous loss is a severe complication of cataract

surgery Various methods, including softening of the globe, have been studied and proposed to minimize this devastating complication Oral acetazolamide, an antiglaucomatous agent belonging to the carbonic anhydrase inhibitors class, has been widely used in preoperative care of patients before intracapcular or extracapsular cataract extraction, but has not been studied in phacoemulsification

Aims: To evaluate intraocular pressure reducing effect of acetazolamide in cataractous eyes with normal IOP

and to investigate whether acetazolamide can reduce risk of intraoperative complications in phacoemulsification surgery

Method: A randomized clinical trial in which acetazolamide is compared with placebo to investigate its

* Bộ Môn Mắt, Đại Học Y Dược Tp HCM ** Bệnh viện Mắt Tp HCM

Tác giả liên lạc: BS Trần Huy Hoàng ĐT: 0988648460, Email: hoang.ceh@gmail.com

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt

275

effects in reducing IOP and intraoperative complications in 200 normotensive eyes undergoing phacoemulsification surgery

Results: In patients given a single oral dose of 500mg acetazolamide preoperatively, mean IOP increased

slightly, but not statistically significant, from 14.9mmHg at admission to 15.8mmHg immediately before regional anesthesia Mean IOP in controls changed from 15.8mmHg to 16.2mmHg at the same period There was no statistically significant difference in mean IOP between the two groups before and after anesthesia Intraoperative complications in the two groups (18.4% and 14.3%, respectively) were not of statistic significance (p=0.48)

Conclusion: Acetazolamide when used as a single oral dose before surgery doesn’t reduce IOP in

normotensive eyes, and has no effect on risk of intraoperative complications in phacoemulsification surgery

Key words: acetazolamide, intraocular pressure, phacoemulsification, posterior capsule break, vitreous loss, corneal burn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đục thể thủy tinh là một bệnh của mắt do sự

hóa đục của thể thủy tinh làm mất thị lực Bệnh

này có thể được chữa khỏi hoàn toàn bằng biện

pháp phẫu thuật Các phương pháp mổ thể thủy

tinh đã được nghiên cứu cải tiến nhiều để tăng

kết quả thị lực và giảm nguy cơ biến chứng Đã

có nhiều biện pháp khác nhau được nghiên cứu

và đề xuất nhằm làm giảm nguy cơ tai biến rách

bao sau trong khi mổ, một trong các biện pháp

đó là làm cho mắt mềm ngay trước phẫu thuật

Dùng acetazolamide đường uống là một

biện pháp được ưa chuộng để hạ nhãn áp trước

mổ, được dùng phổ biến trong chuẩn bị trước

mổ cho bệnh nhân mổ bằng phương pháp mổ

trong bao và ngoài bao Tuy nhiên, từ khi

phương pháp phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy

tinh được giới thiệu ở nước ta đến nay, chưa có

nghiên cứu nào được thực hiện để khảo sát tác

dụng của acetazolamide trong vấn đề này

Đề tài “Nghiên cứu tác dụng của

acetazolamide trong chuẩn bị bệnh nhân trước

mổ tán nhuyễn thể thủy tinh tại Bệnh viện Mắt

Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện để so

sánh mức độ hạ nhãn áp trước mổ và tỷ lệ tai

biến trong mổ trên bệnh nhân có dùng và không

dùng acetazolamide trong chuẩn bị trước mổ,

đồng thời khảo sát liên quan về thông kê giữa

mức độ hạ nhãn áp và tai biến, cũng như các

yếu tố nguy cơ khác, nếu có

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá lợi ích của acetazolamide trong phẫu thuật đục thể thủy tinh bằng phương pháp tán nhuyễn thể thủy tinh

Mục tiêu cụ thể

So sánh mức độ hạ nhãn áp trên bệnh nhân

có dùng và không dùng acetazolamide trong chuẩn bị tiền phẫu

So sánh tỷ lệ các tai biến trong phẫu thuật giữa hai nhóm

Tìm liên quan về mặt thống kê giữa mức độ

hạ nhãn áp và tai biến trong phẫu thuật

TỔNG QUAN TÀI LIỆU Acetazolamide

Acetazolamide là một chất dẫn xuất sulfonamide, có tên theo danh pháp là (2-acetyl-amino-1,3,4-thiadizole-5-sulfonamide), công thức hóa học C4H6N4O3S2

Trong tế bào, CO2 và nước kết hợp với nhau theo phản ứng thuận nghịch sau CO2 + H2O

CA H2CO3 > H+ + HCO3- Men carbonic anhydrase xúc tác cho chiều phản ứng chuyển

CO2 và nước thành H2CO3 Ở thể mi, phản ứng này xảy ra trong tế bào biểu mô không sắc tố của nhú thể mi, ion HCO3- được hình thành đi vào hậu phòng, kéo theo natri và nước, đó là cơ chế của sự sản xuất thuỷ dịch (1-3) Acetazolamide

ức chế men carbonic anhydrase ở vị trí hoạt động của nó, dẫn đến làm giảm sự tạo nước

Trang 3

Acetazolamide trong phẫu thuật thể thủy

tinh

Làm mềm nhãn cầu được coi là một biện

pháp quan trọng để hạn chế tai biến rách bao

sau và thoát dịch kính trong phẫu thuật thể thủy

tinh Sau khi acetazolamide ra đời và được

chứng minh là làm giảm nhãn áp, nó bắt đầu

được sử dụng tiền phẫu trong phẫu thuật thể

thủy tinh cả trong bao và ngoài bao, dùng đơn

thuần hoặc kèm với lợi tiểu thẩm thấu nhằm

mục đích trên

Kể từ khi phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy

tinh ra đời và được ứng dụng rộng rãi, việc sử

dụng acetazolamide trong chuẩn bị tiền phẫu ít

được nghiên cứu Ở nước ta, acetazolamide vẫn

được sử dụng rộng rãi trong chuẩn bị trước mổ

thể thủy tinh Do đó, cần tiến hành nghiên cứu

để khẳng định hoặc bác bỏ vai trò của nó

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Là tất cả bệnh nhân được phẫu thuật đục thể

thuỷ tinh bằng phương pháp tán nhuyễn thể

thủy tinh

Dân số chọn mẫu

Là tất cả bệnh nhân đến điều trị đục thể thuỷ

tinh tại khu phẫu thuật nhân đạo Bệnh viện Mắt

TpHCM trong khoảng thời gian 1/1/2012 đến

31/6/2012 thoả các điều kiện nhận vào và điều

kiện loại trừ

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Người từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt

giới tính, được chẩn đoán đục thể thủy tinh và

chỉ định phẫu thuật Bệnh nhân đồng ý tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn lọai trừ

Nhãn áp trên 23mmHg (đo bằng nhãn áp kế

Schiotz), đã có tiền sử chấn thương mắt, viêm

màng bồ đào, glaucoma, đã có phẫu thuật bề

mặt nhãn cầu hoặc phẫu thuật nội nhãn, có sẹo

giác mạc Gây tê không đạt yêu cầu, phải chích

bổ sung Mắt độc nhất Chống chỉ định dùng acetazolamide

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiêm lâm sàng tiến cứu, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng

Xác định cỡ mẫu

Vì không có nghiên cứu đá báo cáo để tham khảo và dựa vào đó tính cỡ mẫu, nên tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu trên 200 bệnh nhân chia làm hai nhóm bằng nhau Một nhóm có dùng acetazolamide và nhóm còn lại

là nhóm chứng

Kỹ thuật chọn mẫu

Bệnh nhân đến phẫu thuật thể thủy tinh sau khi thỏa các điều kiện nhận vào và điều kiện loại trừ, sẽ được phân bố một cách ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm nghiên cứu Phẫu thuật viên, người đo thị lực, nhãn áp, gây tê, khám hậu phẫu không biết phân nhóm của bệnh nhân

Phương pháp tiến hành

Vào buổi sáng của ngày mổ, bệnh nhân được cho uống thuốc theo phân nhóm ngẫu nhiên Khi bệnh nhân lên bàn gây tê sẽ được đo nhãn áp, sau khi gây tê xong thì được đo nhãn

áp lại Gây tê xong bệnh nhân sẽ được phẫu thuật bởi một trong ba phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm nhất, tất cả đều dùng kỹ thuật mổ phaco chop, và đặt kính nội nhãn

Biến số thu thập

Các biến số nền: Tuổi, giới, địa chỉ nơi cư trú,

mắt mổ, ngày mổ, thị lực trước mổ, nhãn áp trước mổ, độ cứng nhân

Các biến số lâm sàng: Giờ uống thuốc, nhãn áp

trước khi gây tê và sau khi gây tê, giờ gây tê, giờ

mổ bắt đầu mổ, giờ mổ xong, phẫu thuật viên

Các biến số kết quả: Tai biến trong mổ, thị

lực sau mổ, tình trạng giác mạc, tình trạng tiền phòng, tình trạng mống mắt, tình trạng kính nội nhãn

Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập vào, xử lý và phân tích

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt

277

bằng chương trình thống kê SPSS11.5

Các biến định lượng phân phối bình thường

được kiểm định bằng phép kiểm t, các biến định

lượng phân phối không bình thường được kiểm

định bằng phép kiểm Mann-Whitney Wilcoxon

Các biến định tính được kiểm định bằng

phép kiểm chi bình phương Mối tương quan

được kiểm định bằng kiểm định hồi quy

Giá trị p<0,05 được coi là có ý nghĩa thống

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau mổ có 99/100 bệnh nhân nhóm acetazolamide và 98/100 bệnh nhân nhóm chứng tái khám

Mô tả đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của hai nhóm nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm của từng nhóm nghiên cứu

Độ cứng nhân (n, %)

0,55**

Tỷ lệ nhân cứng (n, %) Độ I, II và III 78 79,6 69 72,7 0,26**

Phẫu thuật viên (n, %)

0,46**

Thị lực logMAR trước mổ (TB±ĐLC) 1,43±0,62 1,50±0,55 0,34*

Tỷ lệ thị lực trước mổ (n, %) <1/10 58 59,2 62 62,6 0,41**

Nhãn áp nhập viện (mmHg) (TB±ĐLC) 15,8±3.0 14,9±3,3 0,06* Thời gian từ khi uống thuốc đến khi gây tê (phút) (TB±ĐLC) 168±77 152±53 0,13* Thời gian từ khi gây tê đến khi mổ (phút) (TB±ĐLC) 9,0±12,1 10,2±12,5 0,36*

Chú thích: TB: trung bình ĐLC: độ lệch chuẩn n: số mắt *: phép kiểm t **: phép kiểm chi bình phương

Nhận xét: Hai nhóm bệnh nhân không có khác

biệt có ý nghĩa thống kê về các biến số nền

Thay đổi nhãn áp trước và sau khi gây tê

Bảng 2 Nhãn áp trước khi gây tê so với khi nhập viện

Nhóm

Nhãn áp (mmHg)

p

Chú thích: TB: trung bình ĐLC: độ lệch chuẩn Phép kiểm t bắt cặp

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt 278

Nhận xét: Nhãn áp của từng nhóm không

có biến thiên có ý nghĩa thống kê (p lần lượt

là 0,07 và 0,09)

Biến thiên nhãn áp trong từng nhóm sau

khi gây tê

Bảng 3 Nhãn áp sau khi gây tê so với trước khi gây

Nhóm

Nhãn áp (mmHg)

p Trước khi gây tê Sau khi gây tê

TB ĐLC TB ĐLC Nhóm chứng 16,2 2,9 15,0 3,3 0,04

Acetazolamide 15,8 3,5 14,8 4,6 0,048

Chú thích: TB: trung bình ĐLC: độ lệch chuẩn Phép kiểm

t bắt cặp

Nhận xét: Ngay sau khi gây tê, nhãn áp

của bệnh nhân có giảm đi và mức giảm đều có

ý nghĩa thống kê trong cả hai nhóm (p=0,048

trong nhóm acetazolamide và p = 0,04 trong

nhóm chứng)

Mức giảm nhãn áp lần lượt là 1,0 mmHg và

1,2mmHg, không có khác biệt nhau giữa hai

nhóm (p=0,8)

Các tai biến trong mổ

Bảng 4 Các tai biến trong mổ

Không có 79 80,6 84 84,7

0,48

Bỏng vết mổ nhẹ 18 18,4 14 14,3

Rách bao sau 1 1,0 0 0,0

Đứt dây treo 0 0,0 1 1,0

Tróc màng

Descemet

Tổn thương mống 0 0,0 0 0,0

Chú thích: n là số mắt Phép kiểm chính xác Fisher

Nhận xét: Trong nhóm chứng có một ca rách

bao sau và một ca tróc màng Descemet (2%) và

18 ca bỏng vết mổ nhẹ (18,4%), còn trong nhóm

acetazolamide có một ca đứt dây treo thể thủy

tinh (1%) và 14 ca bỏng vết mổ mức độ nhẹ

(14,3%), sự khác biệt này không có ý nghĩa

thống kê (p=0,48)

Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistics

về nguy cơ gây tai biến trong mổ

Bảng 5 Ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên

nguy cơ tai biến

Acetazolamide 1,8 0,7 – 4,5 0,22 Nhân độ IV và V 7,3 2,9 – 18,3 <0,001 Thời gian mổ (phút) 1,5 1,3 – 1,8 0,01 Tuổi ≥60 1,8 0,6 – 3,1 0,28

Chú thích: OR là tỷ số odds

Nhận xét: Nhân cứng độ IV và V (OR=8,9,

p<0,001) và thời gian mổ (OR=1,5, p=0,01) là hai yếu tố nguy cơ của phù giác mạc sau mổ Dùng acetazolamide (OR=1,8, p=0,22) và tuổi từ 60 trở lên (OR=1,8, p=0,28) không có ảnh hưởng trên nguy cơ tai biến

BÀN LUẬN Thay đổi nhãn áp trước và sau khi gây tê

Biến thiên nhãn áp trong từng nhóm trước khi gây tê

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân dùng acetazolamide không có giảm nhãn áp Thời điểm đo nhãn áp là 152 ± 53 phút sau khi uống thuốc, tương ứng với thời gian mà acetazolamide phát huy tác dụng tối đa(8) Phát hiện này không phù hợp với một số các báo cáo

là acetazolamide làm giảm sản xuất thủy dịch ở mắt người bình thường(8,10), nhưng lại giống như báo cáo của một số tác giả khác như Sud và Loomba, và Macdonald là acetazolamide không

có tác dụng hạ nhãn áp đáng kể ở mắt có nhãn

áp bình thường(8,12) Như vậy, trong nghiên cứu này việc uống acetazolamide trước khi phẫu thuật đục thể thủy tinh không có tác dụng làm giảm nhãn áp ở mắt người bị đục thể thủy tinh

có nhãn áp bình thường

Nhãn áp của hai nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê và vẫn ở trong giới hạn bình thường

Biến thiên nhãn áp trong từng nhóm sau khi gây tê

Ở thời điểm sau khi gây tê, nhãn áp trong cả hai nhóm đều giảm có ý nghĩa thống kê Mức

Trang 7

giảm ở nhóm acetazolamide là 1,0mmHg không

có khác biệt với mức giảm 1,2 mmHg trong

nhóm chứng (p=0,8) (bảng 3) Có thể lý giải

nguyên nhân làm nhãn áp hạ là do đè ép nhãn

cầu sau khi gây tê Các nghiên cứu cho thấy

động tác đè nhãn cầu ngay sau khi gây tê có tác

dụng hạ nhãn áp(1,4,12) Trong nghiên cứu của

chúng tôi, mức giảm nhãn áp mặc dù không

nhiều nhưng cũng phù hợp với các tác giả trên

là có áp dụng lực đè cơ học thì nhãn áp sẽ giảm

Nhãn áp sau khi gây tê là tương đương

nhau trong hai nhóm bệnh nhân (15,2 ± 4,6

mmHg và 15,0 ± 3,3 mmHg p=0,73) và mức nhãn

áp trung bình của bệnh nhân sau khi gây tê nằm

trong giới hạn nhãn áp bình thường

Các tai biến trong mổ

Tỷ lệ các tai biến

Tỷ lệ có xảy ra tai biến trong mổ ở nhóm

chứng (19,4%) không có ý nghĩa thống kê so với

nhóm acetazolamide (15,4%) (p=0,47) (bảng 4)

Đa số tai biến là phù vết mổ nhẹ Trong nhóm

acetazolamide có một ca đứt dây treo thể thủy

tinh, còn trong nhóm chứng có một ca rách bao

sau và một ca tróc màng Descemet trong khi mổ

Tỷ lệ rách bao sau và thoát dịch kính là 1,0%

(2/197), không có khác biệt với báo cáo của các

tác giả trong và ngoài(10,4,16,12)

Phân tích hồi quy logistic các yếu tố nguy cơ

tai biến trong mổ

Sau khi phân tích bằng mô hình hồi quy đa

biến logistic, các yếu tố nguy cơ thật sự của tai

biến trong mổ là nhân cứng độ IV và V

(OR=7,3), thời gian mổ (OR=1,5) (bảng 5)

Mắt có nhân cứng độ IV hoặc V thì nguy cơ

tai biến tăng lên 7 lần so với mắt có nhân mềm

độ I, II hoặc III Nhóm chứng có tỷ lệ tai biến

cao hơn nhóm acetazolamide, có thể được giải

thích là do nhóm này có nhiều nhân cứng độ V

hơn, mặc dù sự khác nhau không nhiều đến

mức có ý nghĩa thống kê Khi nhân cứng, phẫu

thuật gặp nhiều khó khăn, thời gian mổ lâu,

phải dùng nhiều năng lượng phaco và phát sinh

nhiều nhiệt lượng hơn làm tăng nguy cơ tai biến

như rách bao sau, tổn thương mống, bỏng vết

mổ (6,17) Nguyễn Đỗ Nguyên báo cáo tỷ lệ rách bao sau 3.3%, đứt dây treo thể thủy tinh 1,7%, chấn thương mống 1,7% và bỏng vết mổ 3,3% trên mắt đục thể thủy tinh nâu đen(12)

Ngoài ra, thời gian mổ tăng thêm một phút thì nguy cơ tai biến tăng thêm 50% Thời gian

mổ kéo dài thì khối lượng và tác động của luồng dịch đi qua mắt ra nhiều hơn, đồng thời thời gian cụng cụ ở trong mắt tăng lên có thể làm cho nguy cơ tai biến tăng lên theo

KẾT LUẬN

Acetazolamide không làm hạ nhãn áp trên các mắt có nhãn áp bình thường, và không làm thay đổi nguy cơ tai biến trong phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bowman R, Liu C, and Sarkies N, (1996) Intraocular pressure changes after peribulbar injections with and without ocular

compression Br J Ophthalmol, 80(5): p 394-7

2 Desai P, Minassian DC, and Reidy A (1999) National cataract surgery survey 1997-8: a report of the results of the clinical

outcomes Br J Ophthalmol, 83(12): p 1336-40

3 Ermiss SS, Ozturk F, and Inan UU, (2003) Comparing the efficacy and safety of phacoemulsification in white mature and other

types of senile cataracts Br J Ophthalmol, 87(11): p 1356-9

4 Ling R, et al (2002) Effect of Honan balloon compression on peribulbar anesthesia adequacy in cataract surgery J Cataract

Refract Surg, 28(1): p 113-7

5 Lundstrom M, et al, (2011) Decreasing rate of capsule complications in cataract surgery: eight-year study of incidence, risk factors, and data validity by the Swedish National Cataract

Register J Cataract Refract Surg, 37(10): p 1762-7

6 Mahdy MA, et al., (2012) Relationship between endothelial cell loss and microcoaxial phacoemulsification parameters in

noncomplicated cataract surgery Clin Ophthalmol, 6: p 503-10

7 Maren TH (1976) The rates of movement of Na+, Cl-, and HCO-3 from plasma to posterior chamber: effect of acetazolamide and

relation to the treatment of glaucoma Invest Ophthalmol, 15(5):

p 356-64

8 Maus TL et al, (1997) Comparison of dorzolamide and acetazolamide as suppressors of aqueous humor flow in humans

Arch Ophthalmol 115(1): p 45-9

9 McDonald, M.J., et al., (1977) Comparison of ocular hypotensive

effects of acetazolamide and atenolol Br J Ophthalmol, 61(5): p

345-8

10 Narendran N., et al., (2009) The Cataract National Dataset electronic multicentre audit of 55,567 operations: risk stratification

for posterior capsule rupture and vitreous loss Eye (Lond), 23(1):

p 31-7

11 Netland PA, (2008) Glaucoma Medical Therapy, Principles and Management 2nd ed, Oxford: Oxford University Press

12 Nguyễn Đỗ Nguyên, (2007) Nghiên cứu phẫu thuật đục thủy tinh thể nu đen bằng phương pháp phaco "chop" cải biên Y học

Trang 8

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt 280

TpHCM, chuyên đề Mắt - Tai Mũi Họng PB Tập 11(1): p

234-239

13 Nguyễn Quốc Toản, Lê Minh Thông, Lê Minh Tuấn (2009) Đánh

giá phẫu thuật nhũ tương hóa thể thủy tinh dùng kỹ thuật ozil

torsional Y học TpHCM, chuyên đề Mắt - Tai Mũi Họng PB Tập

13 (1): p 1-4

14 Ropo A, et al., (1990) Effect of ocular compression (Autopressor)

on intraocular pressure in periocular anaesthesia Acta

Ophthalmol (Copenh), 1990 68(2): p 227-9

15 Sud RN and Loomba R (1991) Achievement of surgically soft and

safe eyes a comparative study Indian J Ophthalmol, 39(1): p

12-4

16 Trần Thị Phương Thu, và cs (2009), Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco tại Khoa bán công - Bệnh viện Mắt TpHCM Y học TpHCM, chuyên đề Mắt - Tai Mũi Họng PB Tập 13 (1): p 30-34

17 Zeng M, et al, (2008) Torsional ultrasound modality for hard nucleus phacoemulsification cataract extraction Br J Ophthalmol

92(8): p 1092-6

Ngày đăng: 23/01/2020, 17:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w