1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập trực thuộc sở y tế tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp

5 153 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 275,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đã sử dụng các tài liệu, số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh nhằm đánh giá một cách toàn diện hoạt động khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên từ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, ứng dụng kỹ thuật trong khám chữa bệnh, tình hình tài chính, tình hình khám chữa bệnh.…, nhằm kiến nghị một số giải pháp tăng cường hoạt động và giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh thuộc Sở Y tế Thái Nguyên.

Trang 1

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH

TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP TRỰC THUỘC SỞ Y TẾ

TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Tạ Thị Thanh Huyền * , Nguyễn Thị Phương Hoa

Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bài viết đã sử dụng các tài liệu, số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh nhằm đánh giá một cách toàn diện hoạt động khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên từ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, ứng dụng kỹ thuật trong khám chữa bệnh, tình hình tài chính, tình hình khám chữa bệnh.…, nhằm kiến nghị một số giải pháp tăng cường hoạt động và giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh thuộc Sở Y tế Thái Nguyên

Từ khóa: Khám chữa bệnh, phòng khám, giường bệnh, Sở y tế Thái Nguyên, bệnh viện Thái Nguyên

Hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh (KCB)

thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên đã và đang

đóng góp tích cực vào việc cải thiện sức khoẻ

nhân dân trên địa bàn tỉnh Một số chỉ số cơ

bản đạt ở mức cao hơn mục tiêu quốc gia đến

năm 2015 và 2020 như tỷ suất chết trẻ em

dưới 1 tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ

lệ trẻ mới đẻ nặng dưới 2.500g, tỷ lệ chết

mẹ/100.000 trẻ đẻ ra sống Chỉ tiêu giường

bệnh hàng năm tại các bệnh viện thường vượt

kế hoạch, điều này cho thấy nhu cầu khám

chữa bệnh của người dân trong tỉnh rất cao,

nhiều bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải,

một số bệnh viện quá tải trầm trọng Câu hỏi

nghiên cứu đặt ra cho vấn đề này là: tình

trạng quá tải tại các bệnh viện công lập trực

thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên hiện nay như

thế nào?, phải chăng là do hoạt động KCB của

các cơ sở y tế này chưa tốt? cần có những kiến

nghị gì nhằm tăng cường hoạt động cho các cơ

sở KCB thuộc Sở Y tế Thái Nguyên?

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nhóm tác giả sử dụng cách tiếp cận từ trên

xuống và tiếp cận mở, nghĩa là phân tích một

cách toàn diện hoạt động của hệ thống cơ sở

KCB thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên từ cơ

sở vật chất, tình hình tài chính, trang thiết bị,

đầu tư cho con người… nhằm nghiên cứu,

đánh giá thực trạng hoạt động các cơ sở KCB

thuộc Sở Y tế Thái Nguyên

* Tel:

Bài viết thu thập thông tin thứ cấp từ các Nghị định, thông tư hướng dẫn của bộ Y tế, báo cáo tài chính, báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, báo cáo đánh giá thực hiện NĐ 43/NĐ - CP, các văn bản quản

lý của Sở Y tế Thái Nguyên từ năm 2010 đến năm 2013 Sau đó, sử dụng các phương pháp phân tích như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh nhằm đánh giá các kết quả đạt được và những hạn chế của hệ thống KCB thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hệ thống các cơ sở KCB thuộc Sở Y tế Thái Nguyên quản lý hiện nay, bao gồm 08 bệnh viện tuyến tỉnh, trong đó có 03 bệnh viện đa khoa là Bệnh viện A, bệnh viện C, bệnh viện Gang thép và 05 bệnh viện chuyên khoa là bệnh viện Y học cổ truyền, bệnh viện Lao và bệnh phổi, bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Mắt và 01 Khu điều trị phong Phú Bình, cùng

09 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, thành phố,

thị xã

Nguồn nhân lực: Tổng số cán bộ viên chức trong các bệnh viện là 2.593 người, trong đó thạc sỹ là 23 người, bác sỹ chuyên khoa cấp I

là 185 người, bác sỹ chuyên khoa II là 22 người, bác sỹ và dược sỹ đại học là 343 người Tỷ lệ phân bổ cán bộ, viên chức giữa các bộ phận: lâm sàng chiếm 78,26%; cận lâm sàng và dược 12,91%; quản lý, hành chính 8,83% Tỷ lệ phân bổ tương đối phù hợp với qui định về định biên nhân lực Bộ

Trang 2

Nội vụ đã ban hành, đáp ứng được yêu cầu

các nhiệm vụ trọng tâm của các cơ sở KCB

Cơ sở vật chất: từ nguồn ngân sách, nguồn

vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn xã hội

hóa, các bệnh viện đã được trang bị đủ những

thiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ y

tế qui định, ngoài ra một số bệnh viện đa

khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh còn được trang

bị thêm một số máy hiện đại như: Máy chụp

256 dãy, máy chụp CT Scanner, máy cộng

hưởng từ, máy siêu âm 4 chiều, hệ thống máy

nội soi phẫu thuật và chẩn đoán, máy xét

nghiệm sinh hóa tự động nhiều module, máy

định danh vi khuẩn, PCR, máy phẫu thuật mổ

pha co, máy xạ phẫu Gamma Knife, SPECT,

thiết bị dây truyền thụ tinh trong ống nghiệm

Quy mô giường bệnh thuộc Sở Y tế Thái

Nguyên hiện nay là 2.795 giường bệnh đã

tăng 150 giường bệnh so với năm 2013,

không kể tuyến xã Phân bố giường bệnh như

sau: tuyến tỉnh là 1.790 giường bệnh tại 3

bệnh viện đa khoa, 5 bệnh viện chuyên khoa

và khu điều trị phong; tuyến huyện là 1.005

giường bệnh tại 9 bệnh viện huyện, trong đó

có 60 giường tại 11 phòng khám đa khoa khu

vực Các bệnh viện huyện thường có quy mô

nhỏ và trung bình từ 75-150 giường bệnh

Số giường bệnh công/10.000 dân tăng từ 17,5

giường bệnh năm 2010 lên 20,9 giường bệnh

năm 2013 Nếu tính cả giường bệnh thuộc

tuyến trung ương, giường bệnh tư nhân, số

này tăng lên đến 29 giường bệnh/10.000 dân

Trang thiết bị trong KCB: Các bệnh viện đa

khoa tuyến tỉnh đã ứng dụng các kỹ thuật cao

và chuyên sâu trong khám chữa bệnh như

chụp cắt lớp, phẫu thuật máu tụ trong sọ não

do chấn thương sọ não kín, kỹ thuật nội soi

trong lĩnh vực tai mũi họng, phụ khoa, tiết

niệu, phẫu thuật thoát vị đĩa đệm, gai đôi

Các bệnh viện đa khoa huyện thực hiện thành

thạo các kỹ thuật như mổ cấp cứu ổ bụng,

chửa ngoài dạ con, cắt tử cung, truyền máu tại

chỗ, một số xét nghiệm chuyên khoa sâu và

không phải gửi lên tuyến trên, như Bệnh viện

C Thái Nguyên đã ứng dụng tốt dao Gamma

thế hệ 5 hiện đại nhất Việt Nam trong việc

chữa trị ung thư Bệnh viện A Thái Nguyên

là 1 trong những bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương và BV Bạch Mai Bệnh viện bắt đầu triển khai thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp lọc rửa tinh trùng và bơm vào buồng tử cung (kỹ thuật IUI) Bệnh viện đang từng bước đầu tư thiết bị, các phòng kỹ thuật để triển khai kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm… Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện được nâng cao rõ rệt

Khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã được chú ý Ngoài bệnh viện y học cổ truyền, các bệnh viện đa khoa tỉnh đều có khoa y học

cổ truyền hoạt động tốt Các bệnh viện đa khoa huyện có khoa y học cổ truyền hoặc bộ phận y học cổ truyền lồng ghép với khoa Nội, nhi, lây hoặc khoa khám chữa bệnh Hầu hết các tuyến y tế xã có cán bộ y học cổ truyền hoặc cán bộ y tế biết về thuốc nam, châm cứu,

đã có 66,5% các tuyến y tế xã thực hiện điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền Tuy nhiên, tỷ lệ tuyến y tế xã sử dụng thuốc y học

cổ truyền để khám chữa bệnh >20% còn rất thấp chỉ đạt 10,3%

Nhiều cơ sở khám chữa bệnh như Bệnh viện

C, bệnh viện Gang thép, bệnh viện y học cổ truyền, Lao các bệnh viện huyện như Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại từ, Phú Bình đã ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý

Tình hình tài chính: Các bệnh viện thuộc Sở

Y tế Thái Nguyên duy trì các hoạt động khám chữa bệnh chủ yếu dựa vào 02 nguồn thu chính: ngân sách nhà nước cấp, viện phí và Bảo hiểm y tế Ngoài ra, nguồn viện trợ và một số nguồn thu xã hội hóa khác do bệnh viện triển khai theo cơ chế tự chủ tài chính cũng góp phần đáng kể vào nguồn thu của các Bệnh viện

Nguồn kinh phí thường xuyên do NSNN cấp hàng năm có tỷ trọng tăng nhưng chỉ là tăng chi cho con người, nguồn kinh phí này chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu của Bệnh viện trong khi Bệnh viện luôn đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân Chi cho giường bệnh

từ nguồn NSNN thấp NSNN chủ yếu là chi cho con người và các hoạt động phí, còn chi cho bệnh nhân chủ yếu lấy từ nguồn thu viện phí và BHYT thu được

Trang 3

Bảng 01: Tổng hợp các nguồn thu của các cơ sở KCB thuộc Sở Y tế Thái Nguyên từ năm 2011 – 2013

ĐVT: Triệu đồng

Năm

Số tiền Tỷ trọng

(%)

2 Thu viện phí và

(Nguồn: Báo cáo quyết toán tài chính của Sở Y tế Thái Nguyên từ năm 2011 đến 2013)

Bảng 02: Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở KCB thuộc Sở Y tế Thái Nguyên

(GB)

TH năm 2013 (GB)

Công suất SDGB (%)

Số lượt người điều trị nội trú Số lượt khám bệnh

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên năm 2013

Thực tế định mức kinh phí cấp trên giường

bệnh của các cơ sở KCB thấp, bệnh viện đa

khoa tuyến tỉnh, bệnh viện Lao, Tâm Thần,

khu điều trị phong, bệnh viện đa khoa huyện

Võ Nhai là 45 triệu đ/giường bệnh, các bệnh

viên chuyên khoa tuyến tỉnh và đa khoa tuyến

huyện là 44 triệu đ/giường bệnh, phòng khám

đa khoa khu vực là từ 30 triệu đến 35 triệu

đ/giường bệnh Định mức trên tính theo tiền

lương tối thiểu 730.000 đồng, khi nhà nước

thay đổi chính sách tiền lương (hiện nay tiền

lương cơ sở là 1.150.000 đồng) thì đơn vị

phải dành 35% từ nguồn thu sau khi trừ các

yếu tố trực tiếp như: thuốc, máu, hóa chất,

dịch truyền, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế để

tạo nguồn cải cách tiền lương, số còn thiếu

ngân sách nhà nước mới cấp bù

Công tác KCB: Số lượt khám bệnh tại các

cơ sở y tế công đã tăng rõ rệt, từ trên 1,7 triệu

lượt khám trong các năm 2010 tăng lên trên

2,1 triệu vào các năm 2013 trong đó gần 50%

được thực hiện ở tuyến xã, khoảng 30% ở

tuyến huyện và trên 20% tại tuyến tỉnh Bình

quân số lần khám bệnh/người/năm tăng từ

1,52 năm 2010 lên 1,94 năm 2013, tuy nhiên

vẫn thấp hơn so với trung bình của cả nước là

2,09 lần năm 2013

Các bệnh viện thường thực hiện vượt

kế hoạch chỉ tiêu giường bệnh hàng năm Công suất sử dụng giường bệnh rất cao ở cả 2 tuyến tỉnh và huyện năm 2013 đạt 146,22%, trong đó tuyến tỉnh: 139,90%; tuyến huyện: 154,42% Đến 6 tháng đầu năm 2014, tỷ lệ này tăng lên đến 171,8% (tuyến tỉnh: 172,38%; tuyến huyện: 171,22%); một số nơi vượt quá 200% như Bệnh viện C, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, các bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ , Phổ Yên Điều này cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân tại các bệnh viện rất cao, các bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, một số bệnh viện quá tải trầm trọng

Số ngày điều trị trung bình/1 bệnh nhân nội trú tại Thái Nguyên cao hơn trung bình của cả nước, năm 2013 là 9,97 ngày, cao hơn trung bình của cả nước 2 ngày, năm 2012 là 9,8 ngày cao hơn trung bình của cả nước 2,6 ngày BÀN LUẬN

Vấn đề lớn nhất cần giải quyết hiện nay là tình trạng quá tải trầm trọng tại phần lớn các bệnh viện Một trong những nguyên nhân quá tải là do quy mô các bệnh viện nhỏ, không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh Vì vậy, nâng cấp và mở rộng quy

Trang 4

mô các bệnh viện tỉnh và huyện là những vấn

đề cần được giải quyết trong quy hoạch phát

triển y tế Thái Nguyên đến năm 2015 và các

năm tiếp theo

Việc sử dụng phương pháp khám chữa bệnh

bằng y học cổ truyền còn hạn chế, tỷ lệ sử

dụng thuốc y học cổ truyền trong khám chữa

bệnh còn thấp, trong khi tỉnh Thái Nguyên là

địa phương có thế mạnh về dược liệu

Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng

cao, cơ sở vật chất ở các cơ sở khám chữa

bệnh tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng

chưa đáp ứng được các nhu cầu cơ bản trong

khám chữa bệnh và chăm sóc cho bệnh nhân

Mô hình bệnh tật thay đổi, các bệnh truyền

nhiễm diễn biến phức tạp, bệnh nhiễm trùng,

bệnh mạn tính tăng, dẫn đến tăng gánh nặng

và tăng chi phí y tế Trong khi đó, nguồn

nhân lực cho hoạt động của ngành y tế còn

thiếu, đặc biệt là bác sỹ, dược sỹ đại học

Thực tế hiện nay, các yếu tố cấu thành giá

dịch vụ y tế chưa bao gồm tiền lương, do đó

định mức kinh phí/đầu giường bệnh chỉ đủ

chi lương và các khoản phụ cấp theo lương,

không còn hoặc rất ít kinh phí để chi hoạt

động thường xuyên của đơn vị Trong khi đó,

giá cả các dịch vụ công cộng tăng, chính sách

viện phí, bảo hiểm y tế đang trong lộ trình đổi

mới Giá dịch vụ y tế hiện nay mới chỉ bao

gồm 3/7 yếu tố cấu thành nên bao gồm: (1)

tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư

thay thế để thực hiện dịch vụ; (2) tiền điện,

nước, nhiên liệu, xử lý chất thải, vệ sinh môi

trường trực tiếp để thực hiện dịch vụ; (3) duy

tu bảo dưỡng thiết bị, mua, thay thế công cụ

dụng cụ trực tiếp để thực hiện các dịch vụ, mà

chưa tính thêm 4 yếu tố còn lại là (1) chi phí

về tiền lương, chi phí nhân công thuê ngoài;

(2) khấu hao tài sản cố định; (3) chi phí chi

trả lãi tiền vay theo các hợp đồng vay vốn huy

động vốn để đầu tư, mua sắm trang thiết bị để

thực hiện dịch vụ; (4) chi phí gián tiếp như

các chi phí hợp pháp để vận hành, bảo đảm

hoạt động bình thường của Bệnh viện và chi

phí đào tạo, nghiên cứu khoa học để ứng dụng

các kỹ thuật mới Do đó giá thu dịch vụ y tế

hiện nay vẫn chưa đủ chi nên ngân sách nhà nước vẫn phải cấp bù

KẾT LUẬN Mặc dù các cơ sở KCB trực thuộc Sở Y tế Thái Nguyên đã được đầu tư khá lớn về trang thiết bị, đội ngũ y bác sỹ đảm bảo Tuy nhiên, quy mô các bệnh viện nhỏ, cơ sở hạ tầng của các bệnh viện còn hạn chế, chỉ tiêu giường bệnh hàng năm thường vượt kế hoạch, công suất sử dụng giường bệnh rất cao Nguyên nhân sâu xa của tình trạng quá tải tại bệnh nhân tại các bệnh viện hiện nay là do ngành y

tế nói chung và Sở Y tế Thái Nguyên nói riêng chưa tính đủ các yếu tố cấu thành giá dịch vụ y tế, trong khi ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu của các Bệnh viện, dẫn đến đầu tư chưa thỏa đáng cho hoạt động KCB tại các bênh viện

KIẾN NGHỊ

Về tổ chức quản lý thực hiện đề án giảm tải của Bộ y tế, thành lập các bệnh viện vệ tinh của các bệnh viện đầu ngành Trung ương, tăng cường thực hiện đề án số 1816 của Bộ Y

tế để phát triển nguồn lực tại chỗ

Cần tăng định mức chi cho công tác khám chữa bệnh để đơn vị có điều kiện nâng cấp cơ

sở vật chất, trang thiết bị y tế, cụ thể như sau: tăng định mức kinh phí/giường bệnh lên 85 triệu đ/giường bệnh; tăng định mức kinh phí/giường bệnh tại các phòng khám đa khoa khu vực từ 70 triệu đến 80 triệu đ/giường bệnh; Các bệnh viện chuyên khoa đặc thù như Bệnh viện Tâm Thần, Bệnh viện Lao, khu điều trị phong Phú Bình cần được tính theo loại hình đơn vị được nhà nước đảm bảo toàn

bộ chi phí hoạt động hoặc thực hiện theo đơn đặt hàng của nhà nước

Tiến tới tính đúng, tính đủ các chi phí cấu thành giá dịch vụ y tế (đủ 7/7 yếu tố)

Cần thay đổi chính sách tạo nguồn cải cách tiền lương từ nguồn thu giá dịch vụ y tế Cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác y tế, như: phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân về cả chiều rộng và chiều sâu; tăng cường liên doanh, liên kết, mở rộng các loại hình dịch vụ y tế; thực hiện phát triển nguồn nhân lực tại chỗ

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Kim Chúc (2011), Báo cáo chuyên

đề: Kinh tế y tế và ứng dụng trong quản lý tài

chính bệnh viện, Dự án hỗ trợ đổi mới hệ thống y

tế Việt Nam, Bộ Y Tế, Hà Nội

2 Nguyễn Thị Phương Hoa (2013), Thực hiện

quyền tự chủ trong quản lý tài chính tại các bệnh

viện công lập thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên,

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Thái Nguyên

3 Vũ Xuân Phú (2008), Giáo trình Kinh tế Y tế,

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

4 Ngành Y tế tỉnh Thái Nguyên (2013), Đánh giá tình hình thực hiện nghị định 43 giai đoạn

2011-2013 và phương án tự chủ về tài chính giai đoạn 2014-2016

5 Ngành Y tế tỉnh Thái Nguyên (2013), Báo cáo tổng kết 2011, 2012, 2013

SUMMARY

CURRENT SITUATION OF HEALTH CARE IN PUBLIC HEALTH FACILITIES UNDER THE DEPARTMENT OF HEALTH

OF THAI NGUYEN AND PROPOSE SOLUTIONS

Ta Thi Thanh Huyen * , Nguyen Thi Phuong Hoa

College of Economics and Business Administration – TNU

The article uses material, secondary data, descriptive statistical method, comparative method to evaluate a comprehensive health care activities in the public health facilities under ThaiNguyen province Health Department from human resources, infrastructure, engineering applications in the medical, financial status, medical status ., to propose some solutions to enhance operations and reduce the load for the clinics of the Department of Health ThaiNguyen

Keywords: Medical Treatment, clinic, hospital beds, Department of Health in ThaiNguyen,

ThaiNguyen hospital

Ngày nhận bài:15/8/2014; Ngày phản biện:04/9/2014; Ngày duyệt đăng: 15/9/2014

Phản biện khoa học: TS Phạm Hồng Hải – Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - ĐHTN

* Tel:

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w