1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu giá trị của điểm vận động đơn giản, điểm đáp ứng vận động glasgow trong tiên lượng bệnh nhân chấn thương sọ não

7 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 387,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá và so sánh giá trị của điểm vận động đơn giản (SMS), điểm đáp ứng vận động (MS) trong tiên lượng bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN). Đối tượng và phương pháp: mô tả tiến cứu trên 687 BN CTSN điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ 2013 - 2014.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA ĐIỂM VẬN ĐỘNG ĐƠN GIẢN,

ĐIỂM ĐÁP ỨNG VẬN ĐỘNG GLASGOW TRONG TIÊN LƯỢNG

BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Nguyễn Trường Giang*; Nguyễn ăn Nam*

Nguyễn Trung Kiên*; Phạm Quang Hiệp**

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá và so sánh giá trị của điểm vận động đơn giản (SMS), điểm đáp ứng vận động (MS) trong tiên lượng bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN) Đối tượng và phương pháp: mô tả tiến cứu trên 687 BN CTSN điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ 2013 - 2014

Lượng giá SMS, MS, điểm hôn mê Glasgow (GCS) khi vào viện; xác định các biến số tiên lượng (tổn thương thực thể, đặt ống nội khí quản, tử vong) Xác định giá trị tiên lượng bằng diện tích dưới đường cong (AUC) ROC So sánh giá trị tiên lượng của SMS, MS với GCS

Kết quả: SMS và MS khi vào viện có giá trị trong tiên lượng nguy cơ tổn thương thực thể sọ

não (AUC: 0,77 và 0,78), tiên lượng phải đặt nội khí quản (NKQ) cấp cứu và tiên lượng tử vong (AUC: 0,93 và 0,96) SMS và MS có giá trị tương đương GCS trong tiên lượng BN CTSN

Kết luận: có thể sử dụng SMS, MS thay thế GCS để phân loại, tiên lượng BN CTSN trong

những tình huống cần thiết

* Từ khóa: Chấn thương sọ não; Điểm vận động đơn giản; Điểm đáp ứng vận động; Điểm Glasgow

The Value of Simplified Motor Score, Motor Responsse Score of Glasgow Score in Prognosis of Patients with Brain Injury

Summary

Objectives: To assess and compare the abilities of the Simplified Motor Score (SMS), Motor Response Score (MS) of the GCS in evaluation and predicting patients with traumatic brain injury Methods: The prospective study was carried on 687 traumatic brain injuried patients, who were treated in 103 Hospital from 2013 to 2014 Glasgow score, SMS, MS were calculated, and their outcomes included: emergency tracheal intubation; skull and brain injuries; hospital mortality To assess and compare the abilities of all scores via receiver operating characteristic (ROC) curves Results: SMS, MS are a good predictors of emergency tracheal intubation (AUC: 0.77 and 0.78); skull and brain injuries (AUC: 0.77 and 0.78); hospital mortality (AUC: 0.93 and 0.96)

in the traumatic bain injury population SMS and MS were similar to the GCS score for predicting outcomes in patients with traumatic brain injury Conclusion: In some special situations SMS and

MS could be used instead of GCS for predicting outcomes in patients with traumatic brain injury

* Key words: Brain injury; Simplified Motor Score; Motor Response Score; GCS

* Bệnh viện Quân y 103

** Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Trường Giang (truonggiang.dr@gmail.com)

Ngày nhận bài: 03/06/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/09/2015

Ngày bài báo được đăng: 23/10/2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lượng hóa độ nặng chấn thương để

phân loại và tiên lượng đang là xu thế

phát triển trên thế giới Trong đó, sử dụng

các hệ thống điểm đánh giá độ nặng đã

và đang được nghiên cứu và áp dụng

rộng rãi trên lâm sàng

Thang điểm hôn mê Glasgow (Glasgow

Coma Scale-GCS) do Jennet B và Teasdale G

đưa ra năm 1974, đến nay được sử dụng

phổ biến tại các bệnh viện như là một

công cụ đánh giá mức độ rối loạn tri giác

ở BN CTSN Điểm Glasgow dựa trên

3 thành tố là đáp ứng mở mắt, lời nói và

vận động Tuy nhiên, đánh giá đáp ứng

mở mắt và lời nói thường gặp khó khăn

trong phân loại BN trước nhập viện, nhất

là tình huống nạn nhân hàng loạt, chiến

tranh, bất đồng ngôn ngữ hoặc tổn

thương cơ quan vận động ngôn ngữ

Trong những tình huống đó, độ chính xác

của điểm Glasgow sẽ bị ảnh hưởng

Thực tế đó cho thấy, rất cần những

bảng điểm đơn giản, ít bị tác động bởi

các yếu tố chủ quan thay thế thang điểm

hôn mê Glasgow để phân loại và tiên

lượng BN trong các tình huống khó khăn

Thời gian gần đây, trên thế giới đã có một

số nghiên cứu sử dụng SMS hoặc MS

của thang điểm Glasgow trong phân loại

và tiên lượng BN Các nghiên cứu đều

cho thấy, điểm vận động đơn giản và

điểm vận động Glasgow có giá trị trong

phân loại, tiên lượng cả trước và tại

bệnh viện

Nhằm đánh giá giá trị và khả năng áp dụng của SMS và MS tại Việt Nam, chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu:

Đánh giá và so sánh giá trị của SMS, MS trong tiên lượng BN CTSN

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

BN CTSN cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 trong năm 2013 - 2014

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đã sử dụng thuốc an thần, rượu bia hoặc chất kích thích

- Tiền sử rối loạn tâm thần, nhược não

- Đã can thiệp điều trị thực thụ ở tuyến trước

- BN trong tình trạng thiếu oxy, liệt chi

do tổn thương tủy

- Không hợp tác nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc, không can thiệp, gồm các bước sau:

- Đánh giá SMS khi vào viện:

+ 2 điểm: đáp ứng vận động chính xác theo lệnh

+ 1 điểm: đáp ứng đúng khi kích thích đau

+ 0 điểm: đáp ứng không chính xác hoặc không có đáp ứng vận động

- Đánh giá điểm MS và điểm Glasgow (GCS) khi vào viện:

Trang 3

THÀNH TỐ ĐÁP ỨNG ĐIỂM

Đáp ứng mở mắt (E)

(Best Eye Response)

Đáp ứng lời nói (V)

(Best Verbal Response)

Đáp ứng vận động (M)

(Best Motion Response)

- Xác định biến số tiên lượng:

+ Tổn thương thực thể: máu tụ nội sọ, giập não, chảy máu dưới nhện, vỡ lún xương

sọ xác định trên hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não

+ Đặt ống NKQ: chỉ định đặt ống NKQ do tình trạng hô hấp, không bao gồm đặt ống NKQ do yêu cầu phẫu thuật

+ Tử vong: tử vong tại bệnh viện do nguyên nhân liên quan đến chấn thương

- Đánh giá giá trị tiên lượng và so sánh giá trị tiên lượng:

+ Xác định điểm cắt (cut off point) tiên lượng, là mức điểm có tổng độ nhạy (sensitivity-Se) và độ đặc hiệu (specificity-Sp) cao nhất

+ Cách tính độ nhạy, độ đặc hiệu tại mốc điểm (ví dụ mốc điểm X):

Độ nhạy = a/a + b

Độ đặc hiệu = d/d + c

+ Vẽ đường cong hiệu lực tiên lượng (Receiver Operating Characteristic Curve-ROC) tại điểm cắt, tính diện tích dưới đường cong (Area under Curve-AUC) với khoảng tin cậy 95% (CI95%) Giá trị tiên lượng được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong, diện tích càng lớn, giá trị tiên lượng càng cao (AUC < 0,7 không có giá trị tiên lượng; AUC ≥ 0,8 có giá trị tiên lượng tốt)

+ So sánh giá trị tiên lượng của SMS, MS và GCS qua giá trị của Se, Sp, AUC

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Tổng số 687 BN, nam 541 BN (78,6%),

nữ 146 BN (21,4%)

- Tuổi từ 10 - 96, trung bình 35,4 tuổi

- Có tổn thương thực thể: 528 BN

(76,9%)

- Phải đặt ống NKQ: 311 BN (45,3%)

- Tử vong: 209 BN (30,4%)

Bảng 1: AUC, điểm cắt, Se và Sp trong

tiên lượng tổn thương thực thể

SMS và MS khi vào viện có giá trị

trong tiên lượng nguy cơ có tổn thương

thực thể sọ não (AUC: 0,77 và 0,78) với

điểm cắt SMS = 1, MS = 5, độ nhạy 60,2%;

độ đặc hiệu 94,3%

GCS khi vào viện có giá trị cao trong

tiên lượng nguy cơ tổn thương thực thể

sọ não với AUC = 0,87, điểm cắt GCS =

13, độ nhạy 68,5%; độ đặc hiệu 93,7%

Bảng 2: AUC, điểm cắt, Se và Sp trong

tiên lượng đặt NKQ

SMS và MS khi vào viện có giá trị cao

trong tiên lượng phải đặt NKQ cấp cứu

(AUC: 0,88 và 0,90) với điểm cắt SMS = 1 (độ nhạy 86,1%; độ đặc hiệu 84,3%),

MS = 4 (độ nhạy 80,3%; độ đặc hiệu 92,2%) GCS khi vào viện có giá trị rất cao trong tiên lượng phải đặt NKQ cấp cứu với AUC = 0,93, điểm cắt GCS = 10, độ nhạy 81,0%; độ đặc hiệu 91,5%

Hình 1: Đường cong ROC của SMS, MS,

GCS trong tiên lượng tổn thương

thực thể

Hình 2: Đường cong ROC của SMS, MS,

GCS trong tiên lượng đặt NKQ cấp cứu

Trang 5

Bảng 3: AUC, điểm cắt, Se và Sp trong

tiên lượng tử vong

SMS và MS khi vào viện có giá trị rất

cao trong tiên lượng tử vong (AUC: 0,93

và 0,96) với điểm cắt SMS = 1 (độ nhạy

98,5%; độ đặc hiệu 74,6%), MS = 4 (độ

nhạy 97,1%; độ đặc hiệu 84,1%)

GCS khi vào viện có giá trị rất cao

trong tiên lượng tử vong với AUC = 0,98,

điểm cắt GCS = 6, độ nhạy 88,5%; độ đặc

hiệu 96,2%

Hình 3: Đường cong ROC của SMS, MS,

GCS trong tiên lượng tử vong

BÀN LUẬN

Theo kết quả nghiên cứu, điểm GCS,

MS, SMS tại thời điểm vào viện đều có

giá trị trong tiên lượng tổn thương thực

thể, đặt NKQ và tử vong ở BN CTSN

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu

chỉ ra MS riêng lẻ vẫn giữ được giá trị tiên

lượng như điểm GCS ở cả trước bệnh viện và tại phòng cấp cứu Các tác giả đều cho rằng đáp ứng vận động là tổ hợp các chức năng và phản ánh chính xác tình trạng tri giác Meredith và CS cho rằng, MS < 6 trước bệnh viện có tiên lượng tử vong với độ nhạy 59% và độ đặc hiệu 97% trong nghiên cứu trên 29.000 BN chấn thương Ross và CS thông báo: MS < 6 trước bệnh viện có giá trị tiên lượng tổn thương thần kinh tương đương mức điểm GCS < 14 (độ nhạy, độ đặc hiệu 91%, 85% so với 92%, 85%) [8]

Để tìm một thang điểm đơn giản hơn, năm 2004 Gill và CS đã đưa ra SMS gồm

3 mức điểm Các nghiên cứu của Gill và

CS sau đó đều thấy SMS có giá trị tương

tự MS và ngay cả GCS trong tiên lượng

BN CTSN trước bệnh viện và tại phòng cấp cứu, đối với tiên lượng đặt NKQ, tổn thương thực thể, can thiệp phẫu thuật và

tử vong [4, 5] Nghiên cứu của Thompson

và CS (2011) cũng cho thấy, SMS có giá trị tương đương điểm MS và GCS trong phân loại BN CTSN trước bệnh viện Các tác giả kết luận: trong sự hỗn loạn tại thực địa trước bệnh viện, không cần thiết phải sử dụng điểm GCS với 13 mức điểm, nên thay thế bằng MS chỉ có 3 mức điểm [5, 9]

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy điểm SMS và MS có giá trị tiên lượng và phân loại BN CTSN, tuy nhiên hiệu lực thấp nhất đối với tiên lượng tổn thương thực thể Nghiên cứu của Gill và CS (2006), Thompson và CS (2011) cũng cho thấy điểm GCS, SMS, MS có giá trị thấp nhất trong tiên lượng tổn thương thực thể

sọ não [3, 9] Hầu hết các nghiên cứu khác cũng đều có kết quả tương tự về giá

Trang 6

trị của bảng điểm trong tiên lượng tổn

thương thực thể xác định trên chụp cắt

lớp hoặc trong mổ Các tác giả cho rằng,

tình trạng tri giác của BN khi vào viện

không chỉ phụ thuộc tổn thương sọ não

mà còn phụ thuộc nhiều yếu tố như thời

gian đến viện, mức độ mất máu, thiếu oxy

Đối với tiên lượng nguy cơ phải đặt

NKQ cấp cứu, kết quả nghiên cứu cho

thấy, điểm SMS, MS có hiệu lực cao và

tương đương điểm GCS (ROC: 0,88 và

0,90; độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là

86,1% và 84,3%; 80,3% và 92,2%) Kết

quả này thấp hơn nghiên cứu của Appachi

và CS (ROC: 0,95), nhưng cao hơn kết

quả của Gill và CS (ROC: 0,79) [2, 3] Sự

khác biệt giữa các nghiên cứu là dễ hiểu

do khác nhau về số lượng BN hoặc chất

lượng công tác cấp cứu trước bệnh viện

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gill và

Appachi đều thống nhất mốc điểm SMS = 1

có giá trị tốt nhất trong tiên lượng nguy cơ

phải đặt NKQ

Đối với tiên lượng tử vong, kết quả

nghiên cứu cho thấy cả SMS, MS và GCS

đều có giá trị cao, với ROC > 0,9 và độ

nhạy, độ đặc hiệu cao Trong đó, SMS và

MS khi vào viện có giá trị cao trong tiên

lượng tử vong (ROC: 0,93 và 0,96) với

mốc SMS = 1 (độ nhạy 98,5%; độ đặc

hiệu 74,6%), mốc MS = 4 (độ nhạy 97,1%;

độ đặc hiệu 84,1%)

Ngay tại phòng cấp cứu, các nghiên

cứu cũng chỉ ra MS riêng lẻ có thể thay

thế điểm GCS trong tiên lượng Al-Salamah

và CS cho rằng, MS của GCS khi vào

viện có giá trị tiên lượng tử vong với

ROC: 0,81 tương tự điểm GCS với ROC:

0,82 [1] Healey và CS nghiên cứu trên

200.000 BN thấy MS của GCS có giá trị tương đương điểm GCS trong tiên lượng

tử vong với ROC: 0,873 so với 0,891 [6] Holmes và CS nghiên cứu trên 2.043 trẻ

em CTSN thấy, từng thành tố của GCS

có giá trị như điểm GCS trong tiên lượng tổn thương và chỉ định cần can thiệp cấp cứu [7] Tương tự, nghiên cứu của Diringer và CS, Meredith và CS, Ross và

CS cũng thấy điểm đáp ứng vận động riêng lẻ có giá trị tiên lượng [8]

Bên cạnh đó, một loạt các nghiên cứu của Gill và CS về phân loại trước bệnh viện cho thấy, cả GCS và SMS đều có giá trị tốt nhất trong tiên lượng tử vong ở BN CTSN Điều đó cho thấy SMS thay thế tốt nhất cho GCS trong tiên lượng tử vong [4, 5, 9] Trong nghiên cứu của David và

CS, mặc dù giá trị ROC của GCS, SMS,

MS đều thấp hơn so với kết quả nghiên cứu trước bệnh viện của Gill, nhưng cũng khẳng định SMS có giá trị tương tự MS

và GCS trong tiên lượng

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đánh giá giá trị tiên lượng của các bảng điểm trên 687 BN CTSN, chúng tôi rút ra một số kết luận:

Điểm vận động đơn giản, điểm đáp ứng vận động khi vào viện có giá trị trong tiên lượng tổn thương thực thể, đặt NKQ cấp cứu và tử vong ở BN CTSN Trong

đó, điểm MS, điểm SMS có giá trị cao và tương đương điểm hôn mê Glasgow trong tiên lượng đặt NKQ cấp cứu và

tử vong ở BN CTSN Có thể sử dụng điểm MS, điểm SMS hay thế điểm hôn

mê Glasgow để phân loại, tiên lượng BN CTSN trong những tình huống cần thiết

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al-Salamah MA, McDowell I, Stiell IG

et al OPALS Study Group Initial emergency

department trauma score from the OPALS study:

the case for the motor score in blunt trauma

Acad Emerg Med 2004, 11, pp.834-842

2 Appachi MS, Mahadevan D, Eswaran

VP Assessing the motor component of the

GCS Scoring System as a better predictor of

outcome National J of Emergency Medicine

2012, 1 (1), pp.41-51

3 Gill MR, Steele R, Windemuth R, Green

SM A comparison of five simplified scale to

the out-of-hospital Glasgow Coma Scale for

the prediction of traumatic brain injury outcomes

Acad Emerg Med 2006, 13 (9), pp.968-973

4 Gill MR, Windemuth R, Steele R, Green

SM A comparison of the Glasgow Coma Scale

score to the simplified alternative scores for the

prediction of traumatic brain injury outcomes

Ann Emerg Med 2005, 45 (1), pp.37-42

5 Haukoos JS, Gill MR, Rabon RE et al

Validation of the Simplified Motor Score for the prediction of brain injury outcomes after trauma Ann Emerg Med 2007, 50, pp.18-24

6 Healey C, Osler TM, Rogers FB et al

Improving the Glasgow Coma Scale score: motor score alone is a better predictor J Trauma

2003, 54, pp.671-678

7 Holmes JF, Palchak MJ, MacFarlane T, Kuppermann N Performance of the pediatric

Glasgow Coma Scale in children with blunt head trauma Acad Emerg Med 2005, 12, pp.814-819

8 Ross SE, Leipold C, Terregino C, O'Malley KF Efficacy of the motor component

of the Glasgow Coma Scale in trauma triage

J Trauma 1998, 45, pp.42-44

9 Thompson DO, Hurtado TR, Liao MM et

al Validation of the Simplified Motor Score in

the out-of-hospital setting for the prediction of outcomes after traumatic brain injury Ann Emerg Med 2011, 58 (5), pp.417-425

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w