1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị thoát vị hoành bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 và đánh giá các trường hợp tạo hình cơ hoành bằng tấm ghép gore‐tex

6 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 445,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát kết quả điều trị bệnh thoát vị hoành bẩm sinh, đặc biệt trong nhóm tạo hình cơ hoành bằng tấm gore‐tex. Nghiên cứu thực hiện trên các trường hợp thoát vị hoành bẩm sinh được phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 3 năm 1/2011‐4/2013.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ HOÀNH BẨM SINH   TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC TRƯỜNG HỢP  

TẠO HÌNH CƠ HOÀNH BẰNG TẤM GHÉP GORE‐TEX 

Nguyễn Trần Việt Tánh*, Trần Thanh Trí* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát kết quả điều trị bệnh thoát vị hoành bẩm sinh, đặc biệt trong nhóm tạo hình cơ 

hoành bằng tấm Gore‐tex. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Các trường hợp thoát vị hoành bẩm sinh được phẫu thuật tại bệnh 

viện Nhi Đồng 2 trong 3 năm 1/2011‐4/2013. 

Kết quả: Qua nghiên cứu 52 bệnh nhân thoát vị hoành bẩm sinh được phẫu thuật tại bệnh viện 

Nhi Đồng 2, tỉ lệ sống sót là 82,7%. Chẩn đoán tiền sản ghi nhận ở 63,5% bệnh nhân. Thở HFO và 

NO lần lượt là 19,2% và 11,5%. Có 6 bệnh nhân (11,5%) được tạo hình cơ hoành bằng tấm Gore‐tex 

và không có sự khác biệt về kết quả so với nhóm khâu cơ hoành tự thân. 

Kết luận: Tỉ lệ sống sót trong điều trị thoát vị hoành bẩm sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2 có thể so 

sánh với các trung tâm khác trên thế giới. Tạo hình cơ hoành bằng tấm Gore‐tex cho kết quả tốt  

Từ khóa: Thoát vị hoành, Gore‐tex, điều trị, phẫu thuật. 

ABSTRACT 

OUTCOME OF CONGENITAL DIAPHRAGMATIC HERNIA TREATED AT CHILDREN’S HOSPITAL 

2 AND EVALUATION SOME CASES OF GORE‐TEX PATCH REPAIR 

Nguyen Tran Viet Tanh, Tran Thanh Tri  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 7 ‐ 12 

Objectives:  Study  the  outcome  of  congenital  diaphragmatic  hernia  (CDH),  especially  group  of 

Gore‐tex patch repair. 

Methods: All cases of CDH operated at Children’s Hospital 2 in 3 years 1/2012‐4/2013. 

Results: With 52 CDH cases operated at Children’s Hospital 2, the survival rate 82.7%. Prenatal 

diagnosis  was  noted  in  63.5%  cases.  Using  HFO  ventilation  and  NO  inhalation  was  19.2%  and  11.5%, respectively. There were 6 cases (11.5%) of patch Gore‐tex repair and no significant difference 

of the result compared with primary group was noted. 

Conclusion: The survival rate of CHD at Children’s Hospital 2 was comparable to those of other 

countries. Gore‐tex patch repair produces good result  

Key words: Congenital diaphragmatic hernia, Gore‐tex, treatment, surgery. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Thoát vị hoành bẩm sinh (TVHBS), sự khiếm 

khuyết của cơ hoành, xảy ra với tần suất 1 trên 

2500 đến 4000 trẻ sinh sống(20). Nguyên nhân tử  vong chính của TVHBS là thiểu sản phổi và tăng 

áp phổi. Trong những thập niên gần đây đã có  những tiến bộ khoa học kỹ thuật được sử dụng 

* Bệnh viện Nhi Đồng 2 

Trang 2

của  chất  surfactant  ngoại  sinh,  khí  thở  nitric 

oxide  (NO)(12),  thông  khí  cơ  học  tần  số  cao(3) 

(HFOV: High frequently oscillatory ventilat‐ion) 

và  màng  trao  đổi  oxy  ngoài  cơ  thể  (ECMO: 

Extracorporeal  membrane  oxygena‐tion)(3). 

Ngoài  ra,  với  chiến  lược  “thông  khí  nhẹ 

nhàng”(3),  phẫu  thuật  trì  hoãn(3)  đã  có  một  vài 

báo  cáo  trên  thế  giới  cho  thấy  sự  tiến  bộ  trong 

kết quả điều trị bệnh nhân (BN) TVHBS, với tỉ lệ 

sống  sót  từ  80  đến  90%(10).  Tuy  nhiên,  nhóm 

nghiên cứu thoát vị hoành bẩm sinh (Congenital 

Diaphrag matic Study Group), và nghiên cứu đa 

trung  tâm  và  đa  quốc  gia  lớn  nhất  của  họcho 

thấy  tỉ  lệ  sống  sót  chỉ  xấp  xỉ  mức  70%  ở  trẻ  bị 

TVHBS. Một số nghiên cứu cũng ủng hộ rằng có 

“Tỉ lệ tử vong ẩn” của trẻ bị TVHBS(8). Tại Việt 

Nam, mặc dù điều kiện kinh tế còn hạn chế, một 

số phương tiện kỹ thuật hiện đại trong y học còn 

thiếu,  nhưng  với  sự  phát  triển  của  nền  y  học 

hiện nay, tỉ lệ tử vong của trẻ TVHBS đã giảm đi 

rất đáng kể. Tuy vậy, đó chỉ là những nhận xét 

chung  chung,  chưa  có  một  báo  cáo  cụ  thể  nào. 

Do đó chúng tôi nhận thấy sự cần của một báo 

cáo về kết quả điều trị TVHBS được phẫu thuật 

tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  2,  một  trong  những 

trung tâm nhi khoa lớn của nước Việt Nam. 

Trong  những  trẻ  TVHBS,  một  số  BN  với 

khiếm  khuyết  cơ  hoành  quá  lớn,  thuộc  nhóm 

nguy cơ tử vong cao, không thể đóng cơ hoành 

bằng mô tự thân thường được sửa chữa với tấm 

ghép nhân tạo. Y văn có khá nhiều nghiên cứu 

cho thấy tỉ lệ tái phát cao với việc sử dụng tấm 

ghép  nhân  tạo  thay  đổi  từ  14%  đến  50%(5,19). 

Chính vì thế các phương pháp thay thế cho việc 

sử  dụng  tấm  ghép  được  phát  triển  bao  gồm 

những nguyên liệu sinh học tổng hợp(19), vạt cơ 

có  cuống  mạch  máu(9),  kỹ  thuật  phát  triển  mô 

(tissue  engineering)(2).  Tuy  nhiên,  các  phương 

pháp  này  có  những  bất  ổn  tiềm  tàng  và  nói 

chung quá phức tạp và chi phí cao để đóng một 

khiếm khuyết giải phẫu đơn giản.  

Trái ngược với kết quả của các báo cáo trên, 

chúng  tôi  nhận  thấy  việc  sử  dụng  tấm  ghép 

nhân tạo, đặc biệt là tấm ghép Gore‐tex, là một  phương pháp đơn giản, tiện lợi, thành công cao  với tỉ lệ tái phát và biến chứng chấp nhận được.  Điều  này  đã  có  một  số  báo  cáo  ghi  nhận,  theo  Jacqueline Tsai và cộng sự tỉ lệ tái phát của tấm  ghép  Gore‐tex  chỉ  có  2,7%(17),  còn  Kimberly  J.  Riehle và cộng sự tỉ lệ này là 3,57%(13), ngoài ra tỉ 

lệ các biến chứng khác tương tự với nhóm khâu 

cơ hoành tự thân. Vì vậy chúng tôi muốn khảo  sát  lại  kết  quả  bước  đầu  những  trường  hợp  TVHBS  được  tạo  hình  cơ  hoànhbằng  tấm  ghép  Gore‐tex tại bệnh viện Nhi Đồng 2.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Khảo  sát  kết  quả  điều  trị  bệnh  thoát  vị  hoành  bẩm  sinh,  đặc  biệt  trong  nhóm  tạo  hình 

cơ hoành bằng tấm Gore‐tex. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Hồi cứu hồ sơ của tất cả trẻ bị TVHBS sinh 

từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 4 năm 2013 nhập  viện  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  2.  Trẻ  được  chẩn  đoán  TVHBS  sau  28  ngày  tuổi  bị  loại  khỏi  nghiên cứu. Sống sót (survival) được định nghĩa 

là BN còn sống khi xuất viện, hoặc chuyển đến  trung tâm khác, hay còn sống tại bệnh viện được  xác  định  bởi  tác  giả  cho  đến  thời  điểm  tháng  6  năm  2013.  Những  đặc  điểm  chu  sinh  của  BN,  như năm sinh, giới tính, nơi sinh, chẩn đoán tiền  sản,  phương  pháp  sinh,  tuổi  thai  lúc  sinh,  cân  nặng  lúc  sinh,  vị  trí  của  khiếm  khuyết,  áp  lực  động mạch phổi đo bằng siêu âm, sự hiện diện  của các bất thường khác, bao gồm các dị tật tim  hoặc các dị tật cơ quan khác. Dị tật bẩm sinh tim  được  chia  thành  2  loại  nặng  (ảnh  hưởng  đến  huyết  động  học),  nhẹ  (không  ảnh  hưởng  đến  huyết động học). 

Biến  số  sau  sinh  bao  gồm  biến  số  điều  trị 

và  những  ghi  nhận  lúc  phẫu  thuật.  Những  phân  tích  được  thực  hiện  để  kiểm  tra  sự  liên  quan giữa tỉ lệ sống sót và các biến số tiền sản 

và hậu sản. 

Tần số và tỉ lệ phần trăm được sử dụng để 

mô tả những dữ liệu phân loại. Phép kiểm χ2 và  chính xác Fisherʹs được sử dụng để phân tích dữ 

Trang 3

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Dữ liệu được 

phân tích bằng phần mềm Stata. 

KẾT QUẢ 

Từ  đầu  năm  2011  đến  tháng  3  năm  2013, 

bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận 77 trẻ TVHBS, 

trong đó chỉ phẫu thuật được 52 trường hợp, số 

còn lại tử vong trước mổ do tình trạng quá nặng, 

tỉ lệ sống sót tổng thể là 57,1%. Đối với 52 trường 

hợp được phẫu thuật, 8 trường hợp tử vong chủ 

yếu  tập  trung  vào  năm  2011,  tỉ  lệ  sống  sót  là 

84,6%. Trong đó 2 trường hợp tử vong do dị tật 

bẩm  sinh  kèm  theo,  gồm  1  dị  tật  não,  1  hội 

chứng  thận  hư,  còn  lại  tử  vong  do  tình  trạng 

tăng áp phổi nặng kéo dài và viêm phổi nặng. 

Các đặc điểm chu sinh của bệnh nhân được 

khảo  sát  lại.Tuổi  thai  lúc  sinh  trung  bình  là  39 

tuần (34 – 42 tuần). Cân nặng lúc sinh trung bình 

là 3036g (1990 – 4150). Có 11,6% trẻ có bệnh tim 

bẩm  sinh  nặng,  67,3%  có  dị  tật  bẩm  sinh  nhẹ. 

Các dị tật bẩm sinh nặng chúng tôi ghi nhận chủ 

yếu  là  thông  liên  thất,  thông  liên  nhĩ  hoặc  còn 

ống  động  mạch  lỗ  lớn  ảnh  hưởng  đến  huyết 

động học và áp lực động mạch phổi, không ghi 

nhận trường hợp dị tật tim phức tạp nào. Có 5 

trường  hợp  có  dị  tật  bẩm  sinh  kèm  theo  được 

ghi nhận, 2 trường hợp lõm ngực, 1 trường hợp 

khuyết sọ, 1 trường hợp dị tật não và 1 trường 

hợp bị hội chứng thận hư bẩm sinh. Bảng 1 khảo 

sát sự ảnh hưởng của các yếu tố chu sinh đến tỉ 

lệ sống sót nhưng không có sự khác biệt. 

Trong quá trình theo dõi sau xuất viện có 2 

trường hợp bị tái phát, đều được phẫu thuật lại 

trong đó có 1 trường hợp tử vong do hoại tử gần 

như toàn bộ ruột non bị thiếu máu do chui qua 

lỗ thoát vị. Do đó tỉ lệ sống sót kết cục của chúng 

tôi là 82,7%. 

Về điều trị tích cực trước và sau mổ, 98% BN 

phải thở máy trước mổ với thời gian trung bình 

là 2,3 ngày, có 1 trường hợp không phải thở máy 

trước mổ. 100% BN phải nằm điều trị trong khoa 

hồi sức tích cực sơ sinh trước mổ. Thời gian nằm 

hồi  sức  trung  bình  là  11,7  ngày.  Đặc  điểm  khí 

máu  lúc  nhập  viện  rất  xấu  với  pH  và  AaDO 

trung  bình  là  7,24  và  317,6.  Phần  lớn  BN  đều  được điều trị tích cực cho đến khi khí máu trước 

mổ tương đối ổn định với pH là 7,31 và AaDO2 

là  103,1.  Thời  gian  nằm  viện  trung  bình  là  9,6  ngày bàng 2. 

Bảng 1. Những đặc điểm chu sinh và tỉ lệ sống sót 

của BN TVHBS. 

Biến số Tần suất Tỉ lệ sống sót và giá trị P Chẩn đoán tiền sản p=0,10

Phương thức sinh p=1,0

Về mặt phẫu thuật, toàn bộ BN (100%) đều  được  mổ  mở  đường  bụng  để  sửa  chữa  khiếm  khuyết  cơ  hoành.  Tuổi  trung  bình  lúc  phẫu  thuật là 4 ngày. Thời gian phẫu thuật trung bình 

là  77  phút.  Sự  hiện  diện  của  túi  thoát  vị  chiếm  38,5% trường hợp. Có 6 trường hợp (11,5%) BN  được tạo hình cơ hoành bằng tấm Gore‐tex Bảng 

3. BN có biểu hiện khởi phát suy hô hấp sớm và  không được đặt NKQ hỗ trợ hô hấp và tăng áp  phổi  nặng  có  liên  quan  đến  tỉ  lệ  sống  sót  thấp.  Thoát vị có túi là một yếu tố tiên lượng sống sót  cao.  Chúng  tôi  ghi  nhận  nhóm  BN  được  thở  HFO và NO có tỉ lệ tử vong cao hơn nhóm chỉ  thở  máy  thông  thường,  có  lẽ  do  nhóm  này  chỉ  gồm những BN rất nặng. Kích thước lỗ thoát vị  cho thấy liên quan nhiều đến tỉ lệ tử vong, điều  này đã được ghi nhận nhiều trong y văn(8). 

Bảng 2. Các đặc điểm chu phẫu của BN. 

Biến [lớn nhất;nhỏ nhất] Trung bình Đặc điểm khí máu

AaDO2 lúc nhập viện 317,6 ± 181,6

Thời gian thở máy

Trước mổ (n=51) 2,3 ± 2,2(ngày) [0;12]

Trang 4

Sau mổ (n=46) 6,1 ± 3,3(ngày)[2;18]

Thời gian thở HFO 6,3 ± 2,1(ngày) [2;9]

Thời gian thở NO 1,8 ± 0,9(ngày) [1;3]

Tuổi lúc phẫu thuật 4,4 ± 3,2 (ngày)[1;14]

Thời gian từ lúc NV đến phẫu

Thời gian phẫu thuật 77,4 ± 20,6(phút) [50;120]

Thời gian nằm hồi sức

Trước mổ (n=52) 2,4 ± 2,7 (ngày) [0;14]

Sau mổ (n=52) 9,4 ± 9,8 (ngày)[3;71]

Thời gian nằm viện 19,6 ± 8,3 (ngày)[11;47]

Chúng  tôi  ghi  nhận  được  6  trường  hợp 

TVHBS phải sử dụng tấm Gore‐tex để phục hồi 

cơ hoành. Không có trường hợp tái phát hoặc tử 

vong nào được ghi nhận trong nhóm này bảng 

4. 

Bảng 3. Các đặc điểm sau sinh của BN. 

Biến Tần suất Tỉ lệ sống sót và giá trị P

Biểu hiện ban đầu

Khởi phát sớm P = 0,18

<24 giờ sau sinh 35 (68,6) 28 (80)

≥24 giờ sau sinh 17 (32,7) 16 (94,1)

Hỗ trợ hô hấp ban đầu P = 0,18

Nhẹ (< 50 mmHg) 37 (71,1) 36 (97,3)

Nặng (≥ 50 mmHg) 15 (28,9) 8 (53,3)

Thoát vị túi P = 0,015

Bảng 4. So sánh nhóm tạo hình cơ hoành bằng Gore‐

tex và tự thân. 

Biến Tự thân (n=46) Gore-tex (n=6) P

Chẩn đoán

Tuổi thai lúc sinh,

Biến Tự thân (n=46) Gore-tex (n=6) P

Cân nặng lúc sinh,

Tuổi lúc phẫu thuật,

Thời gian phẫu

BÀN LUẬN 

Đây là nghiên cứu khảo sát kết quả điều trị  TVHBS và những trường hợp tạo hình cơ hoành 

sử  dụng  tấm  ghép  Gore‐tex  tại  một  trung  tâm  nhi khoa lớn ở Việt Nam, thu thập và phân tích 

số  liệu  của  các  trẻ  TVHBS  sinh  trong  khoảng  2011‐2013.Trong  52  trẻ  TVHBS,  đặc  điểm  nhân  khẩu  học,  liên  quan  giữa  những  biến  số  trước  sinh  hoặc  sau  sinh  với  tỉ  lệ  sống  sót  được  hồi  cứu lại. Mục đích của nghiên cứu là: Thứ nhất,  cung  cấp  những  thông  tin  hữu  ích  cho  cha  mẹ 

và các nhà lâm sàng khi TVHBS được chẩn đoán  tiền sản; hai, cung cấp chứng cứ cho việc chuẩn  hóa phác đồ điều trị và thực hiện những nghiên  cứu tiền cứu có giá trị hơn.  

0 10 20 30 40

Tử vong Sống

 

Hình 1 Tỉ lệ sống TVHBS theo từng năm

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 63,5% trẻ 

bị TVHBS được chẩn đoán tiền sản, 100% được  sinh  trong  bệnh  viện  và  78,9%  được  sinh  mổ.  Nhóm  Nghiên  cứu  TVHBS  báo  cáo  tỉ  lệ  chẩn  đoán  tiền  sản  là  51,7%,  và  tỉ  lệ  sinh  tại  bệnh  viện  của  họ  là  38,5%.  Stevens(4) báo  cáo  tỉ  lệ  sinh  trong  bệnh  viện  và  sinh  mổ  vì  có  chẩn  đoán  tiền  sản  là  TVHBS  lần  lượt  là  60,5%  và  48,3%.  Như  vậy  trẻ  Việt  Nam  thường  có  khuynh hướng sinh trong bệnh viện và khi có  chẩn đoán tiền sản là TVHBS thì thường được 

Trang 5

chủ  động  sinh  mổ  ở  những  trung  tâm  sản 

khoa lớn (Từ Dũ chiếm 51,9%).  

Sự  phát  hiện  tiền  sản  của  đa  ối,  phù  thai, 

thoát  vị  gan  được  xem  là  những  yếu  tố  tiên 

lượng  nguy  cơ.  Phân  loại  nguy  cơ  củatiền  sản 

của Kitano và Usui khá hữu ích, vì tỉ lệ sống sót 

liên quan mật thiết với từng mức phân độ nguy 

cơ của các hệ thống này. Tuy nhiên vấn đề đáng 

lưu  ý  là  hầu  hết  những  trường  hợp  được  chẩn 

đoán tiền sản lại không được khai thác các chỉ số 

như tỉ lệ phổi‐đầu (LHR: lung to head ratio) và tỉ 

lệ  phổi‐ngang  ngực  (L/T:  lung  to  thorax  trans 

verse ratio) cũng như các yếu tố đa ối phù thai, 

thoát  vị  gan.  Điều  này  cho  thấy  vai  trò  chẩn 

đoán  tiền  sản  ở  Việt  Nam  còn  tương  đối  hạn 

chế,  chỉ  dừng  ở  mức  phát  hiện  bệnh,  chứ  chưa 

chú trọng đến tiên lượng được các nguy cơ của 

bệnh. Phân loại nguy cơ của Kitano(4) dễ sử dụng 

hơn vì chỉ cần xác định vị trí của gan và dạ dày. 

Tỉ lệ thở máy HFO, thở NO lần lược là 19,2% 

và 11,5%. Mặc dù có tỉ lệ rất thấp so với các bác 

cáo  khác  trên  thế  giới,  khuynh  hướng  sử  dụng 

thở máy HFO và thở NO đang dần thông dụng 

hơn  ở  Việt  Nam  trong  điều  trị  TVHBS.  Bệnh 

viện  Nhi  Đồng  2  hiện  chưa  áp  dụng  ECMO 

trong  điều  trị  BN  TVH.  Miglizza  và  cs(11) mô  tả 

phác đồ điều trị của họ, trong đó bắt đầu với thở 

HFO chọn lọc, và họ cũng báo cáo sự cải thiện tỉ 

lệ sống sót và giảm tần suất mắc bệnh phổi mạn 

tính. Chỉ định của thở NO không được xác định 

rõ  ràng,  khi  trẻ  TVHBS  có  sự  thay  đổi  nhẹ  độ 

bão hòa oxy trước ống và sau ống, thở NO nên 

được  chỉ  đinh  ngay  để  giảm  kháng  lực  động 

mạch  phổi  và  do  đó  làm  giảm  hậu  tải  của  thất 

phải(18).  Nhóm  Nghiên  cứu  TVHBS  cũng  chỉ  ra 

xu hướng tăng sử  dụng  khí  thở  NO  nhiều  hơn 

và giảm sử dụng ECMO trong những năm gần  đây. 

Về  mặt  phẫu  thuật,  tiếp  cận  mở  bụng  là  được  sử  dụng  phần  lớn  trong  sửa  chữa  cơ  hoành. Gần đây, nhiều trung tâm đã báo cáo sử  dụng phẫu thuật nội soi trong TVHBS cũng cho  kết quả tốt. Sự hiện diện của túi thoát vị là một  yếu  tố  tiên  lượng  tốt(14).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  không  ghi  nhận  trường  hợp  tử  vong  nào  trong nhóm thoát vị hoành có túi. Kích thước lỗ  thoát vị ảnh hưởng đến kết quả, là một dấu hiệu  chỉ điểm có giá trị cao cho mức độ thiểu sản phổi 

và  độ  nặng  của  tăng  áp  phổi.  Thời  điểm  phẫu  thuật vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi trong 

BN  TVHBS.  Tuy  vậy,  không  có  trung  tâm  nào  tiến hành phẫu thật khẩn cấp đối với TVHBS mà  phần  lớn  các  trung  tâm,  bác  sĩ  phẫu  thuật  trì  hoãn cuộc mổ cho tới khi ổn định về huyết động  học, sinh lý học và cải thiện về tình trạng tăng áp  phổi (6,11).  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  2  đang  áp  dụng  phương thức điều trị này là phẫu thuật trì hoãn  đối với trẻ TVHBS. Tạo hình cơ hoành bằng tấm  Gore‐texthực hiện ở 6 BN và cho kết quả khá tốt.  Theo Jacqueline Tsai(17), sử dụng tấm Gore‐tex để  tái tạo cơ hoành cho tỉ lệ tái phát thấp 2,7% và tỉ 

lệ tái phát cao mà các nghiên cứu khác ghi nhận  phần lớn là do lỗi kỹ thuật.  

Tỉ lệ sống sót trong các nghiên cứu trên thế  giới  được  ghi  nhận  trong  bảng  5(6,11)  Những  số  liệu này phải được phân tích rất thận trọng vì tỉ 

lệ chấm dứt thai kỳ và thai chết lưu ở mỗi khu  vực  sẽ  khác  nhau  và  chiến  lược  điều  trị  cũng  thay đổi theo từng trung tâm khác nhau (10). Và tỉ 

lệ sống sót tổng thể và đơn độc của chúng tôi lần  lượt là 57,1 và 82,7%. 

Bảng 5. Tỉ lệ sống sót tổng thể và đơn độc của BN TVHBS trong các nghiên cứu khác. 

Tác giả

và năm xuất bản Quốc gia

Thời gian nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu

Tỉ lệ sống sót tổng thể

Tỉ lệ sống sót đơn độc

Nhóm Nghiên Cứu

Migliazza và cs, 2007(11) Ý 1994-2005 Hồi cứu, một trung tâm 77/111 (69,4) Không đ/g

Chúng tôi, 2013 Việt Nam 2011-2013 Hồi cứu, một trung tâm 44/77 (57,1%) 43/52 (82,7%)

Trang 6

Hạn chế lớn nhất của nghiên cứu này là thiết 

kế  hồi  cứu  với  cỡ  mẫu  chưa  đủ  lớn  để  có  thể 

phân tích sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ 

sống  sót  và  kết  quả  điều  trị.  Tuy  vậy  kết  quả 

chúng  tôi  cũng  phần  nào  giúp  thêm  thông  tin 

cho  các  BS  lâm  sàng  và  những  ai  quan  tâm  về 

bệnh  lý  TVHBS.  Tỉ  lệ  sống  của  những  trẻ 

TVHBS được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 

2  là  82,7%,một  kết  quả  có  thể  so  sánh  với  các 

trung  tâm  khác  trên  thế  giới.  Với  kết  quả  tốt 

trong nhóm tạo hình cơ hoành bằng tấm Gore‐

tex,  chúng  tôi  hy  vọng  có  thể  áp  dụng  cho 

những BN TVHBS với kích thước lỗ thoát vị lớn 

để tăng tỉ lệ sống sót trong nhóm này. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Cohen  D,  Reid  IS  (1981).  Recurrent  diaphragmatic  hernia.  J 

Pediatr Surg;16: pp 42‐4. 

2 Fauza DO, Marler JJ, Koka R (2001). Fetal tissue engineering: 

diaphragmatic replacement. J Pediatr Surg;36: pp 146‐51. 

3 Frenckner  B,  Ehren  H,  Granholm  T,  Linden  V,  Palmer  K 

(1997).  Improved  results  in  patients  who  have  congenital 

diaphragmatic  hernia  using  preoperative  stabilization, 

extracorporeal membrane oxygenation, and delayed surgery. 

J Pediatr Surg;32: pp 1185–1189. 

4 Kitano  Y,  Okuyama  H,  Saito  M  (2011).  Re‐evaluation  of 

stomach  position  as  a  simple  prognostic  factor  in  fetal  left 

congenital  diaphragmatic  hernia:  a  multicenter  survey  in 

Japan. Ultrasound Obstet Gynecol;37: pp 277‐82. 

5 Laituri  CA,  Garey  CL,  Valusek  PA  (2010).  Outcome  of 

congenital  diaphragmatic  hernia  repair  depending  on  patch 

type. Eur J Pediatr Surg;20(6): pp 363‐5. 

6 Lazar DA, Cass DL, Rodriguez MA (2011). Impact of prenatal 

evaluation  and  protocol‐based  perinatal  management  on 

congenital  diaphragmatic  hernia  outcomes.  J  Pediatr 

Surg;46:pp 808‐13. 

7 Logan  JW,  Rice  HE,  Goldberg  RN  (2007).  Congenital 

diaphragmatic  hernia:  a  systemic  review  and  summary  of 

best‐evidence practice strategies. J Perinatol;27:pp 535. 

8 Mah  VK,  Chiu  P,  Kim  P  (2011).  Are  we  making  a  real 

difference? Update on ‘Hidden mortality’ in the management 

of  congenital  diaphragmatic  hernia.  Fetal  Diagn  Ther;29:pp 

40‐5. 

9 Masumoto  K,  Nagata  K,  Souzaki  R  (2007).  Effectiveness  of  diaphragmatic  repair  using  an  abdominal  muscle  flap  in  patients  wi  th  recurrent  congenital  diaphragmatic  hernia.  J  Pediatr Surg;42:pp 2007‐11. 

10 Masumoto K, Teshiba R, Esumi G (2009). Improvement in the  outcome  of  patients  with  antenatally  diagnosed  congenital  diaphragmatic hernia using gentle ventilation and circulatory  stabilization. Pediatr Surg Int;25:pp 487‐92. 

11 Migliazza L, Bellan C, Alberti D (2011). Retrospective study of 

111  cases  of  congenital  diaphragmatic  hernia  treated  with  early  high‐  frequency  oscillatory  ventilation  and  presurgical  stabilization. J Pediatr Surg:pp 1526‐32. 

12 Okuyama  H,  Kubota  A,  Oue  T  (2002).  Inhaled  nitric  oxide  with  early  surgery  improves  the  outcome  of  antenatally  diagnosed  congenital  diaphragmatic  hernia.  J  Pediatr  Surg;37:pp 1188 –1190. 

13 Riehle  KJ, Magnuson  DK, Waldhausen  JH  (2007).  Low  recurrence rate after Gore‐Tex/Marlex composite patch repair  for posterolateral congenital diaphragmatic hernia. Journal of  Pediatric Surgery 42, pp 1841 –1844. 

14 Spaggiari E, Stirnemann J (2013). Prognostic value of a hernia  sac  in  congenital  diaphragmatic  hernia.  Ultrasound  Obstet  Gynecol, 41 (3), pp 286‐90. 

15 Spaggiari E, Stirnemann J, Bernard JP (2013). Prognostic value 

of  a  hernia  sac  in  congenital  diaphragmatic  hernia.  Ultrasound Obstet Gynecol, 41 (3), pp 286‐90. 

16 Stevens TP, Wijngaarden E, Ackerman KG (2009). Timing of  delivery  and  survival  rates  for  infants  with  prenatal 

Pediatrics;123:pp 494‐502. 

17 Tsai  J,  Patch  JS  (2012).  Repair  for  congenital  diaphragmatic  hernia: is it really a problem? Journal of Pediatric Surgery 47, 

pp 637 –641. 

18 Usui  N,  Kitano  Y,  Okuyama  H  (2011).  Prenatal  risk  stratification  for  isolated  congenital  diaphragmatic  hernia:  results  of  a  Japanese  multicenter  study.  J  Pediatr  Surg;46:pp  1873‐80. 

19 Valusek PA, Tsao K (2007)l. Abdominal complications related 

to type of repair for congenital diaphragmatic hernia. J Surg  Res;140:pp 234‐6. 

20 Yang  W,  Carmichael  SL,  Harris  JA  (2006).  Epidemiologic  character‐ istics of congenital diaphragmatic hernia among 2.5  million California. Birth Defects Res A Clin Mol Teratol;76:pp  170‐4. 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w