Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và tăng LDL-C máu ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 115 BN ĐTĐ týp 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 175.
Trang 1KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH VÀ
BIỂU HIỆN TĂNG LDL-C Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Mai Tấn Mẫn*; Nguyễn Thị Phi Nga**; Lê Đình Tuân***
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch và tăng LDL-C máu ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 115
BN ĐTĐ týp 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 175 Kết quả: tỷ lệ BN có yếu tố nguy cơ tim
mạch: cao tuổi 89,6%, rối loạn lipid máu 65,2%, tăng huyết áp (THA) 66,1%, thừa cân béo phì 56,5%, hút thuốc lá 49,6%, hoạt động thể lực ít 28,8% Tỷ lệ BN có 2 yếu tố nguy cơ tim mạch 26,1%, 3 yếu tố 36,5%, 4 yếu tố 16,5%, 5 yếu tố 0,9% Tỷ lệ rối loạn LDL-C 38,3%, tăng LDL-C kết hợp với: tăng triglycerid 29,6%, tăng cholesterol 27,0%, giảm HDL-C 1,7% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ LDL-C với tình trạng thừa cân béo phì, hút thuốc lá,
THA và hoạt động thể lực ít Kết luận: yếu tố nguy cơ tim mạch phổ biến ở BN ĐTĐ týp 2 là:
cao tuổi, rối loạn lipid máu, THA, thừa cân béo phì, hút thuốc lá Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng nồng độ LDL-C với các yếu tố nguy cơ thừa cân béo phì, hút thuốc lá, THA
và hoạt động thể lực ít
* Từ khóa: Đái tháo đường týp 2; Yếu tố nguy cơ tim mạch; Tăng LDL-C
Survey on Cardiovascular Risk Factors and High LDL-C in Patients with Type Diabetes Mellitus in 175 Hospital
Summary
Objectives: To determine the cardiovascular risk factors and high LDL-C in patients with type
2 diabetes mellitus Methods: A cross-sectional descriptive study was carried out on 115 type 2
diabetic patients in 175 Hospital Results: The percentage of cardiovascular risk factors: age was 89.6%, dyslipidemia 65.2%, hypertension 66.1%, obesity 56.5%, smoking 49.6%, less physical activity 28.8% The patients who had two cardiovascular risk factors were 26.1%, three factors 36.5%, four factors 16.5% and five factors 0.9% The rate of high LDL-C was 38.3%, high LDL-C and hypertriglyceridemia 29.6%, high LDL-C and hypercholesterolemia 27.0%; high LDL-C and low HDL-C 1.7% There was a significant relation between the high LDL-C with
obesity, smoking, hypertension and less physical activity Conclusion: Cardiovascular risk
factors were common in patients with type 2 diabetes, including age, dyslipidemia, hypertension, obesity and smoking There was significant relation between the high LDL-C with obesity, smoking, hypertension and less physical activity
* Key words: Type 2 diabetes; Cardiovascular risk factors; High LDL-C
* Bệnh viện Quân y 17
** Bệnh viện Quân y 103
*** Đại học Y Dược Thái Bình
Ngày nhận bài: 13/04/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 20/06/2016
Ngày bài báo được đăng: 28/06/2016
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây tốc độ phát
triển của bệnh ĐTĐ đã trở thành vấn đề
quan tâm trong cộng đồng Việt Nam
đang trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế
dẫn đến nhanh thay đổi từ lối sống, tạo
điều kiện cho bệnh phát triển ngày càng
tăng hơn so với trước [3] Trong ĐTĐ týp
2, 3 yếu tố: glucose máu, huyết áp và lipid
máu luôn luôn đi song hành với nhau và
có tác động lẫn nhau, nếu BN ĐTĐ týp 2
có đồng thời cả ba yếu tố thì vấn đề tiên
lượng bệnh nặng lên gấp nhiều lần [3, 8]
Lipoprotein có tỷ trọng thấp (LDL: Low
Density Lipoprotein) là chất chuyên chở
70% cholesterol trong huyết tương
LDL-C có vai trò đặc biệt quan trọng trong
bệnh lý tim mạch Nếu lấy chuẩn LDL-C
trong máu > 4,1 mmol/l là bệnh lý thì ở
người mắc bệnh ĐTĐ, tỷ lệ tăng LDL-C ở
nam là 10%, nữ 25% Ở người bệnh
ĐTĐ, chỉ cần tăng nhẹ đã là yếu tố nguy
cơ tăng nặng bệnh lý mạch vành [2] Vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
với mục tiêu:
- Khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim
mạch và biểu hiện tăng LDL-C ở BN ĐTĐ
týp 2 tại Bệnh viện Quân y 175
- Tìm hiểu mối liên quan giữa tăng
LDL-C với một số yếu tố nguy cơ tim
mạch ở BN ĐTĐ týp 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
115 BN ĐTĐ týp 2 điều trị tại Bệnh viện
Quân y 175 từ 01 - 2015 đến 04 - 2015
* Tiêu chuẩn chọn BN:
BN được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 theo
khuyến cáo của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ
(ADA, 2013) [7] BN đồng ý hợp tác
nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- ĐTĐ týp 1, ĐTĐ ở phụ nữ mang thai
- BN có kèm theo bệnh nội tiết: Basedow, hội chứng Cushing, bệnh to đầu chi, hội chứng thận hư, BN đang mắc một số bệnh nặng (hôn mê, đột quỵ, nhiễm trùng nặng, thiếu máu nặng, suy tim, suy thận giai đoạn nặng…)
- BN đang dùng các thuốc corticoid trong vòng 3 tháng
- BN không hợp tác, không thu thập đủ
dữ liệu nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang
Nội dung nghiên cứu:
* BN ĐTĐ týp 2:
- Khám lâm sàng:
+ Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thời gian phát hiện ĐTĐ
+ Các yếu tố nguy cơ tim mạch [2]: Tuổi và giới: nam ≥ 45, nữ ≥ 55 Yếu tố di truyền: gia đình có bệnh lý tim mạch hoặc đột quỵ, chủng tộc
Hút thuốc lá: > 20 điếu/ngày, kéo dài
> 2 năm
Hoạt động thể lực ít: hoạt động thể lực không đều, mỗi ngày < 30 phút, tập không đủ mạnh (khi tập phải: ấm người, thở hơi nhanh, ra mồ hôi vừa)
Uống rượu, bia: nhiều hơn một đơn vị uống: tương đương 60 ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu nặng) mỗi ngày kéo dài > 2 năm
Rối loạn lipid máu
Thừa cân béo phì
THA
Trang 3+ Tiền sử bản thân, tiền sử gia đình:
có anh chị em bố mẹ ruột bị ĐTĐ, bệnh lý
tim mạch khác Đo chiều cao, cân nặng,
tính BMI
+ Khám lâm sàng toàn diện: tiêu hóa,
tim mạch, hô hấp, tiết niệu…
- Cận lâm sàng và thăm dò chức năng:
Chỉ số sinh hóa máu cơ bản: triglycerid,
cholesterol, HDL-C, LDL-C, glucose, HbA1c,
GOT, GPT, ure, creatinin, sinh hóa nước
tiểu 10 thông số
- Tiêu chuẩn dùng trong nghiên cứu:
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipid máu:
theo khuyến cáo Hội Tim mạch Việt Nam
(2008) về rối loạn lipid máu, tăng LDL-C
khi nồng độ LDL-C ≥ 3,12 (mmol/l) [2]
+ Phân loại chỉ số khối cơ thể (BMI):
đánh giá chỉ số BMI của ASEAN (áp dụng
cho người châu Á trưởng thành) [3]
+ Phân độ THA theo JNC VII (2003)
(đối với người lớn ≥ 18 tuổi) [2]
* Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS
16.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Đặc điểm về đối tượng nghiên
cứu
Tuổi (năm) 64,4 ± 12,8
Nữ 74 64,0
Giới
Nam 41 36,0
Thời gian phát hiện
ĐTĐ (năm) 6,2 ± 4,1
BMI (kg/m2) 23,5 ± 2,48
Glucose (mmol/l) 9,9 ± 4,9
HbA1c (%) 8,3 ± 1,9
BN có tuổi trung bình 64,4 ± 12,8, nữ chiếm đa số (64,0%)
* Tần suất một số yếu tố nguy cơ tim mạch:
Yếu tố nguy cơ tim mạch chính là tuổi nam ≥ 45, nữ ≥ 55: 103 BN (89,6%); THA:
76 BN (66,1%); rối loạn lipid: 75 BN (65,2%); hút thuốc lá: 57 BN (49,6%); tiền
sử gia đình: 23 BN (20,0%); thừa cân,
béo phì: 65 BN (56,5%); uống rượu, bia:
41 BN (39,1%); hoạt động thể lực ít: 33
BN (28,8%) Tỷ lệ BN có yếu tố nguy cơ
tim mạch là tuổi (nam ≥ 45, nữ ≥ 55) cao nhất (89,6%), tiếp đó là rối loạn lipid máu, tiền sử gia đình có bệnh tim mạch sớm thấp nhất (20,0%)
* Tổng số các yếu tố nguy cơ trên BN:
Không yếu tố nguy cơ: 0 BN (0%);
1 yếu tố nguy cơ: 3 BN (2,6%); 2 yếu tố nguy cơ: 30 BN (26,1%); 3 yếu tố nguy cơ:
62 BN (36,5%); 4 yếu tố nguy cơ: 19 BN (16,5%); 5 yếu tố nguy cơ: 1 BN (0,9%) Tất cả BN đều có nguy cơ tim mạch, tỷ lệ
BN có 3 yếu tố nguy cơ cao nhất (36,5%),
5 yếu tố nguy thấp nhất (0,9%)
Bảng 2: Đặc điểm rối loạn LDL-C
Tăng LDL-C 44 38,3 LDL-C trung bình (mmol/l) 2,75 ± 0,96 Tăng LDL-C + tăng
triglycerid 34 29,6 Tăng LDL-C + tăng
cholesterol 31 27,0 Tăng LDL-C + giảm
Tỷ lệ rối loạn LDL-C là 38,3%, tăng LDL-C kết hợp tăng triglycerid cao nhất (29,6%)
Trang 4Bảng 3: Mối liên quan giữa LDL-C với một số yếu tố nguy cơ tim mạch của nhóm
BN ĐTĐ týp 2 nói chung
Có (n = 103) 2,79 ± 1,00
Tuổi (nam ≥ 45, nữ ≥ 55)
Không (n = 12) 2,47 ± 1,13 > 0,05
Có (n = 76) 2,70 ± 0,89 THA
Không (n = 39) 2,81 ± 1,08 > 0,05
Có (n = 57) 2,81 ± 1,00
Hút thuốc lá
Không (n = 58) 2,90 ± 1,00 > 0,05
Có (n = 65) 2,97 ± 1,01
Thừa cân, béo phì
Không (n = 50) 2,63 ± 0,85 < 0,05
Có (n = 41) 2,77 ± 1,04
Uống rượu, bia
Không (n = 74) 2,70 ± 1,00 > 0,05
Có (n = 33) 2,89 ± 0,97
Hoạt động thể lực ít
Không (n = 82) 2,70 ± 0,99 > 0,05 Nồng độ LDL-C ở nhóm BN thừa cân béo phì cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm không thừa cân béo phì (p < 0,05)
Bảng 4: Mối liên quan giữa LDL-C với một số yếu tố nguy cơ tim mạch của nhóm
BN ĐTĐ týp 2 có tăng LDL-C
Có (n = 32) 3,73 ± 0,50
Tuổi (nam ≥ 45, nữ ≥ 55)
Không (n = 11) 3,66 ± 0,34 > 0,05
Có (n = 36) 3,79 ± 0,89 THA
Không (n = 8) 3,31 ± 0,62 < 0,05
Có (n = 23) 3,88 ± 0,41
Hút thuốc lá
Không (n = 21) 3,43 ± 0,54 < 0,05
Có (n = 31) 3,75 ± 0,43
Thừa cân, béo phì
Không (n = 13) 3,37 ± 0,59 < 0,05
Có (n = 16) 3,67 ± 0,44
Uống rượu, bia
Không (n = 28) 3,65 ± 0,52 > 0,05
Có (n = 28) 3,97 ± 0,51
Hoạt động thể lực ít
Không (n = 16) 3,50 ± 0,48 < 0,05
Ở nhóm BN có tăng LDL-C, nồng độ LDL-C ở BN có thừa cân béo phì, hút thuốc lá,
THA và hoạt động thể lực ít cao hơn có ý nghĩa thống kê so với BN không thừa cân
béo phì, không hút thuốc lá, không THA, thường xuyên hoạt động thể lực (p < 0,05)
Trang 5BÀN LUẬN
1 Các yếu tố nguy cơ tim mạch
Hút thuốc là yếu tố nguy cơ độc lập
quan trọng gây bệnh tim mạch, nhưng khi
hút thuốc lá ở người có kèm theo yếu tố
nguy cơ khác như THA, ĐTĐ, rối loạn
lipid máu, béo phì sẽ làm cộng hưởng các
tác hại lên nhiều lần Tổng kết năm 1990
qua 10 năm nghiên cứu cho thấy nguy cơ
mắc bệnh mạch vành tăng rõ rệt ở người
hút thuốc lá [9] Kết quả từ nghiên cứu
Framingham đã chứng minh, nguy cơ đột
tử cao hơn 10 lần ở nam và 5 lần ở nữ có
hút thuốc Nghiên cứu của chúng tôi thấy
49,6% BN trong tiền sử và hiện tại có hút
thuốc lá (77,0% nam giới), cao hơn
nghiên cứu Ngô Ngọc Tước: 32,62% [6],
Hoàng Đình Tuấn là 36% (nam chiếm
64%) [5]
Rượu và dẫn chất của rượu đã được
ghi nhận có liên quan đến một số bệnh
tim mạch, nội tiết, tiêu hóa… Rượu có
tương tác với thuốc hạ glucose máu, dễ
gây nhiễm toan, nhiễm axít lactic máu khi
đang dùng metformin ở BN ĐTĐ khi uống
nhiều 5 nghiên cứu lớn trên gần 30.000
biến cố tim mạch cho thấy những người
dùng 1 đơn vị alcohol/ngày giảm được
20% tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch so
với người không uống rượu [2] Uống
rượu nhiều kèm theo THA và tăng nguy
cơ bị đột quỵ do xuất huyết não Nghiên
cứu 39,1% BN tiền sử và hiện tại có uống
rượu bia (chiếm 60,18% nam giới), không
có nữ, kết quả này thấp hơn nghiên cứu
của Ngô Ngọc Tước ở Kiên Giang
(44,68%) [6], Khác biệt là do thói quen
sinh hoạt của từng địa phương
Hoạt động thể lực thường xuyên và
kéo dài làm gia tăng nhu cầu sử dụng
nguồn năng lượng từ biến dưỡng lipid và glucid, từ đó làm giảm lượng mỡ trong cơ thể, chủ yếu ở vùng bụng giảm đi một cách đáng kể [3] Ngoài ra, còn làm giảm lượng dự trữ glycogen hằng định trong
cơ, qua đó làm gia tăng độ nhạy cảm insulin trong điều hòa glucose máu sau
ăn Trong nghiên cứu, 28,8% BN hoạt động thể lực ít (nam: 21,6%; nữ 41,5%),
tỷ lệ ít hoạt động thể lực ở nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam Nghiên cứu của Ngô Ngọc Tước cho kết quả tương tự với 20,56% ít hoạt động thể lực [6]
Thể trạng là một trong các yếu tố rất khác nhau giữa các nước trên thế giới, ngoài di truyền về gen, còn phụ thuộc vào
sự phát triển của kinh tế, xã hội, tỷ lệ người thừa cân béo phì tăng theo tốc độ phát triển của kinh tế, xã hội Từ các nghiên cứu điều tra dịch tễ cho thấy, tỷ lệ thừa cân, béo phì cao ở các nước phát triển kéo theo là hội chứng chuyển hoá, trong đó có ĐTĐ týp 2 [3, 10] Tăng cân, béo phì được thể hiện bằng chỉ số BMI cao, đặc biệt là béo trung tâm với tăng vòng bụng gây đề kháng insulin, rối loạn lipid máu ở BN ĐTĐ [10] Kết quả nghiên cứu cho thấy, BMI trung bình 23,5 ± 2,48 kg/m2, tương đương với kết quả nghiên cứu của Lê Đình Tuân với chỉ số BMI trung bình là 23,6 ± 3,6 kg/m2, tỷ lệ BN có BMI ≥ 23 kg/m2 là 62,7% [4] Nghiên cứu của Trần Văn Hiền 35,3% [1], thấp hơn nghiên cứu của Ngô Ngọc Tước (70,2%) [6] THA và ĐTĐ là yếu tố nguy cơ cho bệnh lý bệnh mạch vành Các nghiên cứu khác cũng cho thấy 30 - 70% biến chứng ĐTĐ có liên quan bệnh lý của THA [3] THA thường đi kèm ở BN ĐTĐ, tuy nhiên THA là một bệnh đi kèm hay là hậu quả của bệnh ĐTĐ rất khó phân biệt Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA chiếm 50,4%,
Trang 6cao hơn so với nghiên cứu của Lê Đình
Tuân (44,0%) [4], Trần Văn Hiền (33,3%)
(nam 30,9%; nữ 35,4%) [1], THA được
phát hiện ở 50% trường hợp được chẩn
đoán ĐTĐ Như vậy, việc phát hiện THA
ở BN ĐTĐ cần được tiến hành ngay khi
phát hiện ĐTĐ [3]
2 Rối loạn LDL-C và mối liên quan
của nó với các yếu tố nguy cơ tim
mạch
Hiệu quả bảo vệ người bệnh trước các
biến cố tim mạch liên quan đến xơ vữa
thực chất được đánh giá qua mức LDL-C
giảm được hay cơ hội đạt được LDL-C
mục tiêu trong quá trình điều trị Phân tích
tổng hợp mới nhất CTT (Cholesterol
Treatment Trialists) (2010) trên 26 thử
nghiệm lâm sàng với 170.000 BN cho
thấy cứ giảm được 1 mmol/l LDL-C sẽ
giúp giảm 10% tỷ lệ tử vong chung, giảm
20% tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành,
giảm 24% tỷ lệ các biến cố mạch vành
chính và giảm 15% biến cố đột quỵ
Tương tự, giảm 2 - 3 mmol/L LDL-C sẽ
giúp giảm đến 40 - 50% nguy cơ [8]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ
LDL-C trung bình là 2,75 ± 0,96 mmol/l, tỷ
lệ rối loạn LDL-C là 38,3%, tăng LDL-C
kết hợp tăng triglycerid cao nhất (29,6%)
Tỷ lệ rối loạn lipid trong nghiên cứu tương
đương với kết quả của Trần Văn Hiền:
tỷ lệ tăng LDL-C là 42,9% [1], Ngô Ngọc
Tước tăng LDL-C 14,89% [6], Lê Đình Tuân
tăng LDL-C 35% [4] Theo Sharmistha
Bhattacherjee và Ritam Banerjee (2014),
tỷ lệ rối loạn lipid 78,4% (tăng LDL-C
27%), Judy Hannah Dongsheng Hu
(2000) tăng LDL-C 29% Kết quả khác
nhau giữa các nghiên cứu có thể do sự
khác nhau về lựa chọn tiêu chuẩn chẩn
đoán của các hiệp hội khác nhau
Trong nghiên cứu này ở nhóm BN có tăng LDL-C, nồng độ LDL-C ở BN có thừa cân béo phì, hút thuốc lá, THA và hoạt động thể lực ít cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với BN không thừa cân béo phì, không hút thuốc lá, không THA, thường xuyên hoạt động thể lực (p < 0,05) Hút thuốc lá làm giảm HDL-C, tăng LDL-C và tăng triglycerid gây tăng tình trạng xơ vữa, thêm vào đó hút thuốc lá làm tăng tình trạng đông máu dẫn đến hình thành cục máu đông trên cơ sở mảng xơ vữa, làm cho lớp nội mạch tổn thương, mất tính trơn nhẵn đàn hồi, dễ dàng hình thành mảng xơ vữa dưới lớp nội mạc [9] Béo trung tâm liên quan đến tăng nồng độ axit béo tự do trong máu, làm kích thích gan, tăng sản xuất và bài tiết VLDL dẫn đến tăng triglycerid, tăng VLDL làm tăng chuyển triglycerid từ VLDL cho LDL-C, HDL-C và ngược lại, làm tăng chuyển hoá cholesterol ester từ LDL-C và HDL-C Tăng axít béo tự do và VLDL trong máu làm tăng hoạt tính của lipase gan, enzym
và thuỷ phân triglycerid của LDL-C và HDL-C Khi đó hình thành LDL-C hạt nhỏ
và đặc có tính gây xơ vữa động mạch cao, HDL-C hạt nhỏ có khả năng chống
xơ vữa động mạch kém Người thừa cân béo phì thường biểu hiện trạng thái bất thường về lipid máu, trong đó nồng độ triglycerid cao, HDL-C giảm, LDL-C nhỏ
và đặc tăng Những rối loạn này thường thấy ở BN béo phì có tích luỹ nhiều mỡ ở bụng và có liên quan đến bệnh tim mạch [3, 8] THA dẫn đến biến chứng ở não, tim và thận thông qua 2 cơ chế chính:
cơ chế thứ nhất do ảnh hưởng trực tiếp lên cấu trúc và chức năng tim và động mạch Cơ chế thứ hai do thúc đẩy sự tiến triển của quá trình xơ vữa động mạch
Trang 7Trong cơ chế thứ hai, đòi hỏi phải có sự
tương tác giữa các yếu tố nguy cơ tim
mạch khác, quan trọng nhất là tăng
cholesterol và LDL-C THA và xơ vữa
động mạch là hai bệnh góp phần thúc đẩy
sự tiến triển của nhau và làm tăng nhanh
các biến cố tim mạch [2]
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 115 BN ĐTĐ týp 2
điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 175
cho thấy:
- Tỷ lệ BN có yếu tố nguy cơ tim mạch
bao gồm tuổi (nam ≥ 45, nữ ≥ 55) là 89,6%,
rối loạn lipid máu 65,2%, THA 66,1%,
thừa cân béo phì 56,5%, hút thuốc lá
49,6%, hoạt động thể lực ít 28,8%
- Tỷ lệ BN có 2 yếu tố nguy cơ tim
mạch chiếm 26,1%, 3 yếu tố 36,5%,
4 yếu tố 16,5%, 5 yếu tố 0,9%
- Tỷ lệ rối loạn LDL-C là 38,3%, tăng
LDL-C kết hợp với: tăng triglycerid cao
nhất (29,6%), tăng cholesterol 27,0%,
giảm HDL-C 1,7%
- Nồng độ LDL-C tăng cao ở BN ĐTĐ
týp 2 có thừa cân béo phì, hút thuốc lá,
THA và hoạt động thể lực ít
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Văn Hiền Nghiên cứu rối loạn
chuyển hóa lipid máu ở BN ĐTĐ týp 2 lần đầu
dến khám và điều trị tại Bệnh viện Nội tiết
Trung ương Luận văn Chuyên khoa Cấp II
Học viện Quân y 2006
2 Hội Tim mạch Việt Nam. Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa Nhà xuất bản Y học 2008
3 Thái Hồng Quang Bệnh ĐTĐ Bệnh nội
tiết Nhà xuất bản Y học 2008, tr.257-361
4 Lê Đình Tuân Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, mô bệnh học đường tiêu hóa trên ở BN ĐTĐ týp 2 Luận văn Thạc sỹ Y học Học viện Quân y 2013
5 Hoàng Đình Tuấn Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ tim mạch và dự báo nguy cơ mắc các bệnh mạch vành trong 10 năm tới ở
BN ĐTĐ týp 2 theo thang điểm Framingham Luận văn Thạc sỹ Y học Học viện Quân y
2012
6 Ngô Ngọc Tước Nghiên cứu hiệu quả kiểm soát đa yếu tố ở BN ĐTĐ týp 2 Luận văn Chuyên khoa Cấp II Học viện Quân y
2013
7. ADA Standards of medical care in
diabetes Diabetes Care 2013, 36 (suppl1):
S11-S66
8 Chowdhury G TA Complications and cardiovascular risk factor in South Asian and Europeans with early onset typ 2 diabetes QJ Med 2002, pp.95 241-146
9 E Prescott Smoking and risk of mydocardial infaction in women and men:
longitudial population stady BMJ 1998,
pp.1043-1047
10 Josepha Joseph. Incidence and risk factor for typ 2 diabetes in a general population The Tromso Study Faculty of Health Sciences Derpartment of Community Medicine 2010