Nội dung của bài viết trình bày về vi khuẩn và đề kháng kháng sinh, theo dõi khuynh hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh để có thể biết được thực trạng đề kháng và đánh giá được hiệu quả của kháng sinh trị liệu.
Trang 1GÂY BỆNH ĐƯỢC PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN AN BÌNH
TỪ 1/10/2012 ĐẾN 31/5/2013
Trần Thị Thủy Trinh*, Nguyễn Thanh Bảo**
TÓM TẮT
Mở đầu: Vi khuẩn và đề kháng kháng sinh luôn là vấn đề thời sự của Y tế toàn cầu. Theo dõi khuynh hướng
đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh là một yêu cầu để có thể biết được thực trạng đề kháng và đánh giá được hiệu quả của kháng sinh trị liệu.
Mục tiêu: Xác định:(1) tỉ lệ các tác nhân gây bệnh; (2) tỉ lệ các loại vi khuẩn phân bố theo vị trí nhiễm khuẩn
từ bệnh nhân; (3) tỉ lệ và khuynh hướng đề kháng kháng sinh của VK; (4) tỉ lệ trực khuẩn Gram âm đường ruột sản xuất men β‐lactamase phổ rộng (ESBL).
Đối tượng ‐ Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả cắt ngang với 704 chủng vi khuẩn được phân lập
tại phòng Vi sinh của bệnh viện từ 1/10/2012 đến 31/5/2013.
Kết quả: Đa số mẫu cấy được phân lập từ nhiễm khuẩn vết mổ, da – mô mềm (39,3%), nhiễm khuẩn đường
hô hấp (36,2%) và nhiễm khuẩn đường tiểu (19,7%). Vi khuẩn Gram âm chiếm đa số tác nhân gây bệnh (78%), trong đó trực khuẩn Gram âm đường ruột chiếm ưu thế nhất (45,6%). 8 loại vi khuẩn thường gặp nhất là E. coli (21,2%), Klebsiella spp. (13,9%), M. catarrhalis (9,9%), S. aureus (9,5%), P. aeruginosa (8,8%), E. faecalis
(7,1%), Enterobacter spp. (7,1%) và Acinetobacter spp. (5,5%). Mức độ kháng thuốc rất đa dạng và có khuynh
hướng gia tăng đề kháng ở S. aureus, trực khuẩn Gram âm đường ruột và Acinetobacter spp. S. aureus kháng penicillin 98,3%, MRSA 70,7%, còn nhạy linezolid, vancomycin 100% với 85,4% có MIC vancomycin 0,5mg/L. Trực khuẩn Gram âm đường ruột đề kháng cao với ampicillin, cotrimoxazol, cephalosporins thế hệ II, III; và đề kháng thấp với ampicillin‐sulbactam, ticarcillin‐clavulanate, piperacillin‐tazobactam, cefoperazone‐sulbactam, cefepime, tobramycin, amikacin, ertapenem, imipenem và meropenem. Tỉ lệ sinh ESBL 29,9%. P. aeruginosa đề kháng thấp <30% nhưng Acinetobacter spp. đã kháng >60% với các kháng sinh theo khuyến cáo của CLSI.
Kết luận: Kháng sinh đồ luôn là cơ sở để bác sĩ lâm sàng quyết định chọn lựa kháng sinh. Cần có chiến lược
sử dụng kháng sinh thích hợp để giới hạn sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh.
Từ khóa: Đề kháng kháng sinh, Vi khuẩn Gram âm, trực khuẩn Gram âm đường ruột, MRSA, MIC, ESBL,
CLSI, kháng sinh đồ.
ABSTRACT
ANTIBIOTIC RESISTANCE OF BACTERIA ISOLATED IN THE MICROBIOLOGY LAB
OF LABORATORY DEPARTMENT OF AN BINH HOSPITAL FROM 1/10/2012 TO 31/5/2013
Tran Thi Thuy Trinh, Nguyen Thanh Bao, Cao Minh Nga
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 296 ‐ 303
Background: Bacteria and antibiotic resistance are always an actual problem of the World’s Medicine. Monitoring antibiotic resistance trends is a critical necessity to recognize the current situation of resistance and evaluate antimicrobial therapy.
Objectives: To determine: (1) the rates of infectious pathogens; (2) the infectious pathogens’ rates of
patients’ infected sites; (3) the rates and the trend of antibiotic resistance; (4) the rates of ESBL‐producing
Trang 2Method: Prospective, descriptive and cross‐sectional study with 704 pathogenic bacteria isolated at the
Microbiology Lab of the hospital from 1/10/2012 to 31/5/2013.
Results: Most of the culture samples came from the skin – soft tissue (39.3%), the lower respiratory tract
(36.2%) and the urinary tract infection (19.7%). Most of pathogens isolated were Gram negative bacilli (78%) with the highest were Enterobacteriaceae (45.6%). The most bacteria were E. coli (21.2%), Klebsiella spp. (13.9%), M. catarrhalis (9.9%), S. aureus (9.5%), P. aeruginosa (8.8%), E. faecalis (7.1%), Enterobacter spp. (7.1%) and Acinetobacter spp. (5.5%). The antibiotic resistant level of pathogenic bacteria was multiform and had
a trend of increasing resistance in S. aureus, Enterobacteriaceae and Acinetobacter spp. S. aureus was completely resistant to penicillin 98.3%, MRSA was 70.7% and sensitive with the rate 100% to linezolid and vancomycin (85.4% MIC vancomycin 0.5mg/L). Enterobacteriaceae had high antibiotic resistance to ampicillin, cotrimoxazol, cephalosporins 2 nd , 3 rd generations; and low resistance to ampicillin‐sulbactam, ticarcillin‐clavulanate, piperacillin‐tazobactam, cefoperazone‐sulbactam, cefepime, tobramycin, amikacin, ertapenem, imipenem and meropenem. The rate of ESBL‐producing Enterobacteriaceae was 29.9%. P. aeruginosa had low resistance (<30%) but Acinetobacter spp. had high resistance to antibiotics according to CLSI guidance.
Conclusion: Antibiogram results are always the base for decisions of clinicians deciding to choose antibiotics. We also need to have proper strategies for antibiotic therapy to advoid increasing antibiotic resistance.
Keywords: Antibiotic resistance, Gram negative bacilli, Enterobacteriaceae, MRSA, MIC, ESBL, CLSI, antibiogram.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng đề kháng và khuynh hướng gia
tăng mức độ kháng kháng sinh không chỉ ở các
vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện mà còn ở
các vi khuẩn do nhiễm khuẩn cộng đồng – đang
là một thách thức đối với ngành y tế nói riêng và
nhân loại nói chung(12). Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến vấn đề này nhưng nguyên nhân chủ
yếu vẫn là do sử dụng kháng sinh không hợp lý
trong môi trường bệnh viện lẫn ngoài bệnh viện.
Thực trạng vi khuẩn kháng kháng sinh đưa đến
nhiều hậu quả không chỉ cho bệnh nhân, thân
nhân bệnh nhân mà cho cả bệnh viện; vì việc
điều trị khó khăn sẽ đưa đến tổn thất về chi phí
nằm viện, thời gian điều trị và tổn thất cả sinh
mạng bệnh nhân. Muốn sử dụng kháng sinh
hợp lý thì đầu tiên là việc điều trị nhiễm khuẩn
phải dựa trên kết quả xét nghiệm vi sinh; tuy
nhiên trong bệnh viện, đôi khi các bác sĩ phải
quyết định điều trị kháng sinh trước khi có kết
quả định danh vi khuẩn và kháng sinh đồ.
Quyết định này thường dựa vào kinh nghiệm,
nhưng kinh nghiệm sử dụng kháng sinh ban
đầu chỉ đúng đắn và hiệu quả nếu được đúc kết
từ các kết quả nghiên cứu của phòng thí nghiệm
vi sinh tại chỗ. Nghiên cứu này ngoài việc cho kết quả xét nghiệm vi sinh lâm sàng đáp ứng yêu cầu điều trị kháng sinh hiệu quả còn có giá trị khoa học để giám sát tình trạng nhiễm khuẩn tại bệnh viện, nhờ đó có thể đưa ra các phác đồ điều trị kháng sinh thích hợp tránh việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đưa đến tình trạng vi khuẩn đề kháng kháng sinh. Dựa vào các lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với các mục tiêu sau:
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát tình trạng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện An Bình từ 01/10/2012 đến 31/5/2013.
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định tỉ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong thời gian nghiên cứu.
2. Xác định tỉ lệ các loại vi khuẩn phân bố theo vị trí nhiễm khuẩn từ bệnh nhân.
3. Xác định tỉ lệ đề kháng kháng sinh của các
vi khuẩn.
Trang 3ruột sản xuất ESBL.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang với
đối tượng là các vi khuẩn được phân lập thường
qui tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
(1) Các vi khuẩn được phân lập thường qui
tại bệnh viện (BV). (2) Ở mẫu đàm, chỉ chọn các
chủng vi khuẩn trên các mẫu đàm tin cậy và
chọn chủng vi khuẩn chiếm ưu thế. (3) Ở mẫu
phân, nếu không phân lập được các vi khuẩn
đường ruột gây bệnh, có thể chọn chủng vi
khuẩn chiếm ưu thế thấy rõ.
Tiêu chuẩn loại trừ
(1) Không lấy các chủng vi khuẩn cùng loại
phân lập trên cùng một vị trí nhiễm khuẩn ở
cùng một bệnh nhân trong các lần phân lập sau.
(2) Không lấy các chủng vi khuẩn phân lập từ
các bệnh phẩm quá bị tạp nhiễm hay nghi ngờ
ngoại nhiễm. (3) Không lấy các chủng vi khuẩn
phân lập từ khảo sát môi trường để giám sát
nhiễm khuẩn BV (NKBV).
Phương pháp nghiên cứu
Thông qua xét nghiệm vi sinh lâm sàng thực
hiện thường qui tại BV, xác định chủng đúng
tiêu chuẩn đưa vào và không vi phạm tiêu
chuẩn loại trừ sẽ được chọn vào nghiên cứu. Lập
Hồ sơ nghiên cứu ghi nhận thông tin dịch tễ học
liên quan đến chủng vi khuẩn và các kết quả
định danh, kháng sinh đồ. Nhập số liệu vào máy
tính và phân tích các kết quả dựa trên mục tiêu
nghiên cứu. Phương pháp phân tích là thống kê
mô tả và thống kê phân tích. Xử lý số liệu bằng
chương trình Ms.Access, Ms. Excel và SPSS 15.0.
Vật liệu: tất cả vật liệu được cung cấp bởi
công ty Nam Khoa (ISO 9001: 2000).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ 1/10/2012 đến
31/5/2013, có 2005 hồ sơ vi sinh lâm sàng được
thực hiện tại Phòng thí nghiệm, trong đó có 757
hồ sơ phân lập có vi khuẩn. Từ những hồ sơ này,
chúng tôi chọn được 704 chủng vi khuẩn thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu. Phân tích dịch tễ học các chủng này chúng tôi ghi nhận nam có 320 trường hợp, chiếm 45,5%, nữ có 384 trường hợp, chiếm 54,5%. Tỉ lệ nữ/nam là 1,2/1. Phân tích theo tuổi ghi nhận được bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 5 tháng tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là
102 tuổi. Nhóm tuổi 61 ‐ 80 tuổi chiếm cao nhất với 245 trường hợp, chiếm 34,8%.
Tỉ lệ các chủng vi khuẩn phân lập theo vị trí nhiễm khuẩn (NK) từ bệnh nhân
Biểu đồ 1: Tỉ lệ các loại nhiễm khuẩn
Tỉ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh
Bảng 1: Tỉ lệ các loại vi khuẩn (n=704)
Staphylococci coagulase (-) 2 0,28
Cầu khuẩn Gram (+) 155 22,02
Klebsiella spp 98 13,92
Enterobacter spp 50 7,1
Trực khuẩn Gram(-) đường ruột 321 45,6
Acinetobacter spp 39 5,54
Pseudomonas spp 33 4,68
Trực khuẩn Gram(-) không lên men 157 22,3
Vi khuẩn Gram (-) 549 77,98
Có 8 loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất chiếm đến 83,1% như sau:
Trang 4Biểu đồ 2:. Mức độ hay gặp của 8 loại vi khuẩn gây
bệnh thường gặp nhất
Tỉ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn
(theo CLSI 2011)
Biểu đồ 3: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của
Staphylococcus aureus (N=67) (PEN: penicillin, OXA:
oxacillin, FOX: cefoxitin, VA: vancomycin, GEN: gentamycin,
AZI: azithromycin, ERY: erythromycin, TE: tetracycline, Dx:
doxycycline, CIP: ciprofloxacin, LEV: levofloxacin, OF:
ofloxacin, SXT: trimethoprim‐sulfamethoxazole, CL:
chloramphenicol, RIF: rifampin, LZ: linezolid)
Biểu đồ 4: MIC vancomycin đối với S. aureus
(N=67)
Biểu đồ 5: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của
Enterococcus faecalis (N=50) (AM: ampicillin, NOR: norfloxacin, F: nitrofurantoin)
Biểu đồ 6: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của Moraxella
catarrhalis (N=70) (AMS: ampicillin‐sulbactam, AMC: amoxicillin‐clavulanic acid, CFX: cefuroxime, CTR:
ceftriaxone, MEM: meropenem)
Biểu đồ 7: Tỉ lệ đề kháng của Acinetobacter (N=39)
& P. aeruginosa (N=62) (PTZ: piperacillin‐tazobactam, TCC: ticarcillin‐clavulanate, Cs: cefoperazone‐sulbactam, CTX: cefotaxime, CAZ: ceftazidime, CPM: cefepime, IMI:imipenem, TOB: tobramycin, AK: amikacin)
Trang 5Biểu đồ 8. Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của E. coli (N=149), Klebsiella (N=98) và Enterobacter (N=50),
(ETP:ertapenem)
Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL
Biểu đồ 9: Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL
BÀN LUẬN
Tỉ lệ các chủng vi khuẩn phân lập theo vị
trí nhiễm khuẩn từ bệnh nhân
Biểu đồ 1 cho thấy 3 loại nhiễm khuẩn
thường gặp theo thứ tự là nhiễm khuẩn vết mổ,
da – mô mềm, nhiễm khuẩn đường hô hấp và
nhiễm khuẩn đường tiểu. Kết quả này khác với
nghiên cứu tại BV chúng tôi năm 2008(8) và
nghiên cứu của D.H.Phúc, H.T.Mỹ BV ĐHYD
TP. HCM năm 2008(3) đều là nhiễm khuẩn hô
hấp được phân lập nhiều nhất, đến nhiễm
khuẩn da – mô mềm và nhiễm khuẩn đường
tiểu. Nhiễm khuẩn vết mổ, da – mô mềm trong
nghiên cứu này tăng cao có thể do từ năm 2012
BV An Bình có thêm khoa Vệ tinh của BV Chấn
thương chỉnh hình TP. HCM với đặc điểm là
phần lớn bệnh nhân có sang thương da‐mô mềm
và nhiễm khuẩn vết mổ.
Tỉ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh
Theo Bảng 1, vi khuẩn Gram âm chiếm đa số
(78%), vi khuẩn Gram dương chiếm 22%. Trực khuẩn Gram âm đường ruột chiếm ưu thế nhất
(45,6%) với E. coli và Klebsiella. Điều này có phần
tương tự báo cáo của Bộ Y tế về “sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 BV Việt Nam năm 2008‐2009”(1)
Biểu đồ 2 trình bày 8 loại vi khuẩn thường
gặp nhất trong nghiên cứu này, thứ tự này có thể thay đổi ở các loại bệnh phẩm khác nhau. So sánh với nghiên cứu của C.M.Nga tại BV Thống Nhất năm 2006(3) và của T.T.T.Nga tại BV Chợ Rẫy năm 2008‐2009(15), chúng tôi nhận thấy các loại vi khuẩn thường gặp ở các nghiên cứu là giống nhau nhưng mức độ hay gặp của từng loại
vi khuẩn có khác nhau giữa các BV. Một trong những nguyên nhân của sự khác nhau này có thể do đặc điểm bệnh lý và dân số nghiên cứu khác nhau của các BV.
Tỉ lệ kháng thuốc của vi khuẩn
S. aureus ở Biểu đồ 3 kháng gần hoàn toàn
với PEN (98,3%) và kháng OXA 68,7%. Tỉ lệ S.
aureus kháng methicillin (MRSA) (tính theo đĩa
FOX) là 70,7% cao hơn nghiên cứu của BV Chợ Rẫy năm 2009 (57%)(13) S. aureus còn nhạy 100%
với LZ và VA, tương tự nghiên cứu của BV Chợ Rẫy năm 2009(15).
Ở Biểu đồ 4, chúng tôi khảo sát nồng độ ức
chế tối thiểu (MIC) đối với VA, kết quả 85,4% S.
Trang 6aureus có MIC 0,5mg/L và 2,1% có MIC 2mg/L.
Không phát hiện chủng có MIC>2mg/L. Tham
khảo nghiên cứu của T.T.T.Nga BV Chợ Rẫy
năm 2008, S. aureus có MIC cao hơn nhiều so với
nghiên cứu của chúng tôi: 100% chủng có MIC
≥1,5mg/L và đến 51% chủng có MIC ≥2mg/L(15).
E. faecalis là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn
đường tiểu đứng thứ hai trong nghiên cứu này.
Theo khuyến cáo của WHO, kháng sinh lựa
chọn hàng đầu cho Enterococci là AM. Ở Biểu đồ
5, E. faecalis kháng AM 8,5%, tỉ lệ này thấp so với
nghiên cứu của BV Thống Nhất năm 2005 – 2007
(24%)(4) và nghiên cứu ASTS 2006 (32,8%)(8). E.
faecalis còn kháng thấp với PEN (2%) và F (4%).
Đặc biệt, trong nghiên cứu của chúng tôi chưa
phát hiện E. faecalis kháng kháng sinh dự trữ VA
và LZ nhưng trong các nghiên cứu ASTS năm
2006(8), BV Thống Nhất năm 2005 – 2007(4) và BV
Chợ Rẫy năm 2010 ‐2011(14) đã xuất hiện chủng
kháng VA (6,9%, 3,54% và 3% theo thứ tự).
Chúng ta cần cân nhắc khi chỉ định dùng VA vì
Enterococci kháng VA đang là một thách thức lớn
của y học.
M. catarrhalis (Biểu đồ 6) là tác nhân gây
bệnh đứng hàng đầu trong nhiễm khuẩn hô hấp
ở nghiên cứu này. AM trước đây thường được
xem là kháng sinh đặc trị hữu hiệu cho các
nhiễm khuẩn M. catarrhalis đã đề kháng đến
66,7%. Tuy nhiên tỉ lệ đề kháng của chúng tôi
vẫn thấp hơn khi so sánh với nghiên cứu tại Thái
Lan năm 2000 (kháng 100%)(5) và tại Malaysia
năm 1999 (kháng 79%)(11)
Ở Biểu đồ 7, P. aeruginosa đề kháng tương
đối thấp (<30%) với các kháng sinh theo khuyến
cáo của CLSI và thấp hơn nghiên cứu tại BV
chúng tôi năm 2008(8). Đây là tín hiệu đáng
mừng vì P. aeruginosa đề kháng cao thường là vi
khuẩn gây NKBV. Điều này chứng tỏ rằng hoạt
động kiểm soát NKBV tại BV chúng tôi chí ít
cũng có tác động đến nhiễm khuẩn Pseudomonas.
So sánh với nghiên cứu của BV Thống Nhất
có tỉ lệ kháng kháng sinh cao hơn nghiên cứu
của chúng tôi rất nhiều.
Acinetobacter spp. (Biểu đồ 7) là vi khuẩn có
tỉ lệ đề kháng cao nhất trong nghiên cứu này. Chúng kháng cao >75% với SXT và cephalosporins thế hệ III. Chúng kháng >50% với PTZ, TCC, CPM, aminoglycosides và
fluoroquinolones. Acinetobacter chỉ còn kháng
thấp với Cs (12,8%). Đáng chú ý là đối với carbapenems đang được xem là nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay thường được lựa chọn
điều trị sau cùng thì Acinetobacter đã kháng IMI
64,1% và MEM 64,9%. So sánh với nghiên cứu tại BV chúng tôi năm 2008(8), Acinetobacter trong
nghiên cứu này có sự gia tăng đề kháng ở tất cả các kháng sinh thử nghiệm. Đây là vấn đề đáng
lo ngại cho các nhà lâm sàng và quản lý. Tuy nhiên, tỉ lệ kháng của Acinetobacter trong nghiên
cứu này vẫn thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của BV Chợ Rẫy 2009(15) và của L.T.T.Hà và cộng sự năm 2011 tại 7 BV ở TP. HCM(9).
Ở Biểu đồ 8, E. coli chiếm tỉ lệ cao nhất trong
nghiên cứu này đã kháng cao với cephalosporins thế hệ III (41,6‐62,4%), fluoroquinolones (61,8‐ 66,4%), kháng thấp <20% với TCC, PTZ, Cs, CPM, TOB, AK, F và carbapenems. Tỉ lệ này có khuynh hướng gia tăng so với số liệu tại BV chúng tôi năm 2008(8) nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của BV Chợ Rẫy 2009(15). Klebsiella spp. và Enterobacter spp. đề kháng các kháng
sinh thông dụng thấp hơn E. coli nhưng kháng carbapenems lại cao hơn E. coli. Nhìn chung, nhóm Enterobacteriaceae có khuynh hướng gia
tăng đề kháng so với số liệu tại BV chúng tôi năm 2008(8) nhất là carbapenems nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của BV Chợ Rẫy 2009(15).
Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL
Việc sử dụng rộng rãi cephalosporins thế hệ mới làm sự bùng phát ngày càng phổ biến các trường hợp nhiễm khuẩn do các tác nhân ESBL trên toàn thế giới(2). BV An Bình cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân lập được 321 chủng
Enterobacteriaceae, trong đó có 96 chủng sinh
ESBL chiếm 29,9%. Tỉ lệ này cao hơn số liệu tại
BV chúng tôi năm 2006 (14,2%) và năm 2008
Trang 7(29,7%)(8). Như vậy, tỉ lệ trực khuẩn Gram âm
sinh ESBL tại BV chúng tôi tăng dần theo thời
gian. Đây là tín hiệu báo động cho các nhà quản
lý phải có giải pháp trong sử dụng kháng sinh
tại BV, đó là việc hạn chế sử dụng các kháng
sinh chọn lọc ESBL. Tuy nhiên, so sánh với
nghiên cứu của H.T.P.Dung, N.T.Bảo, V.T.C.Mai
tại BV ĐHYD năm 2008 có tỉ lệ trực khuẩn Gram
âm sinh ESBL là 32,4%(8) và nghiên cứu SMART
năm 2007 tại 11 quốc gia vùng Châu Á Thái Bình
Dương có tỉ lệ trực khuẩn Gram âm sinh ESBL
đến 40,5% (Việt Nam 35,6%)(7), cao hơn nghiên
cứu của chúng tôi.
Các loại vi khuẩn sinh ESBL trong nghiên
cứu này là E. coli 49,7%, Klebsiella spp. 19,4% và
Enterobacter spp. 6%. Tham khảo nghiên cứu tại
BV ĐHYD năm 2008, E. coli sinh ESBL là 55,29%
và Klebsiella sinh ESBL là 21,28%(8) cao hơn
nghiên cứu của chúng tôi.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 704 chủng vi khuẩn gây
bệnh phân lập tại BV An Bình từ 01/10/2012 đến
31/5/2013, chúng tôi rút ra kết luận sau:
Ba loại nhiễm khuẩn thường gặp là nhiễm
khuẩn vết mổ, da – mô mềm, nhiễm khuẩn
đường hô hấp và nhiễm khuẩn đường tiểu.
Tám loại vi khuẩn thường gặp nhất là E.
coli, Klebsiella spp., M. catarrhalis, S. aureus, P.
aeruginosa, E. faecalis, Enterobacter spp. và
Acinetobacter spp. Mức độ thường gặp thay đổi
theo loại bệnh phẩm.
Tình hình kháng thuốc hiện nay của các
loại vi khuẩn: (1) S. aureus với MRSA 70,7%.
Các kháng sinh nhạy cảm >50% có tetracycline,
sulfamethoxazole, doxycycline và rifampin. S.
aureus còn nhạy 100% với linezolid và
vancomycin với 85,4% MIC 0,5mg/L và không
phát hiện chủng có MIC>2mg/L. (2) Trực khuẩn
Gram âm đường ruột được phân lập nhiều nhất
là E. coli, Klebsiella spp. và Enterobacter spp. Các
vi khuẩn này có sự gia tăng đề kháng đặc biệt
đối với nhóm kháng sinh dự trữ carbapenems.
Các kháng sinh còn nhạy >50% gồm: ampicillin‐ sulbactam, ticarcillin‐clavulanate, piperacillin‐ tazobactam, cefoperazone‐sulbactam, cefepime, tobramycin, amikacin, ertapenem, imipenem và
meropenem. (3) P. aeruginosa kháng tương đối
thấp (<30%) với các kháng sinh thử nghiệm gồm
cả các kháng sinh thường dùng cho nhiễm
khuẩn Pseudomonas. P. aeruginosa còn nhạy >50%
với ticarcillin‐clavulanate, piperacillin‐
ceftazidime, cefepime, gentamicin, tobramycin, amikacin, ciprofloxacin, levofloxacin, imipenem
và meropenem. (4) Acinetobacter spp. có tỉ lệ đề
kháng kháng sinh cao nhất trong nghiên cứu này. Kháng sinh nhạy >50% chỉ còn
cefoperazone‐sulbactam (84,6%). Acinetobacter
kháng cao với nhóm carbapenems được xem là
nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay. (5) M.
catarrhalis đề kháng ampicillin 66,7% nhưng
còn nhạy cao với amoxicillin‐clavulanic acid
(89,1%) và ampicillin‐sulbactam (89,2%). (6) E.
faecalis nhạy >50% với penicillin, nitrofurantoin,
chloramphenicol; và còn nhạy 100% với vancomycin và linezolid.
Tỉ lệ trực khuẩn Gram âm đường ruột sinh
ESBL là 29,9% trong đó E. coli chiếm tỉ lệ cao
nhất 49,7%, Klebsiella sinh ESBL là 19,4% và
Enterobacter là 6%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2011). Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 BV Việt Nam năm 2008 – 2009. Báo cáo của Bộ Y tế phối
hợp với Dự án Hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh GARP
Việt Nam và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng ĐH Oxford.
2 Braford PA (2001). Extended Spectrum Beta‐Lactamases in the 21st Century: Characterization, Epidemiology and Detection
of This Important Resistant Threat. Clinical Microbiology Rev. 14: 933‐951.
3 Cao Minh Nga (2008). Sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh
thường gặp tại BV Thống Nhất trong năm 2006. Tạp chí Y Học
TP. HCM tập 12 – Phụ bản của số 1– 2008: 194 – 200.
4 Cao Minh Nga, Lục Thị Vân Bích, Nguyễn Thị Túy An, Võ Trần Vương Di (2010). Sự đề kháng kháng sinh của các vi
khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người lớn. Tạp chí
Y Học TP. HCM tập 14 – Phụ bản của số 1‐ 2010: 490 – 496.
5 Critchley IA, Blosser‐Middleton R, et al (2002). Antimicrobial Resistance among Respiratory Pathogens Collected in Thailand during 1999‐2000. J Chemother; 14(2):147‐154
Trang 86 Dương Hồng Phúc, Hoàng Tiến Mỹ (2010). Sự đề kháng
kháng sinh của các vi khuẩn được phân lập tại BV Đại học Y
Dược TP. HCM. Tạp chí Y Học TP. HCM tập 14 – Phụ bản của
số 1 – 2010: 480 – 486.
7 Hawser SP, Bouchillon SK, Hoban DJ, Badal RE, Hsueh
PR, Paterson DL. (2009). Emergence of High Levels of
Extended‐Spectrum‐β‐Lactamase‐Producing Gram Negative
Bacilli in the Asia‐Pacific Region: Data from the Study for
Monitoring Antimicrobial Resistance Trends (SMART)
Program, 2007. Antimicrobial Agents and Chemotherapy, Vol. 53,
No. 8, p. 3280–3284.
8 Hoàng Thị Phương Dung, Nguyễn Thanh Bảo, Võ Thị Chi
Mai (2010). Khảo sát trực khuẩn gram âm sinh men beta‐
lactamase phổ rộng phân lập tại BV ĐHYD TP. HCM. Tạp chí
Y Học TP. HCM Tập 14, Phụ bản của Số 1, 2010: 487 ‐ 490.
9 Lê Thị Thanh Hà, Lê Quốc Thịnh, Nguyễn Trọng Chính,
Phan Quốc Hoàn, Trần Duy Anh, Tăng Chí Thượng, Đỗ
Quốc Huy, Phạm Thị Quỳnh Giao, Lê Thị Anh Thư, Trần Thị
Thanh Nga, Đoàn Mai Phương, Nguyễn Thị Nam Liên,
Nguyễn Phương Dung và cs (2012). Nghiên cứu tình hình
kháng thuốc của Acinetobacter baumannii phân lập được ở 7
BV tại Việt Nam. Tạp chí Y Học Thực Hành 2012, 831: 21‐26.
10 Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Đức Hiền, Đoàn Mai Phương, Võ
Thị Chi Mai, Ngô Thị Thi & Đặng Thu Hằng, Chu Thị Nga,
Đoàn Thị Hồng Hạnh & Bùi Văn Tạo, Nguyễn Thị Nam Liên,
Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Phan Văn Bé Bảy & Nguyễn Thị Tâm
Tuyền và cs (2006). Theo dõi sự đề kháng kháng sinh của vi
khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam 6 tháng đầu năm
2006”. Báo cáo của hoạt động Antibiotic Susceptibility Test
Surveillance (ASTS) được Tổ chức phát triển quốc tế của Thụy
Điển tài trợ. Thông tin Dược lâm sàng 10: 24‐42.
11 Rohani, et al (1999). Antimicrobial Resistance among
Respiratory Pathogens Collected in Malaysia. Int Med Res J
1999; 3: 57.
12 Song JH (2004). Surveillance of antimicrobial resistance –
Strategic plan in Asia. Satellite symposium of WPCID 2004.
13 Trần Thị Thanh Nga (2010). Nhiễm khuẩn và đề kháng kháng
sinh tại BV Chợ Rẫy năm 2008‐2009. Tạp chí Y Học TP. HCM
tập 14 – Phụ bản của số 2– 2010: 690 – 694.
14 Trần Thị Thanh Nga (2012). Các tác nhân gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu thường gặp và đề kháng kháng sinh tại BV
Chợ Rẫy năm 2010‐2011. Tạp chí Y học thực hành số 831 năm
2012. Trang 33‐36.
15 Trần Thị Thanh Nga và cs (2009). Kết quả khảo sát nồng độ
ức chế tối thiểu của vancomycin trên 100 chủng Staphyloccocus aureus được phân lập tại BV Chợ Rẫy từ 5‐8/2008. Tạp chí Y học
TP HCM, tập 13, phụ bản của số 1, 2009: 295‐299.
16 Trần Thị Thủy Trinh, Phạm Hùng Vân (2008). Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân lập tại Phòng vi
sinh BV An Bình từ 07/2007 đến 06/2008. Hội nghị khoa học kỹ
thuật BV An Bình năm 2008. Nội san BV An Bình số 37.
Ngày nhận bài báo: 07/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013
Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014