1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh được phân lập tại Bệnh viện An Bình từ 1/10/2012 đến 31/5/2013

8 125 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 490,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về vi khuẩn và đề kháng kháng sinh, theo dõi khuynh hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh để có thể biết được thực trạng đề kháng và đánh giá được hiệu quả của kháng sinh trị liệu.

Trang 1

GÂY BỆNH ĐƯỢC PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN AN BÌNH  

TỪ 1/10/2012 ĐẾN 31/5/2013 

Trần Thị Thủy Trinh*, Nguyễn Thanh Bảo** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Vi khuẩn và đề kháng kháng sinh luôn là vấn đề thời sự của Y tế toàn cầu. Theo dõi khuynh hướng 

đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh là một yêu cầu để có thể biết được thực trạng đề kháng và đánh giá  được hiệu quả của kháng sinh trị liệu. 

Mục tiêu: Xác định:(1) tỉ lệ các tác nhân gây bệnh; (2) tỉ lệ các loại vi khuẩn phân bố theo vị trí nhiễm khuẩn 

từ bệnh nhân; (3) tỉ lệ và khuynh hướng đề kháng kháng sinh của VK; (4) tỉ lệ trực khuẩn Gram âm đường ruột  sản xuất men β‐lactamase phổ rộng (ESBL). 

Đối tượng ‐ Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả cắt ngang với 704 chủng vi khuẩn được phân lập 

tại phòng Vi sinh của bệnh viện từ 1/10/2012 đến 31/5/2013. 

Kết quả: Đa số mẫu cấy được phân lập từ nhiễm khuẩn vết mổ, da – mô mềm (39,3%), nhiễm khuẩn đường 

hô hấp (36,2%) và nhiễm khuẩn đường tiểu (19,7%). Vi khuẩn Gram âm chiếm đa số tác nhân gây bệnh (78%),  trong đó trực khuẩn Gram âm đường ruột chiếm ưu thế nhất (45,6%). 8 loại vi khuẩn thường gặp nhất là E. coli  (21,2%),  Klebsiella  spp.  (13,9%),  M.  catarrhalis  (9,9%),  S.  aureus  (9,5%),  P.  aeruginosa  (8,8%),  E.  faecalis 

(7,1%), Enterobacter spp. (7,1%) và Acinetobacter spp. (5,5%). Mức độ kháng thuốc rất đa dạng và có khuynh 

hướng gia tăng đề kháng ở S. aureus, trực khuẩn Gram âm đường ruột và Acinetobacter spp. S. aureus kháng  penicillin 98,3%, MRSA 70,7%, còn nhạy linezolid, vancomycin 100% với 85,4% có MIC vancomycin 0,5mg/L.  Trực khuẩn Gram âm đường ruột đề kháng cao với ampicillin, cotrimoxazol, cephalosporins thế hệ II, III; và đề  kháng  thấp  với  ampicillin‐sulbactam,  ticarcillin‐clavulanate,  piperacillin‐tazobactam,  cefoperazone‐sulbactam,  cefepime, tobramycin, amikacin, ertapenem, imipenem và meropenem. Tỉ lệ sinh ESBL 29,9%. P. aeruginosa đề  kháng thấp <30% nhưng Acinetobacter spp. đã kháng >60% với các kháng sinh theo khuyến cáo của CLSI. 

Kết luận: Kháng sinh đồ luôn là cơ sở để bác sĩ lâm sàng quyết định chọn lựa kháng sinh. Cần có chiến lược 

sử dụng kháng sinh thích hợp để giới hạn sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. 

Từ khóa: Đề kháng kháng sinh, Vi khuẩn Gram âm, trực khuẩn Gram âm đường ruột, MRSA, MIC, ESBL, 

CLSI, kháng sinh đồ. 

ABSTRACT 

ANTIBIOTIC   RESISTANCE OF BACTERIA ISOLATED IN THE MICROBIOLOGY LAB  

OF LABORATORY DEPARTMENT OF AN BINH HOSPITAL FROM 1/10/2012 TO 31/5/2013 

Tran Thi Thuy Trinh, Nguyen Thanh Bao, Cao Minh Nga  

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 296 ‐ 303 

Background:  Bacteria  and  antibiotic   resistance  are  always  an  actual  problem  of  the  World’s  Medicine.  Monitoring antibiotic resistance trends is a critical necessity to recognize the current situation of resistance and  evaluate antimicrobial therapy. 

Objectives:  To  determine:  (1)  the  rates  of  infectious  pathogens;  (2)  the  infectious  pathogens’  rates  of 

patients’  infected  sites;  (3)  the  rates  and  the  trend  of  antibiotic  resistance;  (4)  the  rates  of  ESBL‐producing 

Trang 2

Method:  Prospective,  descriptive  and  cross‐sectional  study  with  704  pathogenic  bacteria  isolated  at  the 

Microbiology Lab of the hospital from 1/10/2012 to 31/5/2013. 

Results: Most of the culture samples came from the skin – soft tissue (39.3%), the lower respiratory tract 

(36.2%) and the urinary tract infection (19.7%). Most of pathogens isolated were Gram negative bacilli (78%)  with  the  highest  were  Enterobacteriaceae  (45.6%).  The  most  bacteria  were  E.  coli  (21.2%),  Klebsiella  spp.  (13.9%),  M. catarrhalis  (9.9%),  S.  aureus  (9.5%),  P.  aeruginosa  (8.8%), E. faecalis  (7.1%), Enterobacter spp.  (7.1%) and Acinetobacter spp. (5.5%). The antibiotic resistant level of pathogenic bacteria was multiform and had 

a trend of increasing resistance in S. aureus, Enterobacteriaceae and Acinetobacter spp. S. aureus was completely  resistant to penicillin 98.3%, MRSA was 70.7% and sensitive with the rate 100% to linezolid and vancomycin  (85.4% MIC vancomycin 0.5mg/L). Enterobacteriaceae had high antibiotic resistance to ampicillin, cotrimoxazol,  cephalosporins  2 nd ,  3 rd   generations;  and  low  resistance  to  ampicillin‐sulbactam,  ticarcillin‐clavulanate,  piperacillin‐tazobactam,  cefoperazone‐sulbactam,  cefepime,  tobramycin,  amikacin,  ertapenem,  imipenem  and  meropenem.  The  rate  of  ESBL‐producing  Enterobacteriaceae  was  29.9%.  P.  aeruginosa  had  low  resistance  (<30%) but Acinetobacter spp. had high resistance to antibiotics according to CLSI guidance. 

Conclusion:  Antibiogram  results  are  always  the  base  for  decisions  of   clinicians  deciding  to  choose  antibiotics. We also need to have proper strategies for antibiotic therapy to advoid increasing antibiotic resistance. 

Keywords:  Antibiotic   resistance,  Gram  negative  bacilli,  Enterobacteriaceae,  MRSA,  MIC,  ESBL,  CLSI,  antibiogram. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tình  trạng  đề  kháng  và  khuynh  hướng  gia 

tăng mức độ kháng kháng sinh không chỉ ở các 

vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện mà còn ở 

các vi khuẩn do nhiễm khuẩn cộng đồng – đang 

là một thách thức đối với ngành y tế nói riêng và 

nhân  loại  nói  chung(12).  Có  nhiều  yếu  tố  ảnh 

hưởng đến vấn đề này nhưng nguyên nhân chủ 

yếu vẫn là do sử dụng kháng sinh không hợp lý 

trong môi trường bệnh viện lẫn ngoài bệnh viện. 

Thực trạng vi khuẩn kháng kháng sinh đưa đến 

nhiều  hậu  quả  không  chỉ  cho  bệnh  nhân,  thân 

nhân  bệnh  nhân  mà  cho  cả  bệnh  viện;  vì  việc 

điều trị khó khăn sẽ đưa đến tổn thất về chi phí 

nằm  viện,  thời  gian  điều  trị  và  tổn  thất  cả  sinh 

mạng  bệnh  nhân.  Muốn  sử  dụng  kháng  sinh 

hợp lý thì đầu tiên là việc điều trị nhiễm khuẩn 

phải  dựa  trên  kết  quả  xét  nghiệm  vi  sinh;  tuy 

nhiên  trong  bệnh  viện,  đôi  khi  các  bác  sĩ  phải 

quyết định điều trị kháng  sinh trước  khi  có  kết 

quả  định  danh  vi  khuẩn  và  kháng  sinh  đồ. 

Quyết  định  này  thường  dựa  vào  kinh  nghiệm, 

nhưng  kinh  nghiệm  sử  dụng  kháng  sinh  ban 

đầu chỉ đúng đắn và hiệu quả nếu được đúc kết 

từ các kết quả nghiên cứu của phòng thí nghiệm 

vi  sinh  tại  chỗ.  Nghiên  cứu  này  ngoài  việc  cho  kết  quả  xét  nghiệm  vi  sinh  lâm  sàng  đáp  ứng  yêu cầu điều trị kháng sinh hiệu quả còn có giá  trị khoa học để giám sát tình trạng nhiễm khuẩn  tại bệnh viện, nhờ đó có thể đưa ra các phác đồ  điều trị kháng sinh thích hợp tránh việc sử dụng  kháng sinh không hợp lý đưa đến tình trạng vi  khuẩn đề kháng kháng sinh. Dựa vào các lý do  trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với các  mục tiêu sau: 

Mục tiêu tổng quát 

Khảo sát tình trạng đề kháng kháng sinh của  các  vi  khuẩn  phân  lập  được  tại  bệnh  viện  An  Bình từ 01/10/2012 đến 31/5/2013. 

Mục tiêu cụ thể:  

1.  Xác  định  tỉ  lệ  các  loại  vi  khuẩn  gây  bệnh  phân lập được trong thời gian nghiên cứu. 

2.  Xác  định  tỉ  lệ  các  loại  vi  khuẩn  phân  bố  theo vị trí nhiễm khuẩn từ bệnh nhân. 

3. Xác định tỉ lệ đề kháng kháng sinh của các 

vi khuẩn. 

Trang 3

ruột sản xuất ESBL. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  tiền  cứu,  mô  tả  cắt  ngang  với 

đối tượng là các vi khuẩn được phân lập thường 

qui tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

(1) Các vi khuẩn được phân lập thường qui 

tại bệnh viện (BV). (2) Ở mẫu đàm, chỉ chọn các 

chủng  vi  khuẩn  trên  các  mẫu  đàm  tin  cậy  và 

chọn  chủng  vi  khuẩn  chiếm  ưu  thế.  (3)  Ở  mẫu 

phân,  nếu  không  phân  lập  được  các  vi  khuẩn 

đường  ruột  gây  bệnh,  có  thể  chọn  chủng  vi 

khuẩn chiếm ưu thế thấy rõ. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

(1) Không lấy các chủng vi khuẩn cùng loại 

phân  lập  trên  cùng  một  vị  trí  nhiễm  khuẩn  ở 

cùng một bệnh nhân trong các lần phân lập sau. 

(2)  Không  lấy  các  chủng  vi  khuẩn  phân  lập  từ 

các  bệnh  phẩm  quá  bị  tạp  nhiễm  hay  nghi  ngờ 

ngoại nhiễm. (3) Không lấy các chủng vi khuẩn 

phân  lập  từ  khảo  sát  môi  trường  để  giám  sát 

nhiễm khuẩn BV (NKBV).  

Phương pháp nghiên cứu 

Thông qua xét nghiệm vi sinh lâm sàng thực 

hiện  thường  qui  tại  BV,  xác  định  chủng  đúng 

tiêu  chuẩn  đưa  vào  và  không  vi  phạm  tiêu 

chuẩn loại trừ sẽ được chọn vào nghiên cứu. Lập 

Hồ sơ nghiên cứu ghi nhận thông tin dịch tễ học 

liên  quan  đến  chủng  vi  khuẩn  và  các  kết  quả 

định danh, kháng sinh đồ. Nhập số liệu vào máy 

tính và phân tích các kết quả dựa trên mục tiêu 

nghiên cứu. Phương pháp phân tích là thống kê 

mô tả và thống kê phân tích. Xử lý số liệu bằng 

chương trình Ms.Access, Ms. Excel và SPSS 15.0. 

Vật  liệu:  tất  cả  vật  liệu  được  cung  cấp  bởi 

công ty Nam Khoa (ISO 9001: 2000). 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong thời gian nghiên cứu từ 1/10/2012 đến 

31/5/2013,  có  2005  hồ  sơ  vi  sinh  lâm  sàng  được 

thực hiện tại Phòng thí nghiệm, trong đó có 757 

hồ sơ phân lập có vi khuẩn. Từ những hồ sơ này, 

chúng  tôi  chọn  được  704  chủng  vi  khuẩn  thỏa  tiêu chuẩn nghiên cứu. Phân tích dịch tễ học các  chủng  này  chúng  tôi  ghi  nhận  nam  có  320  trường hợp, chiếm 45,5%, nữ có 384 trường hợp,  chiếm  54,5%.  Tỉ  lệ  nữ/nam  là  1,2/1.  Phân  tích  theo  tuổi  ghi  nhận  được  bệnh  nhân  nhỏ  tuổi  nhất là 5 tháng tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 

102 tuổi. Nhóm tuổi 61 ‐ 80 tuổi chiếm cao nhất  với 245 trường hợp, chiếm 34,8%. 

Tỉ lệ các chủng vi khuẩn phân lập theo vị  trí nhiễm khuẩn (NK) từ bệnh nhân  

 

Biểu đồ 1: Tỉ lệ các loại nhiễm khuẩn 

Tỉ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh 

Bảng 1: Tỉ lệ các loại vi khuẩn (n=704) 

Staphylococci coagulase (-) 2 0,28

Cầu khuẩn Gram (+) 155 22,02

Klebsiella spp 98 13,92

Enterobacter spp 50 7,1

Trực khuẩn Gram(-) đường ruột 321 45,6

Acinetobacter spp 39 5,54

Pseudomonas spp 33 4,68

Trực khuẩn Gram(-) không lên men 157 22,3

Vi khuẩn Gram (-) 549 77,98

Có 8 loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất  chiếm đến 83,1% như sau: 

Trang 4

Biểu đồ 2:. Mức độ hay gặp của 8 loại vi khuẩn gây 

bệnh thường gặp nhất 

Tỉ  lệ  kháng  kháng  sinh  của  các  vi  khuẩn 

(theo CLSI 2011) 

  Biểu đồ 3: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của 

Staphylococcus aureus (N=67)  (PEN: penicillin, OXA: 

oxacillin, FOX: cefoxitin, VA: vancomycin, GEN: gentamycin, 

AZI: azithromycin, ERY: erythromycin, TE: tetracycline, Dx: 

doxycycline, CIP: ciprofloxacin, LEV: levofloxacin, OF: 

ofloxacin, SXT: trimethoprim‐sulfamethoxazole, CL: 

chloramphenicol, RIF: rifampin, LZ: linezolid) 

 

Biểu đồ 4: MIC vancomycin đối với S. aureus 

(N=67) 

 

Biểu đồ 5: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của 

Enterococcus faecalis (N=50)  (AM: ampicillin, NOR:  norfloxacin, F: nitrofurantoin) 

 

Biểu đồ 6: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của Moraxella 

catarrhalis (N=70)  (AMS: ampicillin‐sulbactam, AMC:  amoxicillin‐clavulanic acid, CFX: cefuroxime, CTR: 

ceftriaxone, MEM: meropenem) 

 

Biểu đồ 7: Tỉ lệ đề kháng của Acinetobacter (N=39) 

& P. aeruginosa (N=62)  (PTZ: piperacillin‐tazobactam,  TCC: ticarcillin‐clavulanate, Cs: cefoperazone‐sulbactam,  CTX: cefotaxime, CAZ: ceftazidime, CPM: cefepime,  IMI:imipenem, TOB: tobramycin, AK: amikacin) 

Trang 5

  Biểu đồ 8. Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của E. coli (N=149), Klebsiella (N=98) và Enterobacter (N=50), 

(ETP:ertapenem) 

Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL 

 

Biểu đồ 9: Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL 

BÀN LUẬN 

Tỉ lệ các chủng vi khuẩn phân lập theo vị 

trí nhiễm khuẩn từ bệnh nhân  

Biểu  đồ  1  cho  thấy  3  loại  nhiễm  khuẩn 

thường gặp theo thứ tự là nhiễm khuẩn vết mổ, 

da  –  mô  mềm,  nhiễm  khuẩn  đường  hô  hấp  và 

nhiễm khuẩn đường tiểu. Kết quả này khác với 

nghiên  cứu  tại  BV  chúng  tôi  năm  2008(8) và 

nghiên  cứu  của  D.H.Phúc,  H.T.Mỹ  BV  ĐHYD 

TP.  HCM  năm  2008(3)  đều  là  nhiễm  khuẩn  hô 

hấp  được  phân  lập  nhiều  nhất,  đến  nhiễm 

khuẩn  da  –  mô  mềm  và  nhiễm  khuẩn  đường 

tiểu. Nhiễm khuẩn vết mổ, da – mô mềm trong 

nghiên cứu này tăng cao có thể do từ năm 2012 

BV An Bình có thêm khoa Vệ tinh của BV Chấn 

thương  chỉnh  hình  TP.  HCM  với  đặc  điểm  là 

phần lớn bệnh nhân có sang thương da‐mô mềm 

và nhiễm khuẩn vết mổ. 

Tỉ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh 

Theo Bảng 1, vi khuẩn Gram âm chiếm đa số 

(78%),  vi  khuẩn  Gram  dương  chiếm  22%.  Trực  khuẩn Gram âm đường ruột chiếm ưu thế nhất 

(45,6%) với E. coli và Klebsiella. Điều này có phần 

tương tự báo cáo của Bộ Y tế về “sử dụng kháng  sinh  và  kháng  kháng  sinh  tại  15  BV  Việt  Nam  năm 2008‐2009”(1)  

Biểu  đồ  2  trình  bày  8  loại  vi  khuẩn  thường 

gặp nhất trong nghiên cứu này, thứ tự này có thể  thay  đổi  ở  các  loại  bệnh  phẩm  khác  nhau.  So  sánh với nghiên cứu của C.M.Nga tại BV Thống  Nhất  năm  2006(3)  và  của  T.T.T.Nga  tại  BV  Chợ  Rẫy  năm  2008‐2009(15),  chúng  tôi  nhận  thấy  các  loại  vi  khuẩn  thường  gặp  ở  các  nghiên  cứu  là  giống nhau nhưng mức độ hay gặp của từng loại 

vi  khuẩn  có  khác  nhau  giữa  các  BV.  Một  trong  những  nguyên  nhân  của  sự  khác  nhau  này  có  thể  do  đặc  điểm  bệnh  lý  và  dân  số  nghiên  cứu  khác nhau của các BV. 

Tỉ lệ kháng thuốc của vi khuẩn 

S.  aureus  ở  Biểu  đồ  3  kháng  gần  hoàn  toàn 

với  PEN  (98,3%)  và  kháng  OXA  68,7%.  Tỉ  lệ  S. 

aureus  kháng  methicillin  (MRSA)  (tính  theo  đĩa 

FOX) là 70,7% cao hơn nghiên cứu của BV Chợ  Rẫy năm 2009 (57%)(13) S. aureus còn nhạy 100% 

với LZ và VA, tương tự nghiên cứu của BV Chợ  Rẫy năm 2009(15). 

Ở Biểu đồ 4, chúng tôi khảo sát nồng độ ức 

chế tối thiểu (MIC) đối với VA, kết quả 85,4% S. 

Trang 6

aureus  có  MIC  0,5mg/L  và  2,1%  có  MIC  2mg/L. 

Không  phát  hiện  chủng  có  MIC>2mg/L.  Tham 

khảo  nghiên  cứu  của  T.T.T.Nga  BV  Chợ  Rẫy 

năm 2008, S. aureus có MIC cao hơn nhiều so với 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi:  100%  chủng  có  MIC 

≥1,5mg/L và đến 51% chủng có MIC ≥2mg/L(15). 

E. faecalis là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn 

đường tiểu đứng thứ hai trong nghiên cứu này. 

Theo  khuyến  cáo  của  WHO,  kháng  sinh  lựa 

chọn hàng đầu cho Enterococci là AM. Ở Biểu đồ 

5, E. faecalis kháng AM 8,5%, tỉ lệ này thấp so với 

nghiên cứu của BV Thống Nhất năm 2005 – 2007 

(24%)(4) và  nghiên  cứu  ASTS  2006  (32,8%)(8).  E. 

faecalis còn kháng thấp với PEN (2%) và F (4%). 

Đặc  biệt,  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chưa 

phát hiện E. faecalis kháng kháng sinh dự trữ VA 

và  LZ  nhưng  trong  các  nghiên  cứu  ASTS  năm 

2006(8), BV Thống Nhất năm 2005 – 2007(4) và BV 

Chợ  Rẫy  năm  2010  ‐2011(14)  đã  xuất  hiện  chủng 

kháng  VA  (6,9%,  3,54%  và  3%  theo  thứ  tự). 

Chúng ta cần cân nhắc khi chỉ định dùng VA vì 

Enterococci kháng VA đang là một thách thức lớn 

của y học. 

M.  catarrhalis  (Biểu  đồ  6)  là  tác  nhân  gây 

bệnh đứng hàng đầu trong nhiễm khuẩn hô hấp 

ở  nghiên  cứu  này.  AM  trước  đây  thường  được 

xem  là  kháng  sinh  đặc  trị  hữu  hiệu  cho  các 

nhiễm  khuẩn  M.  catarrhalis  đã  đề  kháng  đến 

66,7%.  Tuy  nhiên  tỉ  lệ  đề  kháng  của  chúng  tôi 

vẫn thấp hơn khi so sánh với nghiên cứu tại Thái 

Lan  năm  2000  (kháng  100%)(5)  và  tại  Malaysia 

năm 1999 (kháng 79%)(11)  

Ở  Biểu  đồ  7,  P.  aeruginosa  đề kháng  tương 

đối thấp (<30%) với các kháng sinh theo khuyến 

cáo  của  CLSI  và  thấp  hơn  nghiên  cứu  tại  BV 

chúng  tôi  năm  2008(8).  Đây  là  tín  hiệu  đáng 

mừng vì P. aeruginosa đề kháng cao thường là vi 

khuẩn gây NKBV. Điều này chứng tỏ rằng hoạt 

động  kiểm  soát  NKBV  tại  BV  chúng  tôi  chí  ít 

cũng có tác động đến nhiễm khuẩn Pseudomonas. 

So  sánh  với  nghiên  cứu  của  BV  Thống  Nhất 

có  tỉ  lệ  kháng  kháng  sinh  cao  hơn  nghiên  cứu 

của chúng tôi rất nhiều. 

Acinetobacter spp. (Biểu đồ 7) là vi khuẩn có 

tỉ  lệ  đề  kháng  cao  nhất  trong  nghiên  cứu  này.  Chúng  kháng  cao  >75%  với  SXT  và  cephalosporins  thế  hệ  III.  Chúng  kháng  >50%  với  PTZ,  TCC,  CPM,  aminoglycosides  và 

fluoroquinolones.  Acinetobacter  chỉ  còn  kháng 

thấp  với  Cs  (12,8%).  Đáng  chú  ý  là  đối  với  carbapenems  đang  được  xem  là  nhóm  kháng  sinh mạnh nhất hiện nay thường được lựa chọn 

điều trị sau cùng thì Acinetobacter đã kháng IMI 

64,1%  và  MEM  64,9%.  So  sánh  với  nghiên  cứu  tại BV chúng tôi năm 2008(8), Acinetobacter trong 

nghiên cứu này có sự gia tăng đề kháng ở tất cả  các kháng sinh thử nghiệm. Đây là vấn đề đáng 

lo  ngại  cho  các  nhà  lâm  sàng  và  quản  lý.  Tuy  nhiên, tỉ lệ kháng của Acinetobacter trong nghiên 

cứu  này  vẫn  thấp  hơn  rất  nhiều  so  với  nghiên  cứu của BV Chợ Rẫy 2009(15) và của L.T.T.Hà và  cộng sự năm 2011 tại 7 BV ở TP. HCM(9)

Ở Biểu đồ 8, E. coli chiếm tỉ lệ cao nhất trong 

nghiên cứu này đã kháng cao với cephalosporins  thế  hệ  III  (41,6‐62,4%),  fluoroquinolones  (61,8‐ 66,4%),  kháng  thấp  <20%  với  TCC,  PTZ,  Cs,  CPM, TOB, AK, F và carbapenems. Tỉ lệ này có  khuynh  hướng  gia  tăng  so  với  số  liệu  tại  BV  chúng tôi năm 2008(8) nhưng vẫn thấp hơn so với  nghiên  cứu  của  BV  Chợ  Rẫy  2009(15).  Klebsiella  spp.  và  Enterobacter  spp.  đề  kháng  các  kháng 

sinh  thông  dụng  thấp  hơn  E. coli  nhưng  kháng  carbapenems  lại  cao  hơn  E.  coli.  Nhìn  chung,  nhóm  Enterobacteriaceae  có  khuynh  hướng  gia 

tăng  đề  kháng  so  với  số  liệu  tại  BV  chúng  tôi  năm 2008(8) nhất là carbapenems nhưng vẫn thấp  hơn so với nghiên cứu của BV Chợ Rẫy 2009(15). 

Tỉ lệ Enterobacteriaceae sinh ESBL 

Việc sử dụng rộng rãi cephalosporins thế hệ  mới  làm  sự  bùng  phát  ngày  càng  phổ  biến  các  trường hợp nhiễm khuẩn do các tác nhân ESBL  trên  toàn  thế  giới(2).  BV  An  Bình  cũng  không  nằm ngoài xu hướng đó. Trong nghiên cứu này,  chúng  tôi  phân  lập  được  321  chủng 

Enterobacteriaceae,  trong  đó  có  96  chủng  sinh 

ESBL chiếm 29,9%. Tỉ lệ này cao hơn số liệu tại 

BV  chúng  tôi  năm  2006  (14,2%)  và  năm  2008 

Trang 7

(29,7%)(8).  Như  vậy,  tỉ  lệ  trực  khuẩn  Gram  âm 

sinh  ESBL  tại  BV  chúng  tôi  tăng  dần  theo  thời 

gian. Đây là tín hiệu báo động cho các nhà quản 

lý  phải  có  giải  pháp  trong  sử  dụng  kháng  sinh 

tại  BV,  đó  là  việc  hạn  chế  sử  dụng  các  kháng 

sinh  chọn  lọc  ESBL.  Tuy  nhiên,  so  sánh  với 

nghiên cứu của H.T.P.Dung, N.T.Bảo, V.T.C.Mai 

tại BV ĐHYD năm 2008 có tỉ lệ trực khuẩn Gram 

âm sinh ESBL là 32,4%(8) và nghiên cứu SMART 

năm 2007 tại 11 quốc gia vùng Châu Á Thái Bình 

Dương  có  tỉ  lệ  trực  khuẩn  Gram  âm  sinh  ESBL 

đến  40,5%  (Việt  Nam  35,6%)(7),  cao  hơn  nghiên 

cứu của chúng tôi.  

Các  loại  vi  khuẩn  sinh  ESBL  trong  nghiên 

cứu này là E. coli 49,7%, Klebsiella spp. 19,4% và 

Enterobacter spp. 6%. Tham khảo nghiên cứu tại 

BV ĐHYD năm 2008, E. coli sinh ESBL là 55,29% 

và  Klebsiella  sinh  ESBL  là  21,28%(8)  cao  hơn 

nghiên cứu của chúng tôi. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  704  chủng  vi  khuẩn  gây 

bệnh phân lập tại BV An Bình từ 01/10/2012 đến 

31/5/2013, chúng tôi rút ra kết luận sau:  

Ba  loại  nhiễm  khuẩn  thường  gặp là nhiễm 

khuẩn  vết  mổ,  da  –  mô  mềm,  nhiễm  khuẩn 

đường hô hấp và nhiễm khuẩn đường tiểu. 

Tám  loại  vi  khuẩn  thường  gặp  nhất  là  E. 

coli,  Klebsiella  spp.,  M.  catarrhalis,  S.  aureus,  P. 

aeruginosa,  E.  faecalis,  Enterobacter  spp.  và 

Acinetobacter  spp.  Mức  độ  thường  gặp  thay  đổi 

theo loại bệnh phẩm. 

Tình  hình  kháng  thuốc  hiện  nay  của  các 

loại  vi  khuẩn:  (1)  S.  aureus  với  MRSA  70,7%. 

Các  kháng  sinh  nhạy  cảm  >50%  có  tetracycline, 

sulfamethoxazole,  doxycycline  và  rifampin.  S. 

aureus  còn  nhạy  100%  với  linezolid  và 

vancomycin  với  85,4%  MIC  0,5mg/L  và  không 

phát hiện chủng có MIC>2mg/L. (2) Trực khuẩn 

Gram âm đường ruột được phân lập nhiều nhất 

là  E. coli,  Klebsiella  spp.  và  Enterobacter  spp.  Các 

vi  khuẩn  này  có  sự  gia  tăng  đề  kháng  đặc  biệt 

đối  với  nhóm  kháng  sinh  dự  trữ  carbapenems. 

Các kháng sinh còn nhạy >50% gồm: ampicillin‐ sulbactam,  ticarcillin‐clavulanate,  piperacillin‐ tazobactam,  cefoperazone‐sulbactam,  cefepime,  tobramycin,  amikacin,  ertapenem,  imipenem  và 

meropenem.  (3)  P.  aeruginosa kháng  tương  đối 

thấp (<30%) với các kháng sinh thử nghiệm gồm 

cả  các  kháng  sinh  thường  dùng  cho  nhiễm 

khuẩn Pseudomonas. P. aeruginosa còn nhạy >50% 

với  ticarcillin‐clavulanate,  piperacillin‐

ceftazidime,  cefepime,  gentamicin,  tobramycin,  amikacin,  ciprofloxacin,  levofloxacin,  imipenem 

và meropenem. (4) Acinetobacter spp. có tỉ lệ đề 

kháng  kháng  sinh  cao  nhất  trong  nghiên  cứu  này.  Kháng  sinh  nhạy  >50%  chỉ  còn 

cefoperazone‐sulbactam  (84,6%).  Acinetobacter 

kháng cao với nhóm carbapenems được xem là 

nhóm  kháng  sinh  mạnh  nhất  hiện  nay.  (5)  M. 

catarrhalis  đề  kháng  ampicillin  66,7%  nhưng 

còn  nhạy  cao  với  amoxicillin‐clavulanic  acid 

(89,1%)  và  ampicillin‐sulbactam  (89,2%).  (6)  E. 

faecalis nhạy >50% với penicillin, nitrofurantoin, 

chloramphenicol;  và  còn  nhạy  100%  với  vancomycin và linezolid. 

Tỉ lệ trực khuẩn Gram âm đường ruột sinh 

ESBL  là  29,9%  trong  đó  E.  coli  chiếm  tỉ  lệ  cao 

nhất  49,7%,  Klebsiella  sinh  ESBL  là  19,4%  và 

Enterobacter là 6%. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Y tế (2011). Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh  tại 15 BV Việt Nam năm 2008 – 2009. Báo cáo của Bộ Y tế phối 

hợp với Dự án Hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh GARP 

Việt Nam và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng ĐH Oxford. 

2 Braford PA (2001). Extended Spectrum Beta‐Lactamases in the  21st  Century:  Characterization,  Epidemiology  and  Detection 

of This Important Resistant Threat. Clinical Microbiology Rev.  14: 933‐951. 

3 Cao Minh Nga (2008). Sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh 

thường gặp tại BV Thống Nhất trong năm 2006. Tạp chí Y Học 

TP. HCM tập 12 – Phụ bản của số 1– 2008: 194 – 200. 

4 Cao  Minh  Nga,  Lục  Thị  Vân  Bích,  Nguyễn  Thị  Túy  An,  Võ  Trần  Vương  Di  (2010).  Sự  đề  kháng  kháng  sinh  của  các  vi 

khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người lớn. Tạp chí 

Y Học TP. HCM tập 14 – Phụ bản của số 1‐ 2010: 490 – 496. 

5 Critchley IA, Blosser‐Middleton R, et al (2002). Antimicrobial  Resistance  among  Respiratory  Pathogens  Collected  in  Thailand during 1999‐2000. J Chemother; 14(2):147‐154 

Trang 8

6 Dương  Hồng  Phúc,  Hoàng  Tiến  Mỹ  (2010).  Sự  đề  kháng 

kháng sinh của các vi khuẩn được phân lập tại BV Đại học Y 

Dược TP. HCM. Tạp chí Y Học TP. HCM tập 14 – Phụ bản của 

số 1 – 2010: 480 – 486. 

7 Hawser  SP, Bouchillon  SK, Hoban  DJ, Badal  RE, Hsueh 

PR, Paterson  DL.  (2009).  Emergence  of  High  Levels  of 

Extended‐Spectrum‐β‐Lactamase‐Producing  Gram  Negative 

Bacilli  in  the  Asia‐Pacific  Region:  Data  from  the  Study  for 

Monitoring  Antimicrobial  Resistance  Trends  (SMART) 

Program, 2007. Antimicrobial Agents and Chemotherapy, Vol. 53, 

No. 8, p. 3280–3284. 

8 Hoàng  Thị  Phương  Dung,  Nguyễn  Thanh  Bảo,  Võ  Thị  Chi 

Mai  (2010).  Khảo  sát  trực  khuẩn  gram  âm  sinh  men  beta‐

lactamase phổ rộng phân lập tại BV ĐHYD TP. HCM. Tạp chí 

Y Học TP. HCM Tập 14, Phụ bản của Số 1, 2010: 487 ‐ 490. 

9 Lê  Thị  Thanh  Hà,  Lê  Quốc  Thịnh,  Nguyễn  Trọng  Chính, 

Phan  Quốc  Hoàn,  Trần  Duy  Anh,  Tăng  Chí  Thượng,  Đỗ 

Quốc Huy, Phạm Thị Quỳnh Giao, Lê Thị Anh Thư, Trần Thị 

Thanh  Nga,  Đoàn  Mai  Phương,  Nguyễn  Thị  Nam  Liên, 

Nguyễn  Phương  Dung  và  cs  (2012).  Nghiên  cứu  tình  hình 

kháng  thuốc  của  Acinetobacter  baumannii  phân  lập  được  ở  7 

BV tại Việt Nam. Tạp chí Y Học Thực Hành 2012, 831: 21‐26. 

10 Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Đức Hiền, Đoàn Mai Phương, Võ 

Thị Chi Mai, Ngô Thị Thi & Đặng Thu Hằng, Chu Thị Nga, 

Đoàn Thị Hồng Hạnh & Bùi Văn Tạo, Nguyễn Thị Nam Liên, 

Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Phan Văn Bé Bảy & Nguyễn Thị Tâm 

Tuyền và cs (2006). Theo dõi sự đề kháng kháng sinh của vi 

khuẩn  gây  bệnh  thường  gặp  ở  Việt  Nam  6  tháng  đầu  năm 

2006”.  Báo  cáo  của  hoạt  động  Antibiotic  Susceptibility  Test 

Surveillance (ASTS) được Tổ chức phát triển quốc tế của Thụy 

Điển tài trợ. Thông tin Dược lâm sàng 10: 24‐42. 

11 Rohani,  et  al  (1999).  Antimicrobial  Resistance  among 

Respiratory  Pathogens  Collected  in  Malaysia.  Int  Med  Res  J 

1999; 3: 57. 

12 Song  JH  (2004).  Surveillance  of  antimicrobial  resistance  – 

Strategic plan in Asia. Satellite symposium of WPCID 2004. 

13 Trần Thị Thanh Nga (2010). Nhiễm khuẩn và đề kháng kháng 

sinh tại BV Chợ Rẫy năm 2008‐2009. Tạp chí Y Học TP. HCM 

tập 14 – Phụ bản của số 2– 2010: 690 – 694. 

14 Trần Thị Thanh Nga  (2012).  Các  tác  nhân  gây  nhiễm  khuẩn  đường  tiết  niệu  thường  gặp  và  đề  kháng  kháng  sinh  tại  BV 

Chợ  Rẫy  năm  2010‐2011.  Tạp chí Y học thực hành số 831  năm 

2012. Trang 33‐36. 

15 Trần Thị Thanh Nga và cs (2009). Kết quả khảo sát nồng độ 

ức chế tối thiểu của vancomycin trên 100 chủng Staphyloccocus  aureus được phân lập tại BV Chợ Rẫy từ 5‐8/2008. Tạp chí Y học 

TP HCM, tập 13, phụ bản của số 1, 2009: 295‐299. 

16 Trần Thị Thủy Trinh, Phạm Hùng  Vân (2008). Tình hình đề  kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân lập tại Phòng vi 

sinh BV An Bình từ 07/2007 đến 06/2008. Hội nghị khoa học kỹ 

thuật BV An Bình năm 2008. Nội san BV An Bình số 37. 

  Ngày nhận bài báo: 07/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013 

Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm