1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả lâu dài phẫu thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van và tạo hình không vòng van tại Viện Tim TP.HCM từ năm 2000-2012

9 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 425,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả lâu dài của 2 phương pháp phẫu thuật tạo hình van 3 lá có đặt vòng và không vòng van tại Viện Tim Tp.HCM. Nghiên cứu thực hiện với 581 bệnh nhân phẫu thuật bệnh van 2 lá có kèm sửa van 3 lá trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012.

Trang 1

KẾT QUẢ LÂU DÀI PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN BA LÁ CÓ ĐẶT VÒNG VAN VÀ TẠO HÌNH KHÔNG VÒNG VAN TẠI VIỆN TIM TP.HCM

TỪ NĂM 2000 – 2012

Trương Nguyễn Hoài Linh*, Nguyễn Văn Phan*, Phạm Thọ Tuấn Anh**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâu dài của 2 phương pháp phẫu thuật tạo hình van 3 lá có đặt vòng và không vòng van tại Viện Tim Tp.HCM

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu với 581 bệnh nhân phẫu thuật

bệnh van 2 lá có kèm sửa van 3 lá trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012

Kết quả: 581 bệnh nhân đã được can thiệp điều trị phẫu thuật van 3 lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá,

trong đó có 279 bệnh nhân được sửa van ba lá có đặt vòng van 3 lá (48.02%) và 302 tạo hình không đặt vòng van

3 lá (51,97%) Thời gian theo dõi trung bình là 6,19 ± 3,62 năm Các yếu tố liên quan đến chỉ định đặt vòng van

là rung nhĩ (OR=1.82); hở van 3 lá thực thể (OR=5.72); mức độ hở van 3 lá trên 2+ (OR=3.11) và mức độ NYHA trên II (OR=2.44) Sự cải thiện mức độ hở van 3 lá, NYHA và áp lực ĐMP tâm thu sau phẫu thuật của 2 nhóm

có ý nghĩa thống kê (p<0.001) Kết quả điều trị lâu dài ghi nhận nguy cơ giảm ở nhóm đặt vòng van so với nhóm tạo hình không vòng về mức độ tái hở van 3 lá (>2+) HR=0.47 (95%CI, 0.37 – 0.60, p<0.001), tăng NYHA HR=0.72 (95%CI, 0.56 – 0.93, p=0.01), còn áp lực ĐMP thì nguy cơ tương đương giữa 2 nhóm

Kết luận: Kết quả điều trị lâu dài của nhóm bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình van ba lá kèm đặt vòng van

tốt hơn so với nhóm bệnh nhân được tạo hình van ba lá không đặt vòng van Khuyến cáo nên sử dụng kỹ thuật đặt vòng van cho các bệnh nhân có: rung nhĩ, hở van ba lá thực thể, mức độ hở van ba lá mức độ vừa-nặng (> 2+),đường kính thất phải lớn (>35mm), NYHA >2 trước phẫu thuật để đảm bảo kết quả điều trị tốt về lâu dài (trên 10 năm)

Từ khóa: hở van 3 lá, đặt vòng, tạo hình, kết quả lâu dài, Viện Tim Tp.HCM

ABSTRACT

LONG -TERM OUTCOMES OF THE TRICUSPID VALVE ANNULOPLASTY SURGERY WITH RING AND NO RING AT HEART INSTITUTE HO CHI MINH CITY FROM YEAR 2000 TO 2012

Truong Nguyen Hoai Linh, Nguyen Van Phan, Pham Tho Tuan Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 349 - 357

Objective: To evaluate the long-term outcomes of the tricuspid valve annuloplasty surgery with ring and no

ring in patients at Heart Institute HCMC

Method: Combined retrospective and prospective cohort study with 581 patients tricuspid valve repair

during mitral valve surgery from 2000 to 2012

Results: 581 patients were repaired tricuspid valve during mitral valve surgery, including 279 with ring

method (48.02 %) and 302 with ringless method (51.97 %) The average follow-up time is 6.19 ± 3.62 years Factors related to method decision are: atrial fibrillation (OR = 1.82) ; organic TR (OR = 5.72), TR grade (>2+) (OR = 3:11) NYHA class (> II) (OR = 2.44) The result at discharge is improved in both groups in TR grade, NYHA class and PAPS, statistically significant (p < 0.001) Long-term outcomes showed the reduction in hazard

*Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh ** Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

ratio of the ring method compared to the ringless method on re-TR grade (> 2) HR = 0.47 (95 % CI, 0:37 - 0.60, p

< 0.001), NYHA (+ I) HR = 0.72 (95 % CI, 0:56 - 0.93, p = 0:01), and PAPS is equal in hazard ratio between the

2 groups

Conclusion: Long-term outcomes showed that valve annuloplasty surgery with ring is better than no ring

method It is recommended to use the ring method for all patients with associated factors following: atrial fibrillation, organic TR, the degree of TR >2+ (moderate-severe TR), NYHA >2, to ensure better results in the long term (over 10 years)

Key words: tricuspid regurgitation, ring and ringless method, longterm outcomes, Heart Institute HCMC

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều trị bệnh lý hở van ba lá là vấn đề rất

quan trọng đặc biệt khi bệnh lý này đi kèm với

bệnh lý van hai lá Nếu không điều trị kịp thời

thì bệnh hở van 3 lá sẽ tiến triển nặng theo thời

gian Phẫu thuật điều trị bệnh lý van ba lá hiếm

khi được thực hiện riêng lẽ(1), mà thường phối

hợp với phẫu thuật van tim bên trái (van hai lá

và/hoặc van động mạch chủ)(3) Việc lựa chọn kỹ

thuật sửa chữa thương tổn van ba lá đồng thời

trong phẫu thuật van hai lá, còn tùy thuộc vào

rất nhiều yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng Tuy

nhiên theo nghiên cứu một số tác giả(4,8), khuyến

cáo nên thực hiện kỹ thuật tạo hình van ba lá có

kèm đặt vòng van đối với những bệnh nhân có

nhiều yếu tố nặng phối hợp như: mức độ hở van

ba lá nặng trước mổ (3+, 4+), hở van ba lá thức

thể, áp lực động mạch phổi tâm thu trước mổ

cao, thất phải dãn nhiều, rung nhĩ, ….Tổng kết

từ nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

cho thấy sửa van ba lá có đặt vòng van nhân tạo

cứng (Carpentier) hoặc mềm (Duran, Cosgrove)

cho kết quả tốt về dài hạn: Tỉ lệ không bị tái hở

van ba lá từ vừa đến nặng sau 6 tháng khoãng

85%(10) Năm 2004 McCarthy và cộng sự công bố

một nghiên cứu trên 790 bệnh nhân hở van ba lá

vừa-nặng được sửa van bằng những phương

pháp khác nhau và được theo dõi đánh giá kết

quả dài hạn bằng siêu âm tim(9) Nghiên cứu này

cho thấy ở những bệnh nhân được đặt vòng van

nhân tạo cứng của Carpentier hoặc vòng van

nhân tạo mềm của Cosgrove mức độ hở van ba

lá sau mổ được duy trì ổn định theo thời gian,

trong khi ở những bệnh nhân được sửa theo

phương pháp De Vega hoặc khâu dãi màng

ngoài tim mức độ hở van ba lá sau mổ tăng dần theo thời gian Dựa vào kết quả này, các tác giả khuyến cáo không nên dùng các phương pháp

De Vega và khâu dãi màng ngoài tim cho những bệnh nhân hở van ba lá vừa-nặng(9)

Tại Việt Nam việc sửa van 3 lá theo kỹ thuật tạo hình có đặt vòng van hay tạo hình không vòng van phụ thuộc vào nhiếu yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và là vấn đề chưa có sự thống nhất cũng như có ít nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâu dài Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá so sánh kết quả lâu dài (trên 10 năm) của 2 phương pháp phẫu thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van và tạo hình van ba lá không đặt vòng van tại Viện Tim Tp.HCM nhằm hiểu rõ phương pháp tối ưu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân đã được phẫu thuật van hai lá (sửa hoặc thay van) và có kèm theo sửa van ba lá tại Viện Tim TP.HCM từ năm 2000 –

2012

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu, thu thập những thông tin ban đầu qua hồ

sơ bệnh án và tiến hành theo dõi bệnh nhân theo thời gian

Cỡ mẫu nghiên cứu

Lựa chọn công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu xác định hiệu quả can thiệp

2 1

2 2 2 1 1 1

2 / 1

_

) 2

p p

q p q p Z

pq Z

Trang 3

Theo nghiên cứu của tác giả Matsuyama về

kết quả sửa van ba lá sau 39 + 23 tháng theo dõi, ở

nhóm được can thiệp đặt vòng van có tỷ lệ hở

van ba lá (2+) là 6% và ở nhóm tạo hình không

vòng van, thì tỷ lệ hở van ba lá (2+) là 55% với lực

mẫu bằng 90% và mức ý nghĩa thống kê bằng 5%,

cỡ mẫu cần thiết cho mỗi nhóm tối thiểu là 21

bệnh nhân Ước lượng 10% tử vong sớm Do đó

số lượng mẫu của mỗi nhóm cần thu thập là 23

bệnh nhân Tuy nhiên để kết quả phân tích có ý

nghĩa thống kê và thời gian theo dõi dài, chúng

tôi đã tiến hành thu thập toàn bộ số hồ sơ bệnh án

có thể tiếp cận được để có thể tính phân tích số

liệu theo đồ thị Kaplan Meier

Thu thập và xử lí số liệu

Số liệu của bệnh nhân được thu thập bằng

phiếu thu thập và được nhập vào phần mềm

EpiData 3.1 và được phân tích bằng phần

mềm Stata 12.1 Các số liệu định lượng được

biểu diễn giá trị trung bình và độ lệch chuẩn

hoặc trung vị và khoảng Các số liệu định tính

được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm Sử dụng

các phép kiểm định: chi bình phương với biến

định tính và danh định; t-test với biến định

lượng có phân phối chuẩn; Mann-Whitney với

biến định lượng không có phân phối chuẩn;

Hồi quy Logistic (đơn/đa biến); Hồi quy Cox

và kiểm định log-rank

KẾT QUẢ

581 bệnh nhân đã được phẫu thuật sủa van 3

lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá, trong đó

có 279 bệnh nhân được phẫu thuật sửa van 3 lá kèm đặt vòng van (48,02%) và 302 bệnh nhân tạo hình không đặt vòng van (51,97%) Các bệnh nhân được theo dõi với thời gian trung bình là 6,19 ± 3,62 năm Sau phẫu thuật số lượng bệnh nhân tử vong là 36 ca (6,19%) với các nguyên nhân gây tử vong như suy tim nặng (12/36), sốc nhiễm trùng (6/36), các nguyên nhân khác đơn lẻ: block nhĩ thất độ 3; vỡ thất trái; suy thận nặng Hầu hết ở các đối tượng bị tử vong đều có

ít nhất 2 triệu chứng đi kèm suy tim hoặc sốc nhiễm trùng

Những yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan đến việc chỉ định kỹ thuật can thiệp phẫu thuật điều trị hở van 3 lá (đặt vòng van hoặc tạo hình không vòng)

Chúng tôi tiến hành khảo sát những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa 2 nhóm để xác định những yếu tố khác biệt có ý nghĩa thống kê để tiến hành khảo sát chỉ số OR đơn biến và đa biến Kết quả ghi nhận nhóm bệnh nhân được đặt vòng van có rất nhiều đặc điểm tình trạng bệnh nặng hơn so với nhóm được tạo hình không vòng van và kết quả được trình bày

ở bảng 1

Bảng 1: So sánh các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa 2 nhóm bệnh nhân

Tổng số bệnh nhân (n=581) Vòng van (n=279) Tạo hình không vòng (n=302) Giá trị p <0,05

Tổn thương van 2 lá

Hở van 2 lá 63 (22,58%) 39 (12,91%) 0,001

Hẹp van 2 lá 83 (29,75%) 124 (41,06%)

Hẹp và hở phối hợp 133 (47,67%) 139 (46,03%)

Loại hở van 3 lá

Hở cơ năng 90 (32,26%) 235 (77,81%) <0,0001

Hở thực thể 189 (67,74%) 67 (22,19%)

Trang 4

Tổng số bệnh nhân (n=581) Vòng van (n=279) Tạo hình không vòng (n=302) Giá trị p <0,05

Đường kính vòng van 3 lá (mm) trung bình 39,37 ± 4,79 36,17 ± 4,41 <0,0001

Ghi chú: RCT=chỉ số tim/ngực; NYHA= phân độ suy tim theo Hiệp hội tim mạch New York; dVG= đường kính thất trái tâm trương; sVG = đường kính thất trái tâm thu; EF = phân suất tống máu; VD = đường kính thất phải; OG = đường kính nhĩ trái; PAPS = Áp lực động mạch phổi tâm thu

Bảng 2: Kết quả xác định chỉ số OR của các yếu tố

liên quan chỉ định kỹ thuật can thiệp van 3 lá (đặt

vòng hay tạo hình không vòng van)

1 Rung nhĩ 2,60 1,82 1,22 – 2,72 0,003

2 Hở van 3 lá

thực thể 7,36 5,72 3,89 – 8,42 <0,001

3 Mức độ hở van

3 lá (>2) 6,24 3,11 1,36 – 7,09 0,007

4 NYHA (> III) 3,31 2,44 1,51 – 3,94 <0,001

(*) Hồi quy đa biến

Theo bảng 2, kết quả khảo sát chỉ số OR theo phân tích hồi quy đa biến ghi nhận những yếu tố liên quan đến việc chỉ định đặt vòng van khi bệnh nhân có các đặc điểm: rung nhĩ (OR=1.82);

hở van 3 lá thực thể (OR=5.72); mức độ hở van 3

lá trên 2+ (OR=3.11) và mức độ NYHA trên II (OR=2.44)

Kết quả can thiệp hở van 3 lá trước và sau phẫu thuật giữa 2 nhóm

Cải thiện mức độ hở van 3 lá

Bảng 3: Cải thiện mức độ hở van 3 lá của 2 nhóm trước và sau phẫu thuật

Mức độ hở van 3

Ở nhóm đặt vòng van, sự cải thiện có ý nghĩa

thống kê (p<0.001) với tỷ lệ mức độ hở van 3 lá

trung bình trước phẫu thuật là 3.34 giảm còn

1.83 So sánh cải thiện mức độ hở van 3 lá của

nhóm tạo hình có vòng van tốt hơn nhóm tạo hình không vòng van, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.001)

Trang 5

Cải thiện NYHA

Bảng 4: Cải thiện mức độ NYHA của 2 nhóm trước và sau phẫu thuật

Mức độ

NYHA

Sự cải thiện về NYHA của 2 nhóm đều có sự

khác biệt trước và sau phẫu thuật, có ý nghĩa

thống kê (p<0.001) Tuy nhiên, so sánh giữa 2

nhóm thì không có sự khác biệt thống kê (p=0.64)

Cải thiện áp lực ĐMP tâm thu

Bảng 5: Cải thiện áp lực ĐMP tâm thu của nhóm 1 & 2 trước và sau phẫu thuật

Áp lực ĐMP tâm thu

Sự cải thiện về áp lực ĐMP tâm thu của 2

nhóm trước và sau phẫu thuật đều có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.001) Tuy nhiên, so sánh giữa 2 nhóm thì không có sự khác biệt thống kê (p= 0.85)

Kết quả can thiệp hở van ba lá theo dõi lâu dài sau phẫu thuật giữa 2 nhóm

Mức độ hở van ba lá (>2+) theo thời gian

Hình 1: Xác suất tích lũy hở van 3 lá (>2+) giữa 2 nhóm theo thời gian

Bảng 6: Xác suất hở van 3 lá (>2+) tại các thời điểm giữa 2 nhóm

Thời điểm theo dõi hở

van 3 lá (>2+)

Trang 6

Thời điểm theo dõi hở

van 3 lá (>2+)

Xác suất hở van ba lá (>2+) của nhóm đặt

vòng van theo thời gian thấp hơn so với ở nhóm

tạo hình không vòng với HR=0.47 (95%CI, 0.37 –

0.60 và p<0.001) nghĩa là những bệnh nhân được

đặt vòng van ba lá thì nguy cơ hở van ba lá (>2+) giảm 1,6 lần so với những bệnh nhân được tạo hình van ba lá không đặt vòng

Mức độ NYHA (tăng 1 độ) theo thời gian giữa nhóm 1 và 2

Hình 2: Xác suất tích lũy NYHA tăng 1 độ giữa nhóm 1và 2 theo thời gian

Bảng 7: Xác suất tăng NYHA 1 độ tại các thời điểm giữa 2 nhóm

Xác suất tăng NYHA của nhóm đặt vòng van

theo thời gian thấp hơn so với ở nhóm tạo hình

không vòng với HR=0.72 (95%CI, 0.56 – 0.93 và

p=0.01) nghĩa là những bệnh nhân được đặt

vòng van 3 lá thì nguy cơ tăng NYHA giảm 1,5 lần sơ với những bệnh nhân được tạo hình không vòng

Trang 7

Áp lực ĐMP tăng (>50 mmHg) theo thời gian giữa 2 nhóm

Hình 3: Xác suất tích lũy tăng áp lực ĐMP (>50 mmHg) giữa 2 nhóm theo thời gian

Bảng 8: Xác suất tăng áp lực ĐMP (>50 mmHg) tại các thời điểm giữa 2 nhóm

Thời điểm theo dõi tăng áp lực

ĐMP tâm thu >50 mmHg

Xác suất tăng áp lực ĐMP giữa 2 nhóm

(p=0.97), nghĩa là nguy cơ tăng áp lực ĐMP của

bệnh nhân được đặt vòng van bằng với bệnh

nhân được tạo hình van không vòng van

Những yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng

liên quan đến kết quả lâu dài của tiến triển

hở van 3 lá

Kết quả điều trị lâu dài ghi nhận ở nhóm tạo

hình có đặt vòng van tốt hơn nhóm tạo hình

không vòng van ở kết quả giảm nguy cơ tái hở van 3 lá (>2+) và nguy cơ tăng NYHA thêm 1 độ

Để xác định yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng ban đầu góp phần vào kết quả lâu dài, chúng tôi sử dụng mô hình Cox để xác định chỉ số nguy cơ

HR Kết quả ghi nhận được trình bày ở bảng 9

Bảng 9: Chỉ số nguy cơ HR liên quan đến kết quả điều trị lâu dài

Chỉ số HR (95%CI, giá trị p) giữa nhóm đặt vòng

và nhóm tạo hình không vòng

Hở van 3 lá thực thể 1,95 (1,5 – 2,54, p<0,001) 1,98 (1,47 – 2,66, p<0,001)

Trang 8

Chỉ số HR (95%CI, giá trị p) giữa nhóm đặt vòng

và nhóm tạo hình không vòng

VD > 35 mm 1,6 (1,04 – 2,45, p=0,03) 1,7 (1,08 – 2,67,p=0,02)

Hở van 3 lá thực thể liên quan đến việc tăng

nguy cơ hở van 3 lá (>2+) và tăng NYHA 1 độ

sau thời gian theo dõi trên 10 năm và kết quả

phân tầng theo nhóm tạo hình không vòng van

và tạo hình có đặt vòng van thì ghi nhận nhóm

tạo hình không vòng van có nguy cơ tăng hở van

3 lá (>2+) là 1.95 lần với HR=1.95 (p<0.001), tăng

NYHA 1 độ là 1.98 lần với HR=1.98 (p<0.001)

Tương tự, đường kính thất phải (VD) lớn

(>35mm) trước phẫu thuật làm gia tăng nguy cơ

hở van 3 lá (>2+) là 1.6 lần với HR=1.6 (p=0.03),

tăng NYHA 1 độ là 1.7 lần với HR=1.7 (p=0.02)

Mức độ hở van 3 lá (3+ và 4+) chỉ có liên quan

đến nguy cơ tăng NYHA 1 độ là 1,64 lần với

HR=1,64 (p=0,03)

BÀN LUẬN

Đánh giá kết quả điều trị tại thời điểm xuất

viện

Sau phẫu thuật, mức độ hở van 3 lá (>2+) của

2 nhóm có đặt vòng van 9.52%, tạo hình 17.13%,

và mức độ hở trung bình của nhóm vòng van

nhỏ hơn nhóm tạo hình không vòng, sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.001) Trong khi đó,

tác giả McCarthy lại ghi nhận tỷ lệ hở van 3 lá

(>2+) tương tự giữa 2 nhóm đặt vòng van là 15%,

tạo hình không có vòng van là 14% sau 1 tháng

phẫu thuật(8) Kết quả của McCarthy khác với kết

quả của chúng tôi Tuy nhiên, điều này có thể do

tình trạng bệnh của dân số nghiên cứu nặng nên

chúng tôi ghi nhận được hiệu quả thay đổi rõ rệt

Còn tác giả Chang đã ghi nhận tình trạng hở van

ba lá sau phẫu thuật xấu hơn ở nhóm tạo hình

không vòng so với nhóm có đặt vòng van

(p=0.05) giống với kết quả của chúng tôi ghi

nhận(2)

Đánh giá kết quả can thiệp phẫu thuật

bệnh hở van 3 lá trong thời gian lâu dài

Kết quả của chúng tôi ghi nhận theo thời

gian tỷ lệ tái hở van 3 lá của nhóm có vòng thấp hơn nhóm tạo hình không có còng van, ở thời điểm 5 năm ở nhóm có vòng là 24% và nhóm không vòng là 34% và ở thời điểm 10 năm nhóm

có vòng là 42% so với nhóm không vòng là 74% Kết quả của chúng tôi cũng tương tự như các tác giả nghiên cứu trên thế giới, chẳng hạn Tang ghi nhận tỷ lệ tái hở van 3 lá thấp hơn ở bệnh nhân thuộc nhóm tạo hình có vòng Ở nhóm có vòng,

tỷ lệ tái hở van ba lá là 30% từ vừa đến nặng Ở nhóm không vòng, 36% từ vừa đến nặng Sự khác biệt ít giữa 2 nhóm suốt 15 năm theo dõi (12) Tương tự, tác giả Chang ghi nhận tỷ lệ không tái hở van 3 lá nhóm có vòng 71.9% so với nhóm không vòng 86.8% (p=0.039) (2) Theo tác giả McCarthy thì xác suất hở van 3 lá ổn định theo thời gian ở cả 2 nhóm như nhau, tạo hình có vòng (p=0.7) và không vòng (p=0.05) Tuy nhiên, tốc độ hở van ba lá thì đều gia tăng nhanh ở nhóm bệnh nhân không đặt vòng (p=0.002) và có vòng (p=0.009), việc tái hở van 3 lá muộn không chỉ liên quan đến yếu tố cơ địa bệnh nhân mà còn liên quan đến loại kỹ thuật can thiệp van 3

lá, loại có vòng xuất hiện tình trạng hở muộn hơn so với loại không vòng(8)

Tỷ lệ ước tính tăng NYHA thêm 1 độ ở thời điểm 5 năm của nhóm có vòng là 24% và nhóm không vòng là 28% Tương tự với tác giả Tang ghi nhận nhóm có vòng NYHA tăng có tỷ lệ 20%

và nhóm không vòng là 25%(12) Xác suất tăng NYHA của nhóm đặt vòng van theo thời gian thấp hơn so với ở nhóm tạo hình không vòng với HR=0.72 (95%CI, 0.56 – 0.93 và p=0.01) nghĩa là những bệnh nhân được đặt vòng van 3 lá thì nguy cơ tăng NYHA giảm 1,5 lần sơ với những bệnh nhân được tạo hình không vòng

Ngoài ra, chúng tôi còn ước lượng khi bệnh nhân được tạo hình van ba lá có vòng thì giảm nguy cơ liên quan đến tái hở van 3 lá HR=0.47 (95%CI, 0.37 – 0.60 và p<0.001), NYHA so với

Trang 9

nhóm không vòng HR=0.72 (95%CI, 0.56 – 0.93

và p=0.01), mà các nghiên cứu trước đây chưa

ghi nhận

Những yếu tố liên quan góp phần vào kết

quả điều trị lâu dài giữa 2 nhóm

Hở van 3 lá thực thể liên quan đến việc tăng

nguy cơ hở van 3 lá (>2+) và tăng NYHA 1 độ

sau thời gian theo dõi trên 10 năm và kết quả

phân tầng theo nhóm tạo hình không vòng van

và tạo hình có đặt vòng van thì ghi nhận nhóm

tạo hình không vòng có nguy cơ tăng hở van 3 lá

(>2+) là 1.95 lần với HR=1.95 (p<0.001), tăng

NYHA 1 độ là 1.98 lần với HR=1.98 (p<0.001)

Tương tự, đường kính thất phải (VD) lớn

(>35mm) trước phẫu thuật làm gia tăng nguy cơ

hở van 3 lá (>2+) là 1.6 lần với HR=1.6 (p=0.03),

tăng NYHA 1 độ là 1.7 lần với HR=1.7 (p=0.02)

Mức độ hở van 3 lá (3+và 4+) chỉ có liên quan

đến nguy cơ tăng NYHA 1 độ là 1,64 lần với

HR=1.64 (p=0.03) Kết quả của chúng tôi ghi

nhận được nhiều yếu tố hơn tác giả Sung Ho

Shinn,chỉ ghi nhận độ hở van 3 lá trước phẫu

thuật (trên 3+) có liên quan đến kết quả điều trị

lâu dài giữa 2 nhóm với HR=2.21, p=0.021(11)

KẾT LUẬN

Kết quả điều trị lâu dài của nhóm bệnh nhân

được phẫu thuật tạo hình van ba lá kèm đặt

vòng van tốt hơn so với nhóm bệnh nhân được

tạo hình không đặt vòng van Khuyến cáo nên

sử dụng kỹ thuật đặt vòng van cho các bệnh

nhân có các yếu tố: rung nhĩ, hở van ba lá thực

thể, mức độ hở van ba lá vừa-nặng (> 2+),đường

kính thất phải lớn (>35mm), NYHA >2 trước

phẫu thuật để đảm bảo kết quả điều trị tốt về lâu

dài (trên 10 năm)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

regurgitation”, Heart 2007, 93 (2), pp 271 - 276

replacement Ann Thorac Surg,2006; 81(4):1317-23

complications”, Heart 2001, 86 (6), pp 715 - 721

mitral valve surgery”, J Heart Valve Dis 1992, 1 (1), pp 80 - 86

outcomes of severe tricuspid regurgitation: predictors of adverse clinical outcomes, Heart 2013 Feb;99(3):181-7

Y, Matsuo T et al De Vega annuloplasty and Carpentier-Edwards ring annuloplasty for secondary tricuspid regurgitation J Heart Valve Dis 2001;10:520–4

Srivastava, Is a tricuspid annuloplasty ring significantly better than a De Vega’s annuloplasty stitch when repairing severe tricuspid regurgitation?, Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery 15 (2012) 129–135

the Cosgrove-Edwards annuloplasty system”, Ann Thorac Surg 1997, 64 (1), pp 267 - 268

BW,Cosgrove DM, Blackstone EH Tricuspid valve repair: durability and risk factors for failure J Thorac Cardiovasc Surg 2004;127:674 –685

the adults, McGraw-Hill, New York, 2003, pp 1001 - 1015

Joyce, Kevin Greason, Harold Burkhart, John Stulak, Richard Daly, Rakesh Suri, Mayo Clinic, Division of Cardiovascular Surgery, Rochester, MN, USA, outcomes of ring versus suture annuloplasty for Tricuspid valve repair in patients undergoing mitral valve surgery: is There a difference? JACC March 12, 2013 Volume 61, Issue 10

Borger MA Tricuspid valve repair with an annuloplasty ring results in improved longterm outcomes Circulation 2006;114(Suppl I):I-577–81

Ngày nhận bài báo:

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

Ngày bài báo được đăng: 15/01/2015

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w