1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sử dụng GnRH đồng vận thay thế hCG trong khởi động trưởng thành noãn ở các chu kỳ kích thích buồng trứng bằng phác đồ GnRH đối vận

10 138 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 320,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả của sử dụng GnRH đồng vận thay hCG cho những bệnh nhân có nguy cơ cao hội chứng quá kích buồng trứng để khởi động trưởng thành noãn ở những chu kỳ sử dụng phác đồ GnRH đối vận.

Trang 1

SỬ DỤNG GnRH ĐỒNG VẬN THAY THẾ hCG TRONG KHỞI ĐỘNG TRƯỞNG THÀNH NOÃN Ở CÁC CHU KỲ KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG

BẰNG PHÁC ĐỒ GnRH ĐỐI VẬN

Giang Huỳnh Như *, Vương Thị Ngọc Lan **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của sử dụng GnRH đồng vận thay hCG cho những bệnh nhân có nguy cơ cao

HCQKBT để khởi động trưởng thành noãn ở những chu kỳ sử dụng phác đồ GnRH đối vận

Phương pháp: Đây là nghiên cứu báo cáo loạt ca Các bệnh nhân được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận

Vào ngày hCG, những bệnh nhân có > 20 nang >/=15mm và nồng độ E2 > 10000pg/mL được dùng 0,2mg triptorelin thay cho hCG để kích thích trưởng thành noãn Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau triptorelin Chuyển phôi tiến hành 48 tiếng sau chọc hút noãn Hỗ trợ giai đoạn hoàng thể với progesterone ngả âm đạo và tiêm bắp, estradiol uống từ ngày chọc hút noãn

Kết quả: Có 33 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu Số trứng chọc hút được là 20,27 ± 6,56 Tất cả bệnh

nhân đều được chuyển phôi tươi Tỉ lệ làm tổ là 18,61% Tỉ lệ thai lâm sàng và sẩy thai lần lượt là 45,5% (15/33)

và 6,06% (2/33) Không có bệnh nhân nào có HCQKBT

Kết luận: Sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn trong phác đồ GnRH đối vận an toàn

và hiệu quả trong dự phòng HCQKBT mà không ảnh hưởng đến kết quả TTTON

Từ khóa: GnRH đồng vận, GnRH đối vận, hội chứng quá kích buồng trứng

ABSTRACT

USE OF GnRH AGONIST INSTEAD OF hCG IN TRIGGERING FINAL OOCYTE MATURATION IN

GnRH ANTAGONIST PROTOCOL

Giang Huynh Nhu, Vuong Thi Ngoc Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 175 - 179

Objective: To investigate the efficacy of GnRH agonist instead of hCG in triggering final oocyte maturation

in GnRH antagonist protocol in patients at high risk of ovarian hyperstimulation.

Methods: This was a case series study which was conducted on 33 IVF patients at high risk of OHSS

Ovarian stimulation was performed with GnRH antagonist protocol On day of hCG, patients who had > 20 follicles >/= 15mm and E2 concentration > 10000 pg/mL received 0.2 mg triptorelin instead of hCG for triggering final oocyte maturation Oocyte retrieval was performed 36 hours after triptorelin administration Embryo transfer (ET) was performed 48 hours after oocyte retrieval Luteal phase was supported with vaginal and intramuscular progesterone, oral estradiol from the day of oocyte retrieval

Results: There were 33 cycles in 33 patients recruited in the study The number of oocytes retrieved was

20.27 ± 6.56 Fresh embryo transfer was done for all the patients in the study The implantation rate was 18.61% The clinical pregnancy and miscarriage rates were 45.5% (15/33), and 6.06% (2/33), respectively None of the

* Đơn vị Hỗ trợ sinh sản – IVFAS – Bệnh viện đa khoa An Sinh

** Bộ môn Phụ Sản – Khoa Y – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

patients in the study developed any form of OHSS

Conclusions: The use of GnRH agonist for triggering final oocyte maturation in the GnRH antagonist

ovarian hyperstimulation protocol could be a safe and effective method for OHSS prevention without affecting the reproductive outcomes

Keywords: GnRH agonist, GnRH antagonist, ovarian hyperstimulation syndrome

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng quá kích buồng trứng (HCQKBT)

là biến chứng nghiêm trọng trong kích thích

buồng trứng (KTBT) làm thụ tinh trong ống

nghiệm (TTTON) Khoảng 5 – 10% các chu kỳ

TTTON có HCQKBT, trong đó những trường

hợp nặng cần nhập viện chiếm 2 – 3% Human

chorionic gonadotropin (hCG) đã được chứng

minh là tác nhân quan trọng trong cơ chế bệnh

sinh của HCQKBT Trong TTTON, hCG thường

được sử dụng thay thế LH nội sinh để kích thích

sự trưởng thành noãn và tạo điều kiện cho thủ

thuật chọc hút noãn Do đó, một trong những

biện pháp tránh QKBT là không sử dụng hCG,

hoặc (1) hủy chu kỳ điều trị hoặc (2) kích thích

tạo đỉnh LH nội sinh gây trưởng thành noãn

Nghiên cứu cho thấy nguy cơ HCQKBT có

thể được loại trừ hoàn toàn trong phác đồ

GnRH đối vận bằng cách sử dụng GnRH đồng

vận để tạo đỉnh LH nội sinh thay cho hCG(6)

Trong phác đồ GnRH này, GnRH đối vận gây

tác động ức chế đỉnh LH nội sinh bằng cách

cạnh tranh với thụ thể của GnRH nội sinh ở

tuyến yên Sự gắn kết GnRH đối vận vào thụ thể

ở tuyến yên có đặc tính gắn kết nhanh và giải

phóng thụ thể cũng nhanh mà không gây điều

hòa giảm thụ thể Tận dụng đặc điểm này,

GnRH đồng vận được sử dụng trong chu kỳ

dùng phác đồ GnRH đối vận để kích thích tạo

đỉnh LH nội sinh gây trưởng thành noãn Tuy

nhiên, do thời gian bán hủy của LH nội sinh

ngắn, làm giảm đáng kể lượng gonadotrophins

phóng thích từ tuyến yên, từ đó làm giảm hoạt

động của hoàng thể và tiêu hủy hoàng thể sớm

Do đó, trong những nghiên cứu ban đầu về vấn

đề này cho thấy gây trưởng thành noãn bằng

GnRH đồng vận làm giảm tỉ lệ có thai và tăng tỉ

lệ sẩy thai(3) Nhiều tác giả đã đề nghị trữ phôi

toàn bộ trong những chu kỳ này và thực hiện

chuyển phôi trữ trong chu kỳ kế tiếp(2) Để hạn chế việc phải trữ phôi toàn bộ và nâng cao tỉ lệ

có thai, một số phác đồ hỗ trợ giai đoạn hoàng thể đã và đang được nghiên cứu nhằm đem lại tỉ

lệ có thai tương đương so với gây trưởng thành noãn bằng hCG

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng GnRH đồng vận thay hCG khởi động trưởng thành noãn ở những chu kỳ KTBT bằng GnRH đối vận có nguy cơ cao QKBT nhằm đánh giá hiệu quả dự phòng QKBT cũng như tỉ lệ có thai trên những chu kỳ chuyển phôi tươi

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả của sử dụng GnRH đồng vận thay hCG cho những bệnh nhân có nguy cơ cao HCQKBT để khởi động trưởng thành noãn

ở những chu kỳ sử dụng phác đồ GnRH đối vận

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu: Báo cáo loạt ca

Trong thời gian từ 4/2009 – 10/2010, chúng tôi đã sử dụng GnRH đồng vận để khởi động trưởng thành noãn cho 33 trường hợp TTTON được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận có nguy cơ cao HCQKBT

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Tất cả những bệnh nhân được KTBT để làm TTTON bằng phác đồ GnRH đối vận có > 20 nang 15 mm và nồng độ E2 trên 10000 pg/ml vào ngày 9 của KTBT

Phương pháp tiến hành

Bệnh nhân được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận FSH được cho vào ngày 2 của vòng kinh Liều FSH tái tổ hợp được chỉ định tùy theo tuổi, nồng độ FSH cơ bản, số nang noãn thứ cấp đầu chu kỳ và BMI GnRH đối vận 0,25mg (Orgalutran 0,25mg) được cho vào ngày 6 của

Trang 3

kích thích buồng trứng Bệnh nhân được chẩn

đoán nguy cơ cao HCQKBT khi có > 20 nang

15mm và nồng độ E2 trên 10000 pg/ml vào ngày

tiêm hCG được sử dụng GnRH đồng vận thay

cho để gây trưởng thành noãn Bệnh nhân được

tiêm triptorelin 0,2mg (Diphereline 0,1mg) khi

có  3 nang  17mm trên siêu âm Liều tiêm

triptorelin cách liều tiêm GnRH đối vận cuối

cùng > 6 giờ Bệnh nhân được chọc hút noãn 36

giờ sau Chuyển phôi được thực hiện vào 2 ngày

sau chọc hút noãn

Để hỗ trợ giai đoạn hoàng thể, bệnh nhân

được sử dụng 6mg estradiol/ngày (Progynova

2mg) phối hợp với progesterone bơm âm đạo

(Crinone 8% gel) 2 ống/ngày kèm progesterone

tiêm bắp 100 mg/ngày từ ngày chọc hút noãn

Thời gian sử dụng thuốc kéo dài 14 ngày sau

chuyển phôi Nếu bệnh nhân có thai (βhCG

dương tính), bệnh nhân sẽ được tiếp tục sử

dụng liều thuốc trên kéo dài đến khi thai 7 tuần

Thử thai được tiến hành 14 ngày sau chuyển

phôi (định lượng beta hCG trong máu) Thai lâm

sàng được chẩn đoán khi túi thai trong tử cung

có phôi thai và hoạt động tim thai vào thời điểm

3 tuần sau thử thai

KẾT QUẢ

Từ tháng 4/2009 đến tháng 10/2010 có 33

trường hợp sử dụng phác đồ GnRH đối vận có

nguy cơ cao HCQKBT được khởi động trưởng

thành noãn bằng GnRH đồng vận Đặc điểm

bệnh nhân được mô tả trong bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình 33,76 ± 3,35

Chỉ định TTTON

Bảng 2: Đặc điểm chu kỳ điều trị

Liều đầu FSH sử dụng 150 ± 73,95 Tổng liều FSH sử dụng 1833,33 ± 708,26

Số nang noãn > 15mm 23,67 ± 5,78 Nồng độ E2 14286,42 ± 3412,54

Bảng 3: Kết quả điều trị

Số noãn CH trung bình 20,27 ± 6,56

Số noãn trưởng thành 16,67 ± 6,63

Số phôi chuyển 3,91 ± 0,77

Thai lâm sàng 45,45% (15/33)

BÀN LUẬN

Nghiên cứu này cho thấy sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn trong phác đồ GnRH đối vận ở những bệnh nhân có nguy cơ cao HCQKBT làm giảm nguy cơ HCQKBT ở những bệnh nhân này Hơn thế nữa, phác đồ này không làm ảnh hưởng lên tỉ lệ làm

tổ và thai lâm sàng nếu như bệnh nhân được hỗ trợ giai đoạn hoàng thể và giai đoạn sớm của thai kỳ phù hợp

Cho đến hiện tại, có nhiều biện pháp đã được áp dụng để dự phòng HCQKBT, nhưng chưa biện pháp nào có thể hạn chế hoàn toàn biến chứng này Bản thân phác đồ GnRH đối vận cũng làm giảm nguy cơ HCQKBT, nhưng cũng không thể loại bỏ được hội chứng này Ưu điểm lớn nhất của phác đồ GnRH đối vận là có thể sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn thay cho hCG - điều kiện đủ

để gây nên HCQKBT - do tác dụng cạnh tranh

ức chế của phác đồ này vẫn cho phép GnRH đồng vận tác dụng lên tuyến yên gây ra đỉnh

LH và FSH Mặc dù trên lý thuyết, sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn không thể giúp dự phòng HCQKBT muộn, trong nghiên cứu của chúng tôi cũng như các tác giả khác không ghi nhận được trường hợp HCQKBT nào khi sử dụng phác đồ này(0, 5)

Trang 4

Thông thường, khi dùng GnRH để kích

thích sự trưởng thành noãn, GnRH đồng vận

được sử dụng 12 giờ sau lần tiêm cuối cùng của

GnRH đối vận(1) Nồng độ LH và FSH lần lượt

bắt đầu tăng 4 và 12 giờ sau khi sử dụng GnRH

đồng vận Mặc dù vậy, đỉnh LH của GnRH

đồng vận khác với đỉnh LH trong chu kỳ tự

nhiên Đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên gồm có 3

pha, kéo dài trong 48 giờ trong khi đỉnh LH của

GnRH đồng vận chỉ gồm 2 pha, kéo dài trong

24-36 giờ(4) Những giả thuyết ban đầu cho là với

thời gian hoạt động ngắn của LH nội sinh có thể

sẽ làm giảm chất lượng của noãn và sự phát

triển của phôi Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho

thấy tỉ lệ noãn MII thu được, tỉ lệ thụ tinh, chất

lượng phôi đều như nhau giữa 2 nhóm(3) Trong

nghiên cứu của chúng tôi, do những đặc thù

riêng nên bệnh nhân thường tiêm thuốc KTBT

vào buổi chiều, và GnRH đồng vận được sử

dụng vào buổi tối, sao cho khoảng cách giữa lần

tiêm thuốc KTBT sau cùng và lần tiêm GnRH

đồng vận cách nhau > 6 giờ Tuy nhiên, kết quả

nghiên cứu cũng rất khả quan về số noãn thu

được, số noãn MII, tỉ lệ thụ tinh và số phôi tốt

Đồng tình với các tác giả khác, nghiên cứu

của chúng tôi góp phần khẳng định về khả năng

của GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành

noãn sau cùng Mặc dù vậy, đã có những quan

ngại về sự yếu kém của đỉnh nội tiết tạo ra bởi

GnRH đồng vận làm ảnh hưởng lên giai đoạn

hoàng thể, từ đó, ảnh hưởng lên kết quả

TTTON Những nghiên cứu lâm sàng ngẫu

nhiên có nhóm chứng đầu tiên cho thấy tỉ lệ có

thai ở chu kỳ chuyển phôi tươi trong nhóm khởi

động trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận

thấp hơn nhiều so với sử dụng hCG(3, 7) Một số

tác giả đề nghị nên trữ phôi toàn bộ và thực hiện

chuyển phôi trữ lạnh ở những chu kỳ sau(2) dù

thực tế lâm sàng cho thấy giải pháp này không

thuận tiện cho bệnh nhân và góp phần làm tăng

chi phí điều trị

Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên cho

thấy tỉ lệ có thai thấp khi hỗ trợ giai đoạn hoàng

thể tương tự những phác đồ hỗ trợ hoàng thể

cho bệnh nhân xin trứng và chuyển phôi trữ(3, 7)

Tuy nhiên, không thể xem những trường hợp khởi động bằng GnRH đồng vận giống chuyển phôi trữ hay xin trứng Giai đoạn sớm của pha hoàng thể ở bệnh nhân xin trứng cũng như chuyển phôi trữ nồng độ steroid sinh lý vẫn có giống như trong những chu kỳ tự nhiên Ngược lại, nồng độ steroid ở giai đoạn hoàng thể trong những chu kỳ kích thích tăng cao sẽ phản hồi

âm lên trục hạ đồ – tuyến yên – buồng trứng, giảm đáng kể sự tiết LH ảnh hưởng lên chức năng hoàng thể và nội mạc tử cung(5,8) Trong nghiên cứu của Humaidan và Kolibianakis, tác giả chỉ sử dụng progesterone đặt âm đạo và estradiol uống từ ngày chọc hút trứng cho đến ngày thử thai(3) Cho đến hiện tại, đường dùng hiệu quả nhất của cả progesterone và estradiol vẫn còn nhiều tranh cãi Sử dụng progesterone tiêm bắp và estradiol dán qua da được ưa chuộng hơn trong phác đồ sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn do pha hoàng thể trong trường hợp này bị khiếm khuyết và sử dụng estradiol dán qua da tránh được sự chuyển hóa của thuốc tại gan Nghiên cứu của Engmann sử dụng phối hợp estradiol dán qua da và progesterone tiêm bắp 75mg/ngày trong pha hoàng thể ở 30 bệnh nhân nguy cơ QKBT ghi nhận không có trường hợp QKBT nào và tỉ lệ thai lâm sàng cao(1) Do đó, hỗ trợ giai đoạn hoàng thể đóng vai trò quan trọng quyết định sự thành công trong chu kỳ phôi tươi Trong nghiên cứu này, do điều kiện thời tiết Việt Nam nóng và ẩm, không thuận lợi cho dùng estradiol dán, để hỗ trợ giai đoạn hoàng thể, chúng tôi sử dụng estradiol đường uống liều cao kết hợp với progesterone tiêm bắp 100mg/ngày Chúng tôi thực hiện chuyển phôi tươi cả 33 trường hợp và cho thấy tỉ lệ có thai lâm sàng tương đối khả quan 45,45% (15/33) và không có trường hợp nào sẩy thai trước 12 tuần Với kết quả bước đầu đạt được, tại trung tâm chúng tôi, phác đồ này đang được áp dụng cho tất cả các trường hợp xin – cho noãn để làm giảm nguy cơ HCQKBT cho người cho noãn đồng thời tránh được những ảnh hưởng bất lợi

Trang 5

(nếu có) của loại phác đồ này lên kết quả có thai

của người xin noãn

KẾT LUẬN

Sử dụng GnRH đồng vận thay hCG khởi

động trưởng thành noãn trong chu kỳ GnRH

đối vận là một giải pháp an toàn, hiệu quả tránh

QKBT ở những chu kỳ có nguy cơ cao QKBT

Hỗ trợ hoàng thể bằng cách tăng liều steroid

ngoại sinh có thể giúp duy trì tỉ lệ thành công

trên những chu kỳ phôi tươi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Engmann L, DiLuigi A, Schmidt D, Nulsen J, Maier D, Benadiva

C (2008) The use of gonadotropin-releasing hormone (GnRH)

agonist to induce oocyte maturation after cotreatment with

GnRH antagonist in high-risk patients undergoing in vitro

fertilization prevents the risk of ovarian hyperstimulation

syndrome: a prospective randomised controlled study Fertility

and Sterility, 89:84–91

2 Griesinger G, Von Otte S, Schroer A, Ludwig AK, Diedrich K,

cryopreservation of all pronuclear oocytes after GnRH agonist

triggering of final oocyte maturation in patients at risk of

developing OHSS: a prospective observational proof-of-concept

study Human Reproduction, 22:1348–1352

Grøndahl ML, Westergaard LG, Yding Andersen C (2005) GnRH agonist (Buserelin) or hCG for ovulation induction in GnRH antagonist IVF/ICSI cycles: a prospective randomised study Human Reproduction, 20:1213–1220

4 Humaidan P, Papanikolaou E.G, and Tarlatzis B.C (2009) GnRHa to trigger final oocyte maturation: a time to reconsider Human Reproduction, 24: 2389–2394

(2010) 1,500 IU human chorionic gonadotropin administered at oocyte retrieval rescues the luteal phase when gonadotropin-releasing hormone agonist is used forovulation induction: a prospective, randomized controlled study Fertility and Sterility, 93: 847-854

6 Itskovitz J, Boldes R, Levron J, Erlik Y, Kahana L, Brandes JM (1991) Induction of preovulatory luteinizing hormone surge and prevention of ovarian hyperstimulation syndrome by gonadotropin-releasing hormone agonist Fertility and Sterility, 56:213–220

Steirteghem A, Devroey P, Diedrich K, Griesinger G (2005) A lower ongoing pregnancy rate can be expected when GnRH agonist is used for triggering final oocyte maturation instead of hCG in patients undergoing IVF with GnRH antagonist Human Reproduction, 20:2887–2892

8 Tavaniotou A, Devroey P (2006) Luteal hormonal profile of oocyte donors stimulated with a GnRH antagonist compared with natural cycles Reprod Biomed Online, 3:326–330

Trang 6

ÁP DỤNG KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH NOÃN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG

CÓ NGUY CƠ CAO QUÁ KÍCH BUỒNG TRỨNG

Phùng Huy Tuân * , Vương Thị Ngọc Lan **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kỹ thuật trưởng thành noãn trong những chu kỳ kích thích buồng trứng thụ

tinh ống nghiệm (TTTON) có nguy cơ cao quá kích buồng trứng (QKBT)

Phương pháp: Báo cáo loạt ca các trường hợp bệnh nhân kích thích buồng trứng TTTON có nguy cơ

cao QKBT được thực hiện IVM tại IVF Vạn Hạnh Bệnh nhân được kích thích buồng trứng (KTBT) bằng phác đồ down-regulation Nguy cơ cao QKBT được chẩn đoán khi bệnh nhân có trên 20 nang từ 10 - < 14mm trên 2 buồng trứng khi siêu âm và nồng độ estradiol > 2000 pg/ml vào ngày 6 của KTBT Bệnh nhân được dừng KTBT và chuyển sang thực hiện IVM Bệnh nhân được tiêm hCG 10.000 IU, sau đó, chọc hút lấy noãn non 36 giờ sau tiêm hCG Trưởng thành noãn được thực hiện trong 24 giờ, thụ tinh bằng kỹ thuật ICSI, chuyển phôi 2 ngày sau ICSI

Kết quả: Có 30 trường hợp nguy cơ cao QKBT được chuyển IVM Tuổi trung bình là 30,38 ± 3,1 Số

lượng noãn chưa trưởng thành thu được là 21,75 ± 9,13 Tỉ lệ trưởng thành noãn sau IVM là 72,3%, số phôi trung bình là 11,63 ± 8,51 Tất cả bệnh nhân đều được chuyển phôi, với tỉ lệ thai lâm sàng là 50% và không ghi nhận trường hợp QKBT nào

Kết luận: Áp dụng IVM cho các trường hợp nguy cơ cao QKBT an toàn và hiệu quả Chuyển IVM có thể là

một giải pháp tránh QKBT cho các trường hợp KTBT bằng phác đồ dài

Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm (TTTON), kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM), hội chứng

quá kích buồng trứng (QKBT)

ABSTRACT

RESCUE IN-VITRO MATURATION OF OOCYTES (IVM) IN STIMULATED IVF/ICSI CYCLES AT

HIGH RISK OF OVARIAN HYPERSTIMULATION

Phung Huy Tuan, Vuong Thi Ngoc Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 180 - 184

Objective: To assess the efficacy and safety of rescue IVM in stimulated IVF/ICSI cycles at high risk of

developing ovarian hyperstimulation syndrome (OHSS)

Method: This was a case-series study involving the cycles undergoing ovarian stimulation for IVF/ICSI

treatment and having high risk of OHSS at IVF VanHanh Ovarian stimulation was performed with

down-regulation protocol High risk of OHSS was defined as cycles had >/= 20 follicles of 10 - < 14 mm in both ovaries

and estradiol level was over 2000 pg/ml on day 6 of stimulation Cycles had ovarian stimulation stopped and was converted to IVM hCG 10,000 IU was administered Immature oocyte pick-up was performed 36 hours after hCG IVM process lasted for 24 hours, insemination was done by ICSI, embryo transfer was 2 days after ICSI

Results: Thirty cycles at high risk of OHSS were converted to IVM Mean age was 30.38 ± 3.1 Mean

* IVF Vạn Hạnh – BV Vạn Hạnh ** Bộ môn Phụ Sản - Đại học Y Dược TPHCM

Trang 7

number of immature oocytes retrieved was 21.75 ± 9.13 The maturation rate was 72.3%, mean number of embryos was 11.63 ± 8.51 All cycles had fresh embryo transfer Clinical pregnancy was achieved in 15 cycles (50%) None of the patients developed any forms of OHSS

Conclusion: Rescue IVM is safe and effective IVM could be an alternative for the prevention of OHSS in

IVF/ICSI cycles stimulated with down-regulation protocol having high risk of OHSS

Key words: invitro fertilization (IVF), invitro maturation of oocytes (IVM), ovarian hyperstimulation

syndrome (OHSS)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng quá kích buồng trứng (QKBT) là

một trong những biến chứng thường gặp của

kích thích buồng trứng (KTBT) Trong các chu

kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), tỉ lệ

QKBT xảy ra khoảng từ 5 – 10% với QKBT nặng

cần nhập viện từ 2 – 3%(4,6) QKBT là tình trạng 2

buồng trứng đáp ứng quá mức với FSH làm các

nang noãn ở 2 buồng trứng phát triển nhiều, 2

buồng trứng căng to, nồng độ E2 tăng cao và

bệnh cảnh của tràn dịch đa màng Cơ chế bệnh

sinh của QKBT chưa được hiểu rõ, tuy nhiên

nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa

nồng độ hCG và VEGF (vascular endothelial

growth factor) do tế bào hạt tiết ra gây tăng tính

thấm thành mạch và tràn dịch đa màng(10)

Dự phòng QKBT là một vấn đề cần được

quan tâm trong quá trình KTBT Dự phòng chủ

động được ưu tiên hàng đầu với các biện pháp

có thể thực hiện như sử dụng liều đầu FSH phù

hợp để không gây phát triển quá nhiều nang

noãn hay siêu âm và định lượng nội tiết theo dõi

sự phát triển nang noãn cẩn thận từ đó điều

chỉnh liều FSH thích hợp Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, đáp ứng buồng trứng không thể

tiên đoán được đưa đến nguy cơ QKBT Một số

biện pháp được đưa ra để dự phòng thụ động

QKBT trong các chu kỳ nguy cơ cao QKBT như

coasting, trữ phôi toàn bộ và chuyển phôi trữ

chu kỳ sau, sử dụng GnRH đồng vận thay cho

hCG để gây sự trưởng thành của noãn trong các

chu kỳ KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận, sử

dụng đồng vận dopamin, truyền dung dịch cao

phân tử Các biện pháp dự phòng thụ động

giúp giảm được QKBT nhưng không có một

phương pháp nào là dự phòng tuyệt đối được

QKBT ở những trường hợp nguy cơ cao Không

tiêm hCG và hủy chu kỳ TTTON ở những bệnh nhân nguy cơ cao QKBT có thể tránh được QKBT tuy nhiên biện pháp này thường ít được bệnh nhân chấp nhận do đã tốn chi phí điều trị trước đó

Trưởng thành trứng non (In vitro maturation – IVM) là kỹ thuật nuôi trứng non giai đoạn GV đến giai đoạn trưởng thành MII trong in vitro Noãn sau khi đã trưởng thành sẽ được thụ tinh và nuôi cấy như các trường hợp TTTON bình thường Ưu điểm của kỹ thuật này

là tránh được QKBT do không hoặc chỉ sử dụng

ít thuốc KTBT IVM thường được chỉ định cho những bệnh nhân buồng trứng đa nang với số nang noãn thứ cấp nhỏ nhiều hơn bình thường

sẽ có nguy cơ QKBT khi KTBT làm TTTON(1) Bệnh nhân không KTBT hoặc chỉ KTBT nhẹ, siêu

âm theo dõi và chọc hút trứng khi có khoảng 10 nang < 10mm Dựa trên kỹ thuật và ưu điểm của IVM là chọc hút nang nhỏ, nuôi cấy cho trưởng thành và tránh QKBT, chúng tôi tiến hành chuyển IVM trong những chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm có nguy cơ QKBT cao nhằm dự phòng QKBT

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả chuyển IVM trong những chu kỳ TTTON với nguy cơ QKBT cao

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Báo cáo loạt ca

Phương pháp tiến hành

Chúng tôi tiến hành hồi cứu 30 trường hợp KTBT trong TTTON được chuyển sang IVM do nguy cơ QKBT cao từ 01/2008 đến 12/2009 tại bệnh viện Vạn Hạnh

Trang 8

Tất cả bệnh nhân được chỉ định làm TTTON

và tiến hành KTBT bằng phác đồ dài sử dụng

GnRH agonist từ ngày thứ 21 của chu kỳ trước

trong 14 ngày, sau đó kết hợp với FSH tái tổ

hợp Liều FSH được chỉ định tùy theo tuổi, nồng

độ FSH cơ bản, số nang thứ cấp đầu chu kỳ

(AFC) Trong quá trình theo dõi nang noãn, nếu

bệnh nhân có trên 20 nang từ 10mm đến dưới

14mm trên 2 buồng trứng khi siêu âm và nồng

độ estradiol > 2000 pg/ml vào ngày 6 của kích

thích buồng trứng thì được chẩn đoán là nguy

cơ cao QKBT và được chuyển IVM

Bệnh nhân được tiêm hCG 10.000 đơn vị

(Pregnyl 5000IU, Schering Plough) và được chọc

hút noãn khoảng 36 – 40 giờ sau hCG Noãn

được chọc hút bằng máy, sử dụng kim chuyên

dụng loại hai nòng (Kitazato, Nhật) Noãn được

trưởng thành trong môi trường IVM (Medicult,

Đan Mạch) trong điều kiện 6% CO2, 7% O2, 87%

N2 trong 25-26 giờ Chúng tôi sử dụng môi

trường cấy phức tạp nhiều thành phần, có pha

thêm huyết thanh của chính phụ nữ thực hiện

điều trị và FSH, hCG và hormon tăng trưởng

(GH) cần thiết cho sự phát triển của noãn Sau

đó kiểm tra số noãn trưởng thành vào 25 - 26 giờ

sau Noãn trưởng thành sẽ được tiêm tinh trùng

vào bào tương để thụ tinh Quá trình nuôi cấy

phôi diễn ra như trong các trường hợp TTTON

bình thường, sử dụng hệ thống môi trường của

Medicult Phôi được chuyển vào buồng tử cung

hai ngày sau đó Hỗ trợ làm tổ của phôi được

thực hiện bằng cách cho bệnh nhân sử dụng

phối hợp estradiol 8mg/ngày (Progynova 2mg,

Schering, uống) và progesterone 90mg/ngày

(dạng gel bơm âm đạo, Crinone 9%, Merck

Serono)

Thử thai 14 ngày sau chuyển phôi Nếu kết

quả thử thai dương tính, bệnh nhân sẽ được tiếp

tục sử dụng estradiol và progesterone như trên

đến khi thai được 12 tuần Siêu âm thai sẽ được

tiến hành 3 tuần sau thử thai

Các yếu tố đánh giá kết quả

Số noãn chọc hút trung bình, tỷ lệ noãn

trưởng thành sau nuôi cấy, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ

phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ QKBT

KẾT QUẢ

Từ 01/2008 đến 12/2009 có 30 trường hợp nguy cơ QKBT cao trong TTTON được chuyển sang IVM Đặc điểm bệnh nhân được mô tả ở

bảng 1

Bảng 1

Kết quả

Tuổi trung bình 30,38 ± 3,1

Chỉ định

Đặc điểm chu kỳ điều trị bảng 2

Bảng 2

Kết quả

Thời gian KTBT trung bình 6,25 ± 0,46

Tổng liều FSH 950 ± 307

Số nang < 14mm khi chuyển

sang IVM

29,5 ± 7,7 Nồng độ E2 khi chuyển sang

IVM

2185 ± 830

Kết quả 30 trường hợp chuyển sang IVM

được mô tả bảng 3

Bảng 3

Kết quả

Số noãn chọc hút 21,75 ± 9,13

Tỉ lệ noãn trưởng thành sau IVM (%) 72,36 ±10,70

Số phôi tốt 7,75 ± 5,00

Số phôi chuyển 4,38 ± 0,74

Tỉ lệ thai lâm sàng (%) 50

BÀN LUẬN Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ QKBT và thời điểm chuyển từ KTBT sang IVM

Đối với các phương pháp dự phòng QKBT thụ động như coasting, trữ phôi toàn bộ, sử dụng GnRH đồng vận thay cho hCG để gây sự

Trang 9

trưởng thành của noãn.v.v., bệnh nhân được

chẩn đoán có nguy cơ cao QKBT trong đa số các

nghiên cứu là khi siêu âm có trên 20 nang >

15mm và nồng độ E2 > 6000 – 10000 pg/ml Từ

đó, chúng tôi đề ra tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ

QKBT dựa vào số lượng nang noãn và kích

thước nang noãn trên siêu âm Bệnh nhân có

trên 20 nang từ 10mm đến dưới 14mm trên 2

buồng trứng khi siêu âm thì được chẩn đoán là

sẽ có nguy cơ cao QKBT và được chuyển IVM

Chúng tôi chủ động chuyển IVM khi nang <

14mm do những nang ≥ 14mm được xem là

những nang vượt trội, khi đó nang noãn tự phát

triển mà không cần gonadotrophins(3) và tế bào

hạt đã hình thành nhiều trong nang noãn sẽ

tăng tiết VEGF và dưới tác dụng của hCG sẽ gây

QKBT(10) Do đó, nếu chờ đến khi nang noãn

vượt trội ≥ 14mm mà chuyển sang IVM khi tiêm

hCG 10.000 IU thì không thể tránh được QKBT

Sự khác biệt chính giữa IVM và “chuyển

IVM” là thời điểm lấy noãn Đối với IVF bình

thường, thời điểm cho hCG khi có nang vượt

trội ≥18mm và nồng độ E2 trong máu đã đủ

Ngược lại trong IVM thời điểm chọc hút noãn

khi nang lớn nhất <10mm Nghiên cứu cho

thấy trong IVM chọc hút noãn khi nang lớn

nhất >10mm sẽ giảm đáng kể số noãn thu

được(2) Russell thấy số trứng thu được, tỉ lệ

trưởng thành, tỉ lệ thụ tinh giảm đáng kể ở

những chu kỳ có nang vượt trội >14mm(8)

Thường khi có nang vượt trội >14mm, một số

nang nhỏ hơn sẽ bị thoái hóa đi từ đó sẽ thu

được trứng ít hơn(1) Thời điểm lựa chọn

chuyển IVM của chúng tôi là khi nang lớn

nhất <14mm

Hiệu quả chuyển IVM ở các chu kỳ KTBT

làm IVF/ICSI

Trong 30 trường hợp chuyển IVM, tất cả

bệnh nhân đều được chọc hút noãn Số noãn

trung bình là 21,75 trứng Tỉ lệ noãn trưởng

thành là 72,36% Số phôi chuyển trung bình là

4,38 phôi Chúng tôi có 15 trường hợp có thai

lâm sàng chiếm tỉ lệ 50% Trong 30 trường hợp

trên không có trường hợp nào bị QKBT

Chưa có nhiều nghiên cứu chuyển từ IVF sang IVM trong dự phòng QKBT, chỉ có 1 vài trường hợp báo cáo trên thế giới Veeck và cộng

sự báo cáo 2 trường hợp có thai trong 15 trường hợp chuyển từ chu kỳ kích thích buồng trứng sang IVM nhưng cuối cùng bị sẩy thai(9) Một trường hợp thành công từ nuôi trưởng thành trứng GV ở bệnh nhân tiêm hCG khi nang vượt trội 16mm(7) Jaroudi báo cáo một trường hợp có thai lâm sàng khi chuyển sang IVM để dự phòng QKBT, tuy nhiên trường hợp này đã bi sẩy thai khi thai 24 tuần(5)

Ứng dụng của chuyển IVM trong các trường hợp KTBT làm IVF/ICSI

Nhược điểm của các phương pháp dự phòng QKBT thụ động là tỉ lệ thành công không cao (coasting), kéo dài thời gian điều trị (trữ phôi toàn bộ), phác đồ hỗ trợ hoàng thể chưa ổn định (GnRH đồng vận thay hCG gây trưởng thành noãn), cũng như không tránh được hoàn toàn tình trạng QKBT Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy chuyển IVM ở những chu kỳ KTBT TTTON có nguy cơ QKBT có thể được xem là phương pháp dự phòng QKBT chủ động, giúp bệnh nhân vẫn được chuyển phôi tươi thay vì phải trữ phôi toàn bộ trên những chu kỳ này mà vẫn tránh được hoàn toàn QKBT

và duy trì tỉ lệ thành công cao

KẾT LUẬN

Chuyển IVM trong những trường hợp KTBT

có nguy cơ cao QKBT bước đầu cho kết quả khả quan, tỉ lệ thai lâm sàng 50% và không có trường hợp QKBT nào được ghi nhận IVM có thể là một giải pháp hiệu quả tránh QKBT và tỉ

lệ có thai tốt cho các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng phác đồ dài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chian RC (2003) In vitro maturation of human oocytes Reprod BioMed Online; 8: 148-166

2 Cobo AC, Requena A, Neuspiller F et al (1999) Maturation in vitro of human oocytes from unstimulated cycles: selection of the optimal day for ovum retrieval based on follicular size Hum Reprod; 14: 1864-1868

3 Egbase PE, Al SM, Grudzinskas JG (1999) Early unilateral follicular aspiration compared with coasting for the prevention

Trang 10

of severe ovarian hyperstimulation syndrome: a prospective

randomized study Hum Reprod; 14: 1421-1425

hyperstimulation syndrome using agonists of gonadotrophin

releasing hormone for in vitro fertilization: a European series

and a proposal for prevention Fertil Steril; 53: 502-509

5 Jaroudi KA, Hollanders JMG et al (1997) Pregnancy after

transfer of embryos which were generated from in vitro

matured oocytes Hum Reprod 1997; 12: 857-859

6 MacDougall MJ, Tan SL, Jacobs HS (1992) In vitro fertilization

and the ovarian hyperstimulation syndrome Hum Reprod; 7:

579-600

7 Nagy Z, Cecile J, Liu J et al (1996) Pregnancy and birth after intracytoplasmic sperm injection of in vitro matured germinal vesicle stage oocytes: case report Fertil Steril; 65: 1047-1050

8 Russell JB (1999) Immature oocyte retrieval with in vitro oocyte maturation Curr Opin Obstet Gynecol;11: 289-296

9 Veeck L, Edwards J et al (1983) Maturation and fertilization of morphologically immature oocytes in a program og in vitro fertilization Fertil Steril; 39: 594-602

Y (2002) Human chorionic gonadotropin-induced ovarian hyperstimulation syndrome is associated with up-regulation of vascular endothelial growth factor J Clin Endocrinol Metab; 87: 3300–3308

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w